Đà Lạt, những hương vị khó quên
Đà
Lạt, những hương vị khó quên
Thiên Hương
Từ
ngày bước chân ra nước ngoài, mỗi lần trộn
dĩa rau xà lách hay sửa soạn rau ăn kèm với bún, với
thịt, tôi luôn ngùi ngùi nhớ đến những cây rau Đà Lạt. Không
những
chỉ nhớ thôi, mà còn thèm nữa, thèm lắm lận đó.
Tôi lớn
lên từ Đà Lạt, lớn lên giữa những hàng cây
dâm bụt, dưới những rặng thông. Mùi phấn thông,
mùi ngọc
lan, mùi hoa sói vẫn còn hoài trong luống phổi nên mỗi
lần thở, cái không khí Đà Lạt như vẫn còn
vương vương đâu đó. Và mỗi lần ăn một món gì lại
thấy
nhơ nhớ những hương vị xa xưa.
Mà thật,
có những thứ không thể thay được cái
thương hiệu Đà Lạt thưở nào, đối
với ngay cả những người không lớn lên từ Đà Lạt. Một
số
rau quả của Đà Lạt có những mùi vị không thể
tìm thấy ở Mỹ, Canada, ở Úc và ngay cả ở
các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam.

Đặc
biệt hơn cả là những cây rau xà lách cứng (cô-ron?). Chắc nhiều
người trong chúng ta đã có dịp thưởng thức
đĩa rau cô-ron trộn của Đà Lạt. Một dĩa rau
cô-ron trộn
với chút hành tây, cà chua đủ làm bữa ăn thêm ngon
miệng. Cái rau cô-ron Đà Lạt thật lạ, những cọng
rau trắng
ngần, dày cụi, dòn tan với những cánh lá xanh mát như
sương sa. Dĩa rau
xà lách trộn của Đà Lạt hình như có mặt trong
tất cả các tiệm ăn lớn trong nước,
ăn một lần dễ gì quên và sẽ khiến người
ta mang cảm giác thiêu thiếu nếu không có món này trong các bữa
ăn ê hề thịt cá.
Những
dĩa rau ăn kèm với bún bò, mì quảng ở Đà Lạt
luôn có món rau này, thái thật nhỏ lăn tăn nhưng cái
vị dòn, vị ngọt vẫn còn nguyên vẹn và làm hương
vị các món này của Đà Lạt không cách chi thay thế.
Bên cạnh những cây xà lách cứng đó, phải nhắc đến những cây xà lách búp Đà Lạt. Cây nào cây nấy tròn xoay, chắc nịch và nặng trĩu, những lá rau quấn quít lấy nhau. Những chiếc lá bên ngoài hơi xanh đậm một chút nhưng những chiếc lá bên trong mang màu vàng anh nõn nà thanh thoát, chưa ăn đã cảm nhận được vị ngọt ngào. Bàn ăn với món bún chả, phở áp chảo luôn rực rỡ và hấp dẫn khi có những dĩa rau xà lách búp xếp tròn tươi mát, trên là những cọng mùi, tía tô, canh giới, húng cây bên cạnh chén nước mắm chanh ớt tỏi thơm lừng.
Chén
nước mắm pha ở Đà Lạt cũng có hương
vị nổi bật nhờ cái vị chanh cốm và ớt
hiểm của Đà Lạt rất thơm và rất đậm
đà làm tăng thêm hương vị của các món ăn lên
nhiều.
Chanh
cốm, loại chanh chắc chỉ có ở Đà Lạt. Vỏ xanh và
dày, sần sùi
hơn những quả lime bên Úc và
Mỹ, không mềm mại
và nhẵn như loại chanh giấy của miền Tây hay Sài
Gòn. Lượng nước chanh
không nhiều hơn, nhưng mùi thơm thì khỏi nói, cái
hương chanh thơm lừng, cắt ra ngan ngát cả
gian phòng hay còn làm mát lòng, mát cổ hơn khi đi đâu về,
cầm ly đá chanh thơm dịu. Những cọng lá của cây
chanh cốm thái
thật mịn cũng làm tăng thêm mùi vị của những
dĩa gà luộc vàng ngậy, thơm nức mà chỉ gà
nuôi ở Việt Nam mới có.
Những
trái ớt chỉ thiên thon nhọn, nhuốm màu nâu đen hoặc
xanh hoặc đỏ được dầm nhỏ, chỉ
bỏ vào một chút thôi
cũng mang vị cay xé lưỡi. Và như vậy, các mùi
thơm ngào ngạt và
thấm thía của rau củ Đà Lạt, của ớt, của
chanh, quyện lấy nhau làm các món ăn ngon hơn nhiều
lắm.
Những
cây bắp sú hột, những quả đậu couvert xanh
ngắt cũng ngọt như có đuờng, cái vị ngọt
thanh mà chỉ rau Đà Lạt mới có. Dù rau có đem
sang tỉnh khác
cả mấy ngày vẫn còn vương vấn vị ngọt
mà không bị lạt đi, nhất là bắp sú, hình như
càng để lâu càng ngọt, không ngai ngái như các loại
bắp sú khác, khi thái nhỏ để ăn ghém lại
không mang chút mùi tanh.
Cái
ngon của khoai tây Đà Lạt cũng hiếm thấy. Khoai
tây ở các nơi khác có
thể to củ hơn, nhưng không vàng ruộm và nhiều
bột, bùi bùi như khoai tây Đà Lạt.
Đặc
biệt nhất là những quả su su, không đâu có thể
ngọt bằng. Ngày
xưa mỗi lần lên Đà Lạt từ ngả Nha Trang, gần đến Đơn Dương đã thấy
những giàn su su xanh ngắt trải dài trên những sườn
đồi, quanh những căn nhà nhỏ xinh xắn hay lụp
xụp.
Bao
nhiêu năm tôi vẫn không thể quên cái vị su su mới
hái. Những miếng su cắt
lớn đem luộc, nước luộc trong veo mang một
màu xanh nhè nhẹ và ngọt ơi là ngọt. Trời lạnh
ngắt, chỉ
cần chấm miếng su luộc nóng hổi với tí
nước kho, nước mắm ớt hay xì dầu
cũng ngon chi lạ. Su luộc
ăn không cũng vẫn ngon, không cần muối, không cần
nước chấm cũng đủ vị đậm
đà, vừa bùi, vừa ngọt.
Su su
rất dễ trồng, để trái su già vài ngày, mầm sẽ
nhú ra từ kẽ trái. Cứ
thế, vứt vào một góc vườn nào đó, hay siêng
hơn, dúi sơ vào đất, chỉ vài tuần đã có
giàn su rậm rạp. Nhất
là vào mùa mưa, cây mọc nhanh không ngờ. Mà lạ
nha, trời càng
mưa lớn su su mọc càng nhanh. Đà Lạt lại hay có
những cơn
mưa tầm tã và lê thê. Những lúc còn nhỏ, sau cơn
mưa tôi thường
chạy ra vườn thích thú nhìn những cây su ... bò trên
đất, trên hàng rào, trên vách, nhanh như một loài bò
sát. Sáng sớm thức dậy
sau một buổi chiều và đêm mưa, đã thấy
trên giàn su tua tuả những
đọt mầm vừa nhú, với màu xanh mát mắt và
dáng vẻ mạnh mẽ tinh khiết của những mầm
sống mới. Đọt
su luộc hay xào đều ngon cả. Tôi vẫn nhớ hoài
những buổi chiều
vừa lên tới Đà Lạt, người chị dễ
thương của tôi thường đội mưa ra
vườn hái những đọt su mới nhú, đem vào
luộc hay xào tỏi. Với
tôi chắc không có món rau nào ngon hơn thế, những đọt
su mới hái ngọt thanh, dòn dòn, còn thơm thơm mùi
mưa tinh khiết của Đà Lạt.


Có lẽ
nhờ những thứ rau củ ngon như vậy mà ở Đà Lạt có những món ăn không đâu
ngon bằng. Đầu tiên tôi phải nhắc
đến tô mì quảng Đà Lạt.
Cái vị
su su cắt nhỏ ngọt lự, cái vị hành tím thiết
tha, thêm những cọng rau cô ron thái nhỏ, trộn lẫn
với bắp cải hột thái mỏng tang và lất phất
những cọng húng cây, tía tô thơm nhức mũi, thêm
chút giọt chanh cốm mới hái, vài lát ớt hiểm. Tô
mì quảng Đà Lạt
đủ để ăn một lần, nhớ hoài
hoài. Đủ để
mỗi lần đến một tiệm ăn nào nơi xứ
lạ, thấy trong thực đơn có món mì quảng, mừng
hí hởn kêu lên để sau đó buồn rũ rượi,
bỏ lại tô mì quảng dở dang chỏng chơ trên
dĩa. Không chắc những
tiệm này nấu mì quảng dở, mà có lẽ mì quảng Đà Lạt ngon quá nên hạ gục
hết các tô mì quảng
nơi khác. Ngày xưa, ở
cái chợ nhỏ gần nhà, còn gọi là Chợ Vườn
Thông vì nằm trong khu vực rất nhiều thông, có bà Ba
bán mì quảng. Nồi
nước mì quảng be bé đỏ au, gồm những miếng
cà rốt, su su cắt vuông thật nhỏ, loáng thoáng chút tôm
thịt. Một chút rau
thái mịn như chỉ ở dưới, một vài cọng
giá trụng, những sợi mì vàng óng còn nghi ngút hơi
nước sôi phủ bên trên, tưới lên một chút xíu
nước mì, xanh xanh chút su su, đo đỏ chút cà rốt, một
chút tôm giã nhỏ, một
vài miếng thịt ba rọi cắt nhỏ tí ti, một
chút nước mắm, một chút đậu phụng rang
giã vụn, một chút ớt xào. Tất cả thành một tô mì
tuyệt vời,
mấy chục năm còn hoài trong ký ức.
Còn một
món mà ai lên Đà Lạt một lần, sẽ luôn nhớ
mãi, đó là sữa đậu nành. Ly sữa đậu nành của Đà
Lạt
hơi đặc quánh chứ không lỏng lẹc như những
ly sữa đậu ở nơi khác. Mùi lá dứa thơm phức lẫn
vào mùi
đậu nành tỏa theo hơi nóng làm ấm cả
nhũng buổi tối ẩm ướt hay buổi sáng mù
sương. Bưng ly sữa
nóng hổi trong tay, mùi thơm và hơi nóng phả vào mặt,
làm những hơi sương đọng lại long lanh
trên mắt, trên môi, làm những nét nhăn trên mặt của
người uống dãn ra, trở nên thuần khiết bất
ngờ.
Nói
đến rau, không thể nhắc đến quả. Trong các loại
quả, chuối
La Ba Đà Lạt rất nổi tiếng. Loại chuối này trồng
tại La Ba, thuộc quận lỵ Phú Sơn Lâm Đồng. Chuối
La Ba hơi nhỏ
trái, vỏ vàng nâu lấm tấm tiêu đen. Quả nào quả
nấy ngọt,
dẻo chứ không bở rệu như các loại chuối
nơi khác. Ăn vào lại
thơm đặc biệt. Bởi vậy ai sành Đà Lạt, lên đến
nơi luôn đem về vài nhánh chuối ăn dần. Ngày
xưa, mẹ tôi hay ướp
cốm trong lá sen cho dẻo, để ăn với chuối. Cốm
và chuối La Ba hạp
nhau không ngờ, như chúng có một cái duyên từ đâu
đó. Những quả chuối La Ba,
nếu ăn với đậu phụng rang dòn cũng thật
tuyệt vời, vị bùi béo của đậu phụng lẫn
vào vị dẻo thơm của chuối quyện lẫn
vào nhau, ăn một lần nhớ mãi.
Nói
đến Đà lạt, cũng không thể quên những
trái dâu đỏ thơm ngát chính gốc Đà Lạt. Quả nhỏ,
nhìn không bóng bẩy
nhưng mùi thơm thì những trái dâu lớn không thể nào
cạnh tranh nổi. Ngày
xưa đến mùa dâu, mẹ tôi thường mua cả mấy
thúng. Mấy chị em xúm
quanh cắt dâu ngâm đường ăn tráng miệng, hay tẩm
đường làm rượu, hay nấu mứt ăn bánh
mì. Những chai rượu
dâu sóng sánh như mật, mang một màu hồng nhạt dịu
dàng và thơm nức mũi mà không một người quen nào
của gia đình tôi ở Sàigòn khi được biếu
rượu lại có thể quên được. Những thẩu mứt dâu
thơm dẻo trét lên bánh mì nóng dòn vào những buổi sáng lạnh
cũng còn hoài trong tâm khảm. Những quả dâu Đà
Lạt, bé tí ti nhưng hương vị quá xuất sắc
luôn nằm trong nỗi nhớ. Đáng buồn là những quả
dâu này được
trồng ít dần đi, có lẽ vì nhìn thiếu hấp dẫn
và dễ hư hại, dễ nát khó chuyên chở. Đa số các
nhà trồng
dâu chuyển sang trồng loại dâu Mỹ, trái to, nhìn đẹp
nhưng hương vị không bằng.
Một
loại trái hấp dẫn khác của Đà Lạt cũng không
thể không nhắc đến. Đó là trái bơ (avocado). Bơ sáp của Đà Lạt
mang cái vị béo mà những quả bơ Âu Mỹ không thế
có được. Quả
bơ sáp Đà Lạt trái và hạt lớn hơn, thịt
bơ mịn màng, đẹp và quánh như sáp mang vị bơ
thực vật béo ngậy. Ngày xưa ở nhà tôi thường hay
đánh nhuyễn
bơ với sữa đặc, ca cao. Nhưng sau này thấy không
cần phải dùng
đến những chất phụ nữa, trái bơ sáp tự
nó đã quá đủ độ thơm béo.
Và
sau hết, loại quả ngon của Đà Lạt mà tôi muốn
nhắc tới, là những trái ổi táo. Quả ổi chỉ lớn
bằng trái chanh, nhìn lớp da ngoài cũng cảm nhận
được độ xốp của ổi, nhưng
ăn vào thì ngọt lự. Ngày xưa thấy thơm như miếng
táo, bây giờ
thì thấy táo lại chẳng ngon bằng. Ruột ổi chỉ
nhỏ
tí tẹo, rất mềm, rất trắng, chỉ có vài ba hột
ổi khá to so với kích thước của trái. Không hiểu
sao, những cây ổi
này ở Đà Lạt hiếm dần đi, và bây giờ có
lẽ ít người biết tới.
Nói
đến các thức ăn chế biến, không thể
khen những lọ mứt dâu Đà Lạt vì dù dâu Đà Lạt
có mùi vị khó quên, nhưng những lọ mứt dâu lại
bị bỏ màu và đường nhiều quá, làm mất vị
dâu và cái màu phẩm đỏ trông thấy sợ. Nhưng món
để nhớ
và để ca tụng là những gói khoai dẻo của Đà Lạt.
Khoai
bí (sweet potatoes) Đà Lạt cực kỳ nổi bật. Gọi
là khoai bí, vì ruột
khoai vàng ruộm như màu bí đỏ. Ở Đà Lạt,
có 2 loại khoai lang.
Một
loại khoai mật, ngọt lự. Những củ khoai
này, khi luộc, những giọt mật trong như hổ
phách ứa ra trên lớp da nâu. Ngọt vậy mà ăn
không ớn, có lẽ vì quá
thanh, thanh như những bóng cây dịu dàng quanh đồi
núi Đà Lạt.
Loại
khoai kia cũng ngọt không kém thường được
sấy, phơi khô để bán cho du khách. Loại khoai
này lúc luộc, hấp
cơm ăn rất bùi, dẻo. Nhưng vị dẻo, bùi nổi hẳn
lên
khi đem sấy, phơi khô.
Người Đà Lạt cũng
hay vạt khoai thành những miếng thật
mỏng, trộn lẫn với ít mè đem chiên dòn sau đó
rắc vào ít đường. Nhưng làm vậy, vị khoai đặc
biệt của Đà Lạt có vẻ hơi bị mất đi.
Ở Đà Lạt, còn có
thêm một thứ rất ngon mà ít
người biết tới, đó là hủ tíu khô của
Tùng nghĩa. Những cuộn
hủ tíu khô nhỏ, quấn tròn như cuộn chỉ, cột
bằng những sợi thun. Ngày xưa bán theo chục chứ
không theo kí lô. Đem về hoặc xào với
giá hẹ, hoặc thả vào nước sườn hầm
cà chua rất hợp. Những
sợi hủ tíu dòn dòn dai dai vừa phải, còn thơm bùi
mùi gạo mới, bây giờ không biết có còn ngon như vậy
nữa không.
Nhắc
đến Đà Lạt, chắc lại phải nhắc
đến hoa, thứ đặc sản đáng yêu của Đà Lạt.
Thành
phố hoa Đà Lạt không ngập đầy hoa. Mà dù có
trồng ngập hoa
cũng khó mang vẻ rực rỡ như những thành phố hoa
nổi tiếng trên thế
giới
Hoa hồng Đà Lạt,
so về vóc dáng, không thể bì được
với những cành hồng dài cả thước, bông to
tướng của Pháp Mỹ. Nhưng có lẽ không ở đâu hương
hoa hồng
lại ngào ngạt như hoa ở Đà Lạt. Hương hoa không
những tỏa
ra từ những cánh hoa mà tỏa ra từ toàn cây, từ
cành, từ nụ, từ lá và càng thêm ngào ngạt khi bông hoa
bắt đầu hé nở. Những bông
tỉ
muội trắng hay hồng của Đà Lạt cũng vậy. Nhìn
cây hoa thấy thật
khiêm nhường, nhưng cái mùi thơm hoa tỉ muội tỏa
rất xa. Cái mùi
hương dìu dịu làm nhẹ lòng người, nồng
nàn đấy nhưng không gay gắt. Những
bông
hoa nhỏ nhắn, dịu dàng nhưng rất duyên dáng như
những cô con gái má đỏ môi hồng của vùng cao
nguyên lãng đãng hơi sương.
Một
loài hoa xinh xắn và thơm ngát khác của Đà Lạt mà vẻ
dễ thương của nó khó kiếm được ở
các nước khác. Đó
là violettes (đồng thảo). Ở Đà Lạt, lá của hoa
violettes rất
xanh, hoa rất tím, nho nhỏ thôi nhưng mang một vẻ
nũng nịu, e ấp rất nữ tính. Những bông hoa nhỏ
hoặc
lấp ló dưới lá, hoặc khép nép vươn lên, vừa
kiêu hãnh, vừa nhỏ bé, vừa dịu dàng vừa bí hiểm,
đi sâu vào trí nhớ mỗi người. Tôi đã gặp một số
hoa violettes ở Úc, ở Mỹ nhưng chưa tìm thấy
được những bông hoa violettes như của Đà Lạt. Màu
hoa không tím
đậm đà bằng, cánh hoa không duyên dáng bằng, và cái
mùi thì, trời ơi, hắc hắc thế nào ấy.

Mimosa cũng vậy, Mimosa Đà Lạt cũng nở không nhiều và vàng đậm như ở Úc, Mỹ.Những đốm bông nhỏ màu vàng nhạt, cái màu vàng phơn phớt với rất nhiều lông tơ nhỏ mịn. Hoa cũng thưa thớt hơn. Lá tròn, phủ nhiều phấn nên khi sương xuống, những hạt sương long lanh lấp lánh như bạc trên lớp nhung phấn mịn màng. Cũng có một số cây lá dài xanh mướt
Mimosa
Đà Lạt, khi nở hướng lên trời,
trong khi mimosa ở Úc vì nở nhiều nên thường kéo
trĩu cành xuống, những bông hoa vàng tỏa ra tứ
phía, cái màu vàng không mơ màng như màu hoa vàng mơ của Đà Lạt. Nhìn
thì rực
rỡ nhưng hoa
nhiều quá, làm mất đi cái vẻ mảnh mai yếu
đuối nên không thể thay thế những cây
mimosa với lá nhuốm chút sáng bạc của phấn và những
bông hoa chỉ phơn phớt một màu vàng mơ, long lanh nở
như những ánh nắng xinh xắn vương vướng
trong đám lá.
Mimosa, đã có rất nhiều những bài hát ca tụng màu hoa này của núi đồi Đà Lạt. Cũng có rất nhiều những bài thơ về đóa hoa vàng dịu dàng này. Cũng có rất nhiều những câu truyện, những bài viết về loài hoa dễ thương đó. Cũng có rất nhiều người đã dùng tên hoa như một tên hiệu của mình. Vì màu hoa đẹp, hay vì những kỷ niệm đẹp của một thời đã qua...

Đà Lạt lại
có rất nhiều những loại hoa khác, không rực rỡ,
không nở đầy cây, chỉ thi thoảng vài chiếc
trên cành. Ngũ sắc, bìm
bịp, dâm bụt đỏ, dâm bụt tím, marguerittes trắng
hay những đám lục bình hiền hòa trên mặt hồ
Xuân Hương bập bềnh những chùm hoa xinh xắn. Những
bông hoa dịu dàng tô điểm
thêm vẻ đẹp của những ngôi nhà xinh xắn, những ngõ
nhỏ hiền hòa, những
buổi chiều êm ả chứ không phô trương lộ
liễu. Và mùi hương
lúc nào cũng nồng nàn tha thiết. Hương phấn
thông của Đà Lạt,
hương lá cây khuynh diệp cũng thế, luôn dịu dàng
dễ chịu, không hề nồng hắc.
Và mùi nắng Đà
Lạt. Có lẽ chỉ ở Đà Lạt những chăn nệm khì đem
phơi nắng
vào mới có cái mùi nắng thơm sực, lẫn chút hương
phấn thông, chút hương cây cỏ làm giấc ngủ thêm
sâu, làm giấc mơ thêm ngọt.
Ui chao, những
mùi
hương của Đà Lạt, làm sao tôi có thể quên. Làm
sao tôi có thể vứt bỏ
khỏi tiềm thức những buổi chiều đi lang
thang dưới hai hàng khuynh diệp của mái trường
ngói đỏ ngày xưa, nghe lá reo, nghe gió thổi, thở với
những sợi tóc dài phất phơ thả hương hoa
cỏ, cây lá vào hồn. Làm
sao tôi có thể quên những tối đi lên dốc chợ,
chiếc bắp nướng trên tay, vài hột lạc rang
thơm mùi húng lìu trong túi áo. Làm sao quên
hương café Tùng khắc khoải, hương
sữa đậu nành ấm áp và những tà áo trắng của
một thời thơ ấu ngày xưa.
Đà Lạt, một
thành phố tôi đã sinh ra, đã lớn lên, đã rời
xa nhưng vẫn mãi hoài trong nỗi nhớ với những
hương vị không thể nào quên.Những hương vị tự
nó đã tạo
nên thương hiệu cho Đà Lạt và những hương
vị lại đi kèm với rất nhiều kỷ niệm
đáng yêu của quá khứ.Những hương vị mà mỗi lần
nhớ
đến lại thấy lòng mềm đi, êm ả như
sống lại giữa màu lá xanh thoang thoảng hương
hoa của thành phố cũ.Để nhớ lại càng thêm nhớ.
Thiên
Hương
Tháng năm 2010
