Bếp
Năm trước, ông khách đồng hương phố từ Pháp qua kể chuyện về Hà Nội ra quán xơi thịt gà chấm nước mắm dấm ớt. Tuần trước lại nghe bảo phở Hà Nội phải 24 vị thì mới hoành tráng, và không thể thiếu rau mùi tàu, là cái thứ mọc hoang cùng lá lốt ở mọi xó vườn quê. Hôm qua thì nghe một người Hà Nội già nổi cáu giảng giải cho một người Hà Nội trẻ rằng bánh tôm của em là bánh - tôm - gần - Hồ - Tây chứ không phải là bánh tôm Hồ Tây. À, bánh tôm của người sành điệu bây giờ hóa ra khác thật, dĩ nhiên cái món tôm siết làm sao có được, nhưng bánh tôm mà chỉ có tôm với bột, không có những sợi khoai lang giòn tan dọc ngang ôm ấp những bột với tôm ấy thì…
Bếp
Tản văn
Lê Minh Hà
Lí lịch trích ngang :
Tôi : Đàn bà, sắp sang tuổi 45, nghề nghiệp nội
trợ. (Cũng có thể gọi là Osin không lương).
Nơi làm việc thường xuyên : Bếp.
*.
Việt Nam, nói ngang nói dọc, tôi thấy có mỗi một
nơi đủ tiêu chuẩn thành quảng trường : Không gian trước lăng Hồ Chủ
Tịch, ngày xưa là quảng trường Ba Đình.
Nên thấy một nữ sĩ danh tiếng tuyên bố khát khao
được / và thấy (các đôi tình nhân khác) ôm hôn nhau trên quảng trường,
ngạc nhiên lắm. Không lẽ lại kéo nhau ra trước lăng. Nghĩ đi nghĩ lại,
thấy khát khao này có lí. Ai cho đứng đó mà hôn tập thể. Dễ biến thành
hiện thực đã chẳng thành khát khao.
Sao không ước anh/ ông/ cụ người yêu về nhà thấy
mình tung tăng trong bếp thì sà vào ôm vội và hôn cho tóc gáy dựng
ngược dưới mắt cụ bà nhà người ta. Khát khao ấy, khế ước văn hóa Việt
Nam không dành chỗ, nên chẳng nhỏ.
Nói vậy, vì sự hôn với tôi nó quan trọng và thường
xuyên phải được thực hiện, bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu. Thêm, đã khai ở
trên, bếp với tôi cũng là nơi chốn mênh mông bậc nhất, cũng là quảng
trường.
Cũng đã khai ở trên, tôi, tuổi qua đầu 4, đã sống
trong ngoài xa gần chí ít cũng ba cuộc chiến tranh gắn với hai chữ Việt
Nam. Chiến tranh Nam Bắc Mỹ Việt, chi li phải tính thành mấy cuộc chiến
tranh thời vụ khác nhau, từ can thiệp tới bắn phá ra bên ngoài biên
giới Việt Nam Cộng hòa, tới thay màu da cho xác chết, xác chết chỉ được
phép mang màu da vàng ; chiến tranh Tàu Việt, chiến tranh Miên Việt.
Ba mươi năm đầu đời, ba cuộc chiến tranh. Dù chẳng
phải lọ mọ ngay giữa tâm điểm cuộc chiến, thì có định nói rằng vẫn
sướng cũng khó. Sướng thế nào được mà sướng, khi hết sơ tán lần thứ
nhất thứ hai, vừa đủ lớn trở về với phố là lo nỗi lo xếp hàng vì cơm
gạo dầu mỡ hàng ngày. Nói gì cũng không ra khỏi biên - giới - bụng,
biết tầm thường lắm nhưng khi chưa là triết gia thì không thể giả ngây
thơ quên béng sự đời. Nghĩa là, đời người Việt, buồn vui sướng khổ quay
trong bếp, đo bằng sự đầy vơi thiếu đủ rộng hẹp của cái bếp.
Cái bếp đầu tiên mà tôi nhớ được là cái chái dựng
giữa vườn. Tôi nằm sấp trên tấm giát tre kê trên mấy cái chân mễ mà bà
tôi cứ có dịp nào để nhắc là nhắc ngay : " Ông mày/ ông nhà tôi… đóng
đấy ". Hồi làng là vùng tề nó đi hoang qua những mấy nhà, mãi sau bà
tôi mới tìm ra xin lại và đó là di vật duy nhất của ông tôi. Nhà lúc đó
đã xây lại rồi, bà tôi nhận được tin ông hi sinh, không tính đường trở
ra Hà Nội sau hòa bình lập lại, mặc dù từng lên bờ xuống ruộng hồi cải
cách ruộng đất ở quê. Chái bếp y như cái mụn cóc giữa vườn chính là nơi
bà trú ngụ hồi cải cách. Không hiểu sao bà không đạp quách khi xây nhà
gạch, và cứ lọ mọ trong đó thổi nấu cho tới tận lúc không ai buồn giọi
lại cái mái bếp tã hộ bà.
Tôi luôn nhớ tôi nằm sấp trên cái giường kê bằng
chân mễ ông nội đóng, nhìn bà gỡ thịt lươn nấu cháo chống bệnh còi
xương cho tôi. Vị cháo tôi quên, hơi nóng tôi quên, chỉ nhớ hai đầu gối
gầy bà chụm lại đấy ý tứ khi ngồi giã mấy cái xương lươn lấy nước ngọt.
Chắc chắn khi đó tôi chưa đầy bốn tuổi. Vậy thì tôi nhớ điều gì nhỉ ?
Một ảo giác về một điều kì diệu và sao mà buồn bã ? Bà ơi ! Tuổi thơ ơi
!
Ở với bà, tôi di cư từ bếp giữa vườn qua bếp chái
nhà. Hôm rồi chat với thằng cu cháu, may thế nào lại gặp bà cô ra tỉnh
ăn cưới. Bà kể chuyện con trai đã xây bếp mới, nhà tắm, nhà vệ sinh tự
hoại, bể lọc, những trăm triệu. Ngạc nhiên thầm, được mấy ngày cái bếp
kia không ám bồ hóng hả giời. “Ấy không cháu ạ, trong quê bây giờ chả
mấy nhà rơm củi nữa. Anh cả nhà cô xây bếp là để lên đời thổi nấu bằng
ga như nhà các bác ngoài này đấy.“
Thế thì sướng rồi. Nhà quê đất rộng, bếp to, mùa
hè rải chiếu cả nhà ngồi ăn cơm trong bếp, trên đầu quạt trần vù vù,
ngoài sân gió nắng đùa với lá có mái gà nhon nhón dẫn con nhào ra bới
thóc, vừa ăn vừa xùy gà, vừa dăm điều ba chuyện, chung cư biệt thự cửa
sắt cửa kéo cửa từ nào bằng.
Vậy là giã từ bồ hóng, giã từ nỗi lo rạ ướt củi
hết, giã từ nỗi sợ rơm đượm lửa quá con cái không quen việc khéo làm
cháy bếp cháy nhà. Bếp ga, đèn điện, thì cũng không thể có chuyện người
ở cạnh gà cạnh lợn như ngày xưa nữa. Tôi bây giờ mới phì nhiêu theo
tuổi, chứ hồi nhỏ thì còm cõi lắm, ở nhà quê nhưng lại không phải nhà
nông, có chăn nuôi cũng chỉ mấy con gà, luống rau cuối vườn mép ruộng
vừa đủ miệng mấy bà cháu, thành thử đồng trằm tôi hãi, chuồng lợn lép
nhép phân với nước, con lợn to như cái cót thóc sắp bục tôi cũng hãi.
Tôi chỉ mê mấy mái gà. Mái nâu giản dị, nhanh
nhảu, ưa đi đứng một mình. Mái hoa mơ chân dài, cánh úp lẳng lơ, dáng
đi son sẻ đầy quyến rũ, chuyên môn bị con gà trống thiến sót nhà bên
theo đuổi. Mấy con gà mái ấy đến khi nổi hứng nằm ấp thì ôi thôi.
Chuồng gà là một góc bếp xây quây lại, kín bưng. Mùa đông rét mướt,
thích ngồi ăn cơm bên bếp lửa thì cứ chuẩn bị tinh thần chiến đấu với
ngứa. Do mạt gà. Mấy cái
con bọ chíp ấy thế mà công phá da dẻ người rất khiếp. Bị nó đốt, lại
ngồi bên bếp lửa nóng thì càng thêm ngứa. Ngứa phải gãi. Gãi đúng chỗ
ngứa chưa chắc sướng bằng gãi vào chỗ định vị sai. Khoái cảm bắt đầu từ
công đoạn quay cổ vẹo người trong cái áo bông Tàu to xù và kết thúc lúc
buông bát, chạy ù ra vườn chuối mà hóng gió bấc.
Nói thì nói vậy thôi. Cũng là để thương lại một
thời khó nhọc cho biết ngày hôm nay sung sướng cỡ nào. Chứ thật, có lúc
nào nhớ lại những năm tháng bé bỏng vào ra quanh những bếp nhà quê,
lòng lại buồn bã quá chừng. Thương, cái bếp nhà quê một thời, bước vào
là đủ thứ mùi, mùi khói, mùi rơm phơi nỏ, mùi dưa kháng cà khú. Thương,
cái giá bếp chất đầy bồ hóng. Trên đó, chúng tôi nuôi vụng bà mấy con
ốc nhồi. Mấy con ốc cứ ngày một đen nhẻm và cứ sống, không biết nhờ
đâu. Thương, bóng bà ngồi nhoài mình bên bếp lửa, tay cẩn trọng xoay
xoay chai mỡ cho chảy để lấy cái cơm nước hàng ngày. Chai mỡ phân biệt
nhà tôi với các nhà trong xóm, nếu có mỡ mà xào rán thì âu mỡ đó thường
khét lẹt, vì để dành từ hôm ba mươi tết ngả lợn. Chai mỡ là kì tích
hàng tháng xếp hàng mua thịt bằng phiếu, lọc rán kĩ càng của bố mẹ tôi
và của nhiều cán bộ công nhân viên nhà nước một thời. Bố mẹ chẳng dám
ăn, dành dụm đóng chai đem về tiếp tế cho con ở nơi sơ tán.
Bây giờ, ăn chỉ mong ngon mà không
quá chất, để giữ mình dây, nên mỡ màng phải thanh trừng ra khỏi bữa ăn
hằng ngày, có ai nhớ giọt mỡ vương sợi rau gầy, đánh lừa mắt đói, một
thời ông bà ta, cha mẹ ta, và của chính ta ? Tôi không phẫn nộ vì nỗi
có những người sung sướng, sung sướng vì trí tuệ cao mà năng lực nhớ
thấp, lên án chuyện ôn cố tri tân như là thói lẩm cẩm không của người
rách việc thì cũng là người thất bại. Nhưng cứ ngạc nhiên. Quá khứ,
hiện tại và tương lai liền mạch, không đứt đoạn và không dễ đổi chiều.
Không biết sẻ chia cùng quá khứ, làm cách nào để thụ cảm cho hết từng
ngày tuyệt diệu, làm cách nào để chia sẻ với tương lai ?
Bếp nhà quê, bếp thành phố, với tôi là hai thời
kế tiếp, thời chiến tranh đánh phá và thời hết chiến tranh. Anh chị
tuổi tròm trèm tứ thập ngũ thập chưa ? Nhớ không những tối theo lệnh bố
mẹ xách phích ra tổ phục vụ nước sôi 5 xu một lít, đứng xếp hàng bên
cái lò than đá nóng bỏng, thơm thơm. Nhớ không những buổi trưa ra bếp
phục vụ nhận xoong cơm, âu canh, đĩa đậu rán mẹ gửi nhờ bếp nấu. Mùi
bếp than phục vụ này đã vương suốt bao nhiêu phố nhỏ những sáng trưa
chiều Hà Nội hãnh diện vì đói khó và chiến công.
Đến tuổi sinh viên, Hà Nội đã quay về với bếp
riêng nhà ai nghèo nhà nấy chịu, tôi vẫn ưa hỉnh mũi hóng mùi than đá
vương trong không khí buổi sớm lẫn mùi dâu da xoan ra hoa mùa này đây,
chớm hạ. Và vẫn nghẹn ngào, khi cúi nhìn bánh xe đạp quay quay đè lên
vệt than đêm đêm những xe bò kéo ì ạch đi qua để rớt xuống mặt phố. Có
hẳn nhớ thế là do mình chưa bao giờ thành đạt không nhỉ? Hay mình không
là người thành đạt bởi cứ ưa nhớ thế này? Nhưng, biết nói thế nào, khi
trong lòng chưa vợi cạn, là tôi sướng.
Than đá. Than quả bàng. Mùn cưa. Củi vụn. Giấy
dầu. Lá rụng. Tất cả là thử thách với một thế hệ trẻ con Hà Nội một
thời. Nấu than còn dễ. Nhưng mà tay bảy tám tuổi mà phải hàng ngày tự
đóng bếp mùn cưa thì khó lắm. Quá chặt tay, lò không lên lửa, xào rán
sẽ có mùi oi khói và nấu nướng xong bỏ lò cháy không phí phạm. Quá lỏng
tay, cơm vừa lục ục muốn sôi thì lò sụp, thế nào cũng xơi cái củng vào
đầu của bà chị gái lo trước chuyện bố mẹ đi làm cả ngày vất vả lại phải
ăn cơm trương dở sống dở chín. Không làm thì không thể biết. Làm nhiều,
khổ thì có khổ, nhưng lớn lên lại được một điều : không ngại khổ và
biết thu vén, và bớt được cái tính vị kỉ có tự thuở nhân chi sơ. Trong
những điều lứa trẻ hôm nay làm được, có bao điều người đi trước nên lập
tức nghiêng mình kính ngưỡng. Nhưng những người trẻ tuổi, có khi nào
bạn tự quên được mình một chút, ngay cả là quên đôi ba ước ao riêng để
vì những ràng níu nhiều khi hết sức nhỏ nhặt trong đời, với con người ?
Những khổ nhục của một thời bao cấp quạt qua
cái bếp mỗi nhà, quét đi cả một văn hóa sống, không đơn giản là chuyện
ăn gì uống gì. Thói qua quýt cho xong, lấy sự ăn chỉ đơn giản là để
tiếp tục thở ra hít vào nảy nòi từ cái thời này. Khẩu vị con người
không được làm cho phong phú hơn, mà là sai lạc. Thỉnh cái xoong nhọ
nhem nhọ thỉu vào giữa mâm nhôm vừa nhờn vừa xước, bát đĩa cập kênh mỗi
thứ một chủng loại, ăn nhai chọp chẹp, thò đũa bẩy cả tảng rau, (bây
giờ có thể là một thân cá chép), cắn quả cà vọt cả hạt vào mặt người
đối diện, những điều như thế, ở một bếp nghèo nhà quê một thời tôi vẫn
nghe dặn dò để tránh, cũng như vẫn nghe dặn dò món nào nhất thiết phải
đi với món nào trong một bữa cơm, gừng cay muối mặn ra sao, riềng nghệ
hành tỏi lúc nào thì dùng tới, cái muôi múc canh bày trên mâm phải xoay
về đâu. Những nguyên tắc trong cái bếp một gia đình cho thấy nếp sống
của mỗi nhà, của một thời.
Thời bây giờ í a? Là thời a còng, thời tình
online, thời lên sàn (nhảy và chứng khoán), thời đại gia thiếu gia liều
lĩnh bỉ mình bỉ đời hơn cả trong chưởng “cứng”. Nên liều mình tranh
luận với con gái Hà Nội hẳn hoi mới ra nước ngoài về chuyện ăn uống của
người Hà Nội, rồi cũng đến thở ra và buồn.
Năm trước, ông khách đồng hương phố từ Pháp qua
kể chuyện về Hà Nội ra quán xơi thịt gà chấm nước mắm dấm ớt. Tuần
trước lại nghe bảo phở Hà Nội phải 24 vị thì mới hoành tráng, và không
thể thiếu rau mùi tàu, là cái thứ mọc hoang cùng lá lốt ở mọi xó vườn
quê. Hôm qua thì nghe một người Hà Nội già nổi cáu giảng giải cho một
người Hà Nội trẻ rằng bánh tôm của em là bánh - tôm - gần - Hồ - Tây
chứ không phải là bánh tôm Hồ Tây. À, bánh tôm của người sành điệu bây
giờ hóa ra khác thật, dĩ nhiên cái món tôm siết làm sao có được, nhưng
bánh tôm mà chỉ có tôm với bột, không có những sợi khoai lang giòn tan
dọc ngang ôm ấp những bột với tôm ấy thì…
Cái nếp bếp núc của mình, cứ nói là đồng hương
nước Việt với nhau, tiếng vậy mà mỗi miền mỗi khác. Cách nêm nếm, gia
giảm của một người đàn bà Huế rặc khác lắm cách của một người đàn bà Hà
Nội, mà lại giống nhau ở một điểm : Món ăn Huế và Hà Nội thể hiện cái
ổn định cao ngạo và tinh tế của một truyền thống lâu đời, không cho
phép những thử nghiệm táo bạo, càng không dung thứ những phá cách liều
lĩnh. Bát bún mọc Hà Nội nấu ở bếp nhà không thể có chuyện bày sẵn rồi
dội ùm ùm nước " dùng " vào. Đến cả cái cọng rau mùi tàu thơm rất dễ
thương kia cũng thành không thương nổi trong một bát bún gà đích thực
là bún gà bếp nhà Hà Nội. Nhưng mà ai nấu một nồi bún Huế mà nước lại
không sóng sánh cái màu đỏ vương giả, lại trong veo như nước bún mọc
thì mời ai chứ mời tôi không đắt. Trong cái ổn định ngon lành của
truyền thống bếp núc này, có chứa hiểm họa của sự tuyệt diệt. Nó khác
cái sức sống của truyền thống bếp núc nhiều miền đất khác, đặc biệt là
phương Nam. Chẳng phải tìm minh chứng ở đâu xa, cứ ngắm nghía một nồi
lẩu miền Nam bốc khói. Khó mà định được mùi của nó, chỉ biết là bổ béo
một cách giản dị, với sự tham gia của những cá cùng tôm và vô số các
loại rau theo kiểu lương tâm tùy mạng mỡ. Ra khỏi miền Nam, nước nồi
lẩu hào hùng chinh phục các tâm hồn ăn uống bằng khả năng thích nghi
mạnh mẽ và trọn vẹn. Ở nhiều gia đình Hà Nội, lúc tôi về, thấy mọi
người nấu lẩu hay thay vị sả bằng vị nấm hương rất đỗi cỗ bàn xứ Bắc.
Sà vào quán lại thấy nồi lẩu có vị khác, vị dưa chua nấu cá lẫn với
nhiều chủng loại rau nhúng cũng hay hay. Khẩu vị hóa ra chẳng phải là
chuyện của một cái miệng hay của một miền, nó thay đổi theo những bước
thăng giáng của đời sống kinh tế và xã hội.
Mà nếu vậy thì có khi muốn ăn một món truyền thống nào đã tự khẳng định sức sống ổn định của nó chừng năm bảy mươi năm, e phải ra xứ người. Bạn của con tôi đến nhà chơi nhận xét rằng cứ tới nhà người Việt là thấy mùi giống nhau. Hóa ra là mùi bếp. Đơn giản lắm, cứ tương vài ba giọt nước mắm vào một món xào nào đó là đậm mùi xứ sở ngay. Nhưng nói chuyện truyền thống bếp núc sâu xa, chính nơi cái lưỡi cái dạ dày của mỗi con dân Việt tha hồ thưởng thức tinh thần đoàn kết dân tộc qua đủ kiểu nấu Bắc Trung Nam tụ lại chốn quê người, tôi để ý có những người nhất quyết không chịu nấu theo kiểu cải cách, cứ phải món phương nào ra phương ấy.
Ở Berlin, được mời đi ăn khắp nơi, nhưng tôi đặc biệt thú vị ở một bếp nhà. Cứ ngỡ bà chủ bếp chỉ biết văn chương chữ nghĩa và các linh kiện phụ đi kèm một đời nghệ sĩ, là rượu và thuốc. Thế mà ở đó có dưa có cà, có rau xào, có đậu rán, có tôm rang me, có cá bỏ lò, có thịt bò cuốn hấp… món nào cũng sành điệu cả. Cái bếp này với tôi là một góc nhìn khác để nhận diện người đàn bà nghệ sĩ này, người có lẽ giàu có năng lượng sống, năng lượng sáng tạo và năng lượng gây hấn nhất trong giới nghệ sĩ Việt đương đại.
Thú vị không kém, nhưng cách khác, là một cái bếp tập đoàn - bếp câu lạc bộ phụ nữ - câu lạc bộ của những mảnh đời đàn bà Việt đa đoan. Người chị của cả nhóm là một phụ nữ rất đặc biệt, không phải vì từng được mấy cái huân chương chữ thập của Đức, cũng chưa phải vì khiếu thẩm mĩ không giống một ai có một mái tóc nhất quyết chia hai tiền liền ông hậu liền bà, mà vì cá tính như nước lũ. Chẳng ai ngờ người đàn bà rất đỗi hầm hố này lại là một nghệ sĩ đích thực khi đứng bếp. Bánh tôm Hồ Tây, bánh chuối, bún thang, bún ốc, chả cá Lã Vọng… tất cả, tôi đều đã từng thưởng thức ở cái bếp đặc biệt này. Ngoài kia là mưa phùn, ngoài kia là nắng mới, ngoài kia là gió nổi. Như hồ Tây chiều hè, như góc phố xưa đầu mùa gió lạnh, như một giêng hai tíu tít, như tất cả ngày xưa không thể nào tìm lại được ngay ở quê nhà. Bà chị chẳng những nấu món ăn Hà Nội trên cả tuyệt vời, mà món ngon của những miền đất khác cũng tuyệt vời khác lạ. Từ bánh trái Huế, tới món cá kho, lúc kiểu mấy bà già trầu. lúc kiểu mấy chị làng chài vùng gió lào cát trắng. Lạ nhất, người nấu thật ra lại không biết ăn nhiều thứ, ví như mắm tôm trong một bữa chả cá Lã Vọng, mà bàn tay điệu nghệ thay được hẳn vị giác, cực kì tinh tế. Món nào ra món ấy, đúng vị, đúng chất mỗi miền phong thổ yêu thương.
Đất nước mình bây giờ có khác. Tậu biệt thự thì khó, nhưng chung cư đời mới thì với nhiều nhà đã ở trong tầm tay sau mấy đận mở công ti trách nhiệm hữu hạn hay nhảy lên nhảy xuống sàn chứng khoán. Bếp núc đời mới phải như tây, tủ treo tủ đứng hoành tráng. Những cái mùi cà dưa một thuở lấy đâu chỗ mà di trú trong bếp nữa, kể cả ở bếp nhà quê. Nhà quê, như quê tôi, đến bữa vác bát ra đầu ngõ mua cà mua dưa y như ngoài Hà Nội. Ngồi ăn hàng ngày, cũng không mấy ai phải gập bụng khép chân gồng người lấy thế. Mâm nhôm mâm chõng đã thay bằng bàn ghế sành điệu. Đại quý.
Nhưng lại nghe ngay cả ở thành phố thì tỉ lệ người có điều kiện sống như thế mới chỉ chừng 30 %. Con số này tôi nghi ngờ, khi nhìn vào những khu chung cư cũ nát đáng đặt thuốc nổ giật sập từ lâu vẫn hiên ngang đứng đó, lại còn được lên tầng do nhân dân tự lo, khi nhìn lượng dân buôn thúng bán bưng làm ăn kiểu vắt mũi đút miệng đổ từ nhà quê ra tỉnh, khi chỉ cần đi ra khỏi Hà Nội Sài Gòn dăm ba chục cây số... Chưa hết, nghe nói chuyện bếp cao cấp đời này nửa năm chủ nhà dùng không hết một bình ga không phải là chuyện hiếm. Thế mà chuyện từ trong bếp ra lại là chuyện đời, chuyện thời.
Liệu có phải mình trầm trọng hóa không nhỉ ?
