Nước Mỹ sau cuộc bầu cử 2.11.2010
Obama sau cuộc bầu cử giữa kỳ
Vũ Quang Việt
Kết quả cuộc tranh cử vào hạ
viện và thượng viện đã được tiên
đoán trước. Việc Obama mất uy tín kéo theo việc
mất quyền kiểm soát hạ viện hiện nay là
điều dễ hiểu.
Ông ta đã cầm quyền được
gần 2 năm, hứa hẹn tạo việc làm nhưng
thất nghiệp vẫn ở mức rất cao, 9,6 % so với
10 % trước đây, tức là không có gì thay đổi đáng
kể. Số người thất nghiệp hiện nay là
15 triệu, và tháng 10 vừa qua có tạo ra khoảng 150 000
việc làm. Nếu kinh tế chỉ tiến như thế
thì nước Mỹ sẽ cần tới 6 năm để
giảm thất nghiệp xuống 3 %. Điều này quả
thật là u ám.
Đành rằng Obama phải tập
trung vào việc cứu nguy nền kinh tế để tránh
cho cuộc khủng hoảng vừa qua biến thành một cuộc
đại khủng hoảng như năm 1933. Nhưng
người ta chỉ cần biết là sau hai năm, thất
nghiệp vẫn hoàn thất nghiệp mà trợ cấp thất
nghiệp thì đã chấm dứt. Người ta không cần
biết đến nguyên nhân đổ vỡ là do chính sách của
Clinton và Bush mở cửa cho tư bản tài chính tha hồ
thao túng nền kinh tế mà không có một kiềm chế
nào. Đối với đa số dân chúng Mỹ, Obama
đã là kẻ nói mà không làm được điều mình
nói. Thậm chí người ta còn thấy các hành động
cứu nguy của Obama dường như chỉ nhằm
trợ giúp các đại gia, những người gây ra cuộc
khủng hoảng, khỏi phá sản. Còn dân chúng có mất
việc, mất nhà cũng bị bỏ mặc. Những
hành động này làm dân chúng tức giận. Họ lại
tức giận thêm là với tình trạng sống nhờ
nhà nước như thế, các đại gia trong một
số ngân hàng và công ty tài
chính vẫn phân chia tiền thưởng cho nhau ở mức
vài chục triệu và khi kinh tế mới khá lên thì tiền
thưởng lên tới vài trăm triệu trong khi nợ
nhà nước vẫn chưa trả hết.
Obama, ngoài chính sách lấy tiền nhà
nước cứu các đại gia tài chính, còn tập trung
đẩy mạnh luật tăng cường thêm số người
được bảo hiểm y tế. Với ý đồ
tốt và nằm trong lời hứa khi tranh cử, nhưng
do phải có đủ phiếu thông qua, bộ luật mới
này đã không tìm phương thức giải quyết chi
phí ngân sách phải bỏ ra để tài trợ chính sách
trên. Điều này làm dân chúng lo sợ cho việc phải
đóng thêm thuế trong tương lai. Obama nói rằng chỉ
tăng thuế người giầu có mức thu nhập
trên $ 250 000 một năm. Nhưng ai cũng biết tăng
thuế thu như thế sẽ không đủ vì người
người có thu nhập như trên không phải là đại
đa số dân chúng. Thuế sẽ phải đổ vào đầu giai cấp
trung lưu. Để lấy
đủ phiếu ở Quốc hội, Obama lại phải
thỏa hiệp ; việc này cũng làm phe tả tức giận.
Những lời hứa trong lúc tranh cử
bao giờ cũng đẹp, nhưng việc thực hiện
được hay không còn tùy thuộc vào sự hợp tác của
Quốc hội. Quốc hội Mỹ hiện nay ngày càng trở
thành một mớ hổ lốn, chia phe, phá thối lẫn
nhau và chờ được “ mua ” phiếu, tức là đòi
quyền lợi đặc biệt cho phe nhóm và địa
phương họ đại diện khi sử dụng lá
phiếu, hơn là hợp tác vì quyền lợi của
nước Mỹ.
Có người Việt Nam quan tâm đến
tranh chấp ở Đông Nam Á đặt ra là khi Obama yếu
thế như thế liệu Trung Quốc có thể tăng
cường các hành động thách thức một Tổng
thống yếu thế không ?
Thứ nhất có thể nói việc Tổng
thống và Đảng cầm quyền mất quyền kiểm
soát cả hai viện không phải là hiếm. Điều
này đã xảy ra thời các Tổng thống mạnh như
D. Eisenhower, Richard Nixon, và Bill Clinton. Và ngay cả Tổng thống
mạnh như R. Reagan cũng chỉ kiểm soát được
một viện trong thời gian 6 năm của 2 nhiệm
kỳ kéo dài 8
năm. Như thế, không hẳn việc không kiểm soát
được hai viện sẽ làm Tổng Thống mất
khả năng điều hành chính sách. Ngược lại
có những người kiểm soát được cả
hai viện như Jimmy Carter thì bị coi là yếu kém, chỉ
trụ được một nhiệm kỳ.
Obama hiện nay còn ở thế tốt
hơn là Bill Clinton, là Tổng thống mất việc kiểm
soát hai viện sau 2 năm ngồi ghế Tổng thống.
Bill Clinton được coi là Tổng thống hành xử
hiệu quả.
Liên quan đến hoạt động
ngoại giao và quân sự, Hiến pháp Mỹ giao đặc
quyền hành động cho Tổng thống. Tổng thống
có thể trực tiếp ra lệnh thực hiện các hành
động chiến trạnh, không cần xin phép Quốc hội
trước và chỉ bị đòi hỏi thông qua Quốc
hội sau đó nếu đó là tuyên chiến. Các hoạt
động ngoại giao hoàn toàn nằm trong tay Tổng thống
trừ khi đó là Hiệp định có tính bắt buộc.
Cho nên việc mất quyền kiểm soát dù cả ở
hai viện cũng không có khả năng bó tay Tổng thống.
Đối với Obama, việc mất khả năng hành
động đối với những vấn đề đối
nội càng cho phép ông ta có thì giờ tập trung vào đối
ngoại, vì chính ở đó ông ta có thể lưu lại dấu
ấn cuộc đời Tổng thống của mình.
Và đây chính là việc Tổng thống Reagan đã làm khi ông tuyên chiến với “ đế quốc của cái ác ” (the evil empire) bằng cuộc chạy đua vũ khí chiến tranh cho đến khi Liên Xô bị suy sụp. Tình hình kinh tế trong nước Mỹ trong vài năm đầu dưới triều đại Regan cũng rất khó khăn. Nhưng nhờ sản xuất cho Chiến Tranh Lạnh làm cho Liên Xô kiệt quệ trước, Hoa Kỳ đã phục hồi kinh tế lẫn uy tín trong và ngoài nước. Hiện nay tuy Mỹ vẫn còn kẹt chân tại Trung Đông và Trung Á, và cả hai nơi đều không được sự ủng hộ của đa số quần chúng Mỹ vì hút quá nhiều tiền trong nước ra ngoài, nhưng nếu có một nước lớn nào đó thách đố Mỹ một cách rõ ràng thì quần chúng Mỹ sẽ ủng hộ một chính sách mạnh mẽ và cương quyết của tổng thống họ. Người Mỹ thích có một tổng thống mạnh, không thích những người thông minh và thiếu quả quyết như Tổng thống Carter. Đó là bí quyết của sự thành công của Tổng Thống Reagan và kể cả của Bush trong 6 năm đầu.
VŨ QUANG VIỆT
