Pinochet và quyền con người
Cái
chết của
Pinochet
Nhiệm
vụ ghi nhớ hay cần thiết phải quên ?
NGUYỄN
QUANG
Việc tướng Pinochet chết trên giường rõ ràng đặt ra vấn đề công lí. Tên tuổi ông ta là biểu tượng những năm 1970 đen tối, thời kì mà Châu Mĩ Latinh – Argentina, Brasil, Chile, Paraguay và còn nữa – rên xiết dưới gót giầy của bọn độc tài quân sự tha hồ bắt cóc, tra tấn, bắn bỏ, truy lùng công đoàn và chính đảng phái tả, tước đoạt mọi quyền tự do chính trị. Cũng nên hỏi tại sao giữa đám tướng lĩnh độc tài ấy, Pinochet lại chiếm vị trí đặc biệt trên "bảng vàng" trong dư luận tiến bộ thế giới, đặc biệt ở Pháp ?
Pinochet ngữ lục
* Ngày
11.9.1973, trong khi bao vây dinh Moneda (phủ tổng thống),
phó đô đốc Carvajal
trong phe đảo chính đề nghị thương lượng để Allende ra nước
ngoài. Pinochet nói
với Carvajal, nửa đùa nửa thật : “Cho
ông ta xuất ngoại... và trên đường bay,
phi cơ rớt xuống đất”. Cùng ngày,
Pinochet ra lệnh qua vô tuyến : "Tôi chủ
trương là (bọn tù nhân chính
trị) phải đưa chúng lên máy bay, đưa đi
đâu thì
đi, ném từ trên không cũng được". Mấy
năm sau, để phi tang, Pinochet ra lệnh
đào mồ những người bị thủ tiêu và
ném xác họ xuống biển. Mật hiệu của phi vụ
này : “Triệu hồi khán giả truyền
hình”.
* 13.10.1981 :
“Trên đất nước này, một cọng
lá cũng không được động đậy nếu
tôi không xử lí. Điều đó phải
nói cho rõ”.
* 6.1984 :
“Có người cho rằng (các cơ quan an
ninh) làm hơi quá, nhưng tôi
không nghĩ như vậy”.
* 7.1994 : “3000
(tù nhân chính trị chết hay mất
tích) thì có là
bao”.
* 9.1995 :
“Cách duy nhất để giải quyết vấn đề nhân
quyền là quên đi”.
Trước tiên là bản thân Pinochet. Với bộ ria trưởng lão, bộ ngực lủng củng huân chương và cặp kính dâm chình ình trên mặt, Pinochet có vẻ như một viên tướng phường tuồng, nhưng xem xét lí lịch của tên phản loạn này, chúng ta sẽ thấy y là một tên trí trá (Pinochet âm thầm thăng quan tiến chức, chẳng ai biết ý kiến của y như thế nào, và hai tuần trước ngày đảo chính, tổng thống Allende cử hắn lên thay tướng Carlos Prats từ chức...), cơ hội chủ nghĩa (giờ chót hắn mới ngả theo phe đảo chính, và phe này cũng rất nghi ngại Pinochet), xảo quyệt (cứ xem hắn đã làm thế nào để loại trừ các đối thủ trong nhóm đảo chính, và những năm gần đây, để trốn tránh các toà án), hại người không gớm tay (xem khung), và thối nát (tài khoản ngân hàng ở nước ngoài lên tới hàng triệu đô la). Còn thành tích của chế độ Pinochet, thì các uỷ ban điều tra được thành lập sau ngày phục hồi dân chủ cho biết các con số nạn nhân : 3000 người chết hoặc mất tích (báo cáo Rettig, 1992), 35000 vụ tra tấn có chứng cứ (báo cáo Valech, 2004). Nhưng xét cho cùng, như chính "caudillo" đã nói : "3000 (người chết) có là bao" so với những cuộc tàn sát của tập đoàn độc tài Argentina (Videla, Agosti, Massera), và 15 năm độc tài có thấm vào đâu so với gẩn nửa thế kỉ độc tài của Fidel Castro (1). Không, muốn lí giải sự ghê tởm tột cùng đối với Pinochet (và hoàn toàn không phải để giảm nhẹ những tội trạng thực sự của hắn) có lẽ ta phải xét tới những biểu tượng : đối nghịch với Pinochet là biểu tượng Allende, là biểu tượng của mặt trận Đoàn kết Nhân dân, tức là : trên một châu lục chìm đắm trong tình trạng chậm tiến dưới những chế độ độc tài, đó là phác thảo một con đường thứ ba (giữa đế quốc Mĩ và cách mạng Cuba), một « chủ nghĩa xã hội mặt người » (một khuôn mặt Châu Mĩ Latinh), mấy năm sau Mùa Xuân Praha và vài năm trước Liên hiệp phái tả Pháp. Ngày nay khi mà chẳng mấy ai còn nhớ « chủ nghĩa xã hội hiện tồn » là cái gì, khi mà mọi người phải chịu đựng chủ nghĩa liberal cực đoan và cực kì hiện thực, thật khó hình dung đầy đủ tất cả những ước vọng được gửi gấm vào cuộc thử nghiệm ở Chile, nhưng mọi người đều cảm nhận rằng kẻ đã phá tan những hi vọng ấy chính là Pinochet. Sâu sắc hơn cả những vết thương không bao giờ hàn gắn được nữa của gia đình các nạn nhân, chính nhận thức ấy về Pinochet khiến cho chúng ta không chịu nổi sự trêu ngươi cuối cùng của tên độc tài (2).
Đại sự kí tóm tắt
* 11.9.1973 : tư lệnh liên quân (không quân, hải quân, lục quân) đảo chính lật đổ chính phủ liên minh xã hội – cộng sản của tổng thống Salvador Allende. Quốc hội bị giải tán, các chính đảng bị cấm hoạt động, hàng ngàn người đối lập bị bỏ tù hay phải sống lưu vong.
* 20.6.1974 : sau khi loại bỏ đồng loã và đối thủ, Pinochet tự phong là « lãnh tụ quốc gia tối cao ».
* 19.4.1978 : chính quyền thông qua một đạo luật ân xá tất cả những tội ác mà chế độ độc tài quân sự đã gây ra từ năm 1973.
* 5.10.1988 : trong cuộc trưng cầu dân ý, người Chile không chịu tái cử Pinochet cho đến năm 1997.
* 14.12.1989 : Patricio Alwyn (dân chủ Ki tô giáo) trúng cử tổng thống.
* 11.12.1993 : Eduardo Frei (dân chủ Ki tô giáo) trúng cử tổng thống
* 11.3.1998 : Pinochet được chỉ định làm thượng nghị sĩ mãn đời.
* 16.10.1998 : sang chữa bệnh ở London, Pinochet bị bắt giam sau khi thẩm phán Tây Ban Nha Garzon kí trát truy nã quốc tế.
* 2.3.2000 : Bộ trưởng nội vụ Anh Jack Straw thả Pinochet « vì lí do sức khoẻ » và tống về nước.
* 11.3.2000 : Ricardo Lagos (đảng Xã hội) trúng cử tổng thống.
* 25.3.2000 : Quốc hội Chile quyết định miễn tố cho tất cả các cựu tổng thống, kể cả Pinochet.
* 1.12.2000 : Pinochet bị thẩm phán Chile Guzman truy tố.
* 1.7.2002 : Toà án Tối cao xếp hồ sơ Pinochet, viện cớ bị can bị « điên nhẹ ».
* 26.8.2004 : Quy chế miễn tổ của Pinochet bị huỷ bỏ, hồ sơ thụ án được mở lại.
* 13.12.2004 : Pinochet bị thẩm phán Montiglio truy tố và bị quản chế tại gia.
* 17.9.2005 : tổng thống Lagos ban hành Hiến pháp mới (thay thế Hiến pháp do bọn đảo chính áp đặt năm 1980).
* 15.1.2006 : Bà Michelle Bachelet (đảng Xã hội) trúng cử tổng thống.
Công
lí bị hẫng hụt, song có thể nói
công
lí bị phủ nhận chăng ? Trước tiên,
hãy nói về pháp lí Chile.
Cần phải nhắc
lại rằng nền dân chủ Chile ra đời (hay tái sinh)
« dưới bóng » Hiến
pháp 1980, một văn bản được viết bằng
« lưỡi lê », kiềm chế
sinh hoạt
chính trị một cách chặt chẽ và
dành cho bọn quân nhân những
« hốc pháp
lí » như quy chế
« thượng nghị sĩ mãn
đời »,
quyền bất khả truy tố của các cựu quốc trưởng..., hạn chế
nền dân chủ và kìm
kẹp kí ức tập thể. Cũng phải nói là đa
phần các định chế Chile (Toà án Tối
cao,
Giáo hội Công giáo...) và
một bộ phận quan trọng dân chúng (nếu
không, các đội
tàn sát của Pinochet kiếm đâu ra những
người tố giác để truy lùng các nạn
nhân ?) đã ủng hộ cuộc phản loạn,
và ngày nay vẫn còn ủng hộ phe hữu
thân
Pinochet. Do đó, quá trình
lâu lắc mà xã hội dân sự
Chile phải trải qua để
thoát ra khỏi vòng kiềm toả của
« giáo gươm và thập
tự » cũng giống
như ở Tây Ban Nha sau Franco. Thế mà ở
Tây Ban Nha ngày nay, hoà
mình vào châu
Âu và được coi là một khuôn
mẫu dân chủ, thời kì Franco vẫn được cố
ý che phủ
dưới tấm bạt của quên lãng. Trong khi ở
Chile, từ 1998 là năm bản lề, tan vỡ
những điều cấm lị nhờ việc Pinochet bi bắt giam ở London, kí
ức tập thể đã được
khai phóng, người ta đã công khai thảo
luận về những năm tháng đen tối, ngôn từ
của phái tả đã giành lại được
chính nghĩa...
Cố nhiên Chile vẫn chia làm hai phe
sức mạnh ngang nhau, nhưng có quốc
gia dân chủ nào không như thế ?
Điều quan trọng là sự phân cực này
không
dẫn tới sự đoạn tuyệt (bùng nổ cách mạng hay đảo
chính, độc tài) mà biểu lộ như
một sự chọn lựa về mô hình xã hội, về
đường lối chính sách, chứ không
còn là những
quy chiếu về quá khứ. Đối với một số người Chile,
« bóng tối vừa biến
đi » (« se fue la
sombra »). Chúng tôi
nghĩ nó đã tan
biến ngay trong cuộc bầu cử tổng thống tháng giêng
2006 (3),
khi ứng viên của phe Pinochet bị loại ngay từ vòng
đầu, khi ứng viên xã hội, bà
Michelle Bachelet đã thắng phiếu ứng viên phe hữu
cổ điển ở vòng hai, khi người
Chile đã cho toàn thế giới thấy rõ
« nền dân chủ nửa vời »
năm 1980
đã thực sự trở thành nền dân chủ
« an nhiên ». Bẳng
chứng rõ ràng
nhất của sự « bình thường
hoá » (nghĩa tốt) này
là cái chết của
Pinochet đã không gây ra cảnh tượng đam
mê ghê gớm gì : mấy
nghìn người
xuống đường reo hò hồ hởi, mấy nghìn người
khác tiếc nuối quá khứ diễu hành
trước quan tài... và tuyệt đại đa số, thờ ơ. Tất
nhiên có thể kì kèo về lễ
nghi
đám tang (lễ tang quân nhân,
không phải quốc tang), tuỳ theo tạng người, chúng
ta có thể coi đó là một biện
pháp thoả hiệp theo kiểu Chile, hay sự tuân thủ
pháp luật (Pinochet được thừa nhận là cựu tổng tư
lệnh, không được thừa nhận là
cựu nguyên thủ quốc gia). Về phần mình,
chúng tôi quan tâm hơn tới hai
tình
tiết có ý nghĩa. Một là, việc đại
uý Augusto Pinochet Ugarto (cháu nội của
tên
độc tài) và Heargraves, viên tướng chỉ
huy sư đoàn 5 Punta Arenas, đã bị cách
chức ngay lập tức sau khi đọc diễn văn chính trị ca ngợi
Pinochet trong lễ tang,
vi phạm nhiệm vụ bảo lưu ý kiến của người quân
nhân (trong một nước dân chủ).
Sự việc thứ nhì là chàng Francisco
Prats, cháu nội tướng Prats trung thành với
chế độ dân chủ (năm 1974 đã bị mật vụ Chile
ám sát ở Buenos Aires) đã bỏ
công
sắp hàng ở đám tang để nhổ vào quan
tài Pinochet, đội quân cảnh
không những chẳng hành hung mà
còn bảo vệ anh khỏi cơn thịnh nộ của những phần tử
thân Pinochet (4).
Đó chẳng phải là chỉ
dấu bình thường hoá sao ?
Bây
giờ
nói về pháp lí quốc tế. Mặc dầu
đến chết Pinochet còn trêu ngươi, song phải thừa
nhận một nghịch
lí này : nhờ Pinochet, những chuẩn mực
quốc tế về quyền con người đã tiến
một bước. Xin nhắc lại là nhờ lệnh truy nã quốc
tế của thẩm phán Tây Ban Nha
Garzon (5),
Pinochet đã bị nhà cầm quyền Anh bắt
giam ở London, và y đã phải đợi hơn 8
tháng để toà án tối cao (của Nghị viện
các Huân tước)
xem xét tính khả dĩ chấp nhận của đơn kiện. Vẫn
biết Toà án Nuremberg đã nêu
ra
nguyên tắc pháp lí
« không thể miễn tố »
đối với tội ác chống nhân
loại, nhưng nguyên tắc này vẫn chỉ
là... nguyên tắc cho đến khi Thượng viện Anh
phán quyết hai điểm về Pinochet. Việc chính phủ
Anh đã thiếu dũng cảm, không
dẫn độ Pinochet sang Tây Ban Nha mà dẫn độ về
Chile, chỉ là một tiểu tiết. Điều
quan trọng là quyết nghị của toà án
London hầu như đã khai phóng cho pháp
quyền
Chile và cả những cơ quan tư pháp của những nước
khác nữa. Cho dù con cá mập
lớn nhất đã thoát khỏi lưới công
lí, gần 300 tên sát thủ và
tra tấn đã bị tuyên
án (trong đó không chỉ có
những thuộc hạ : Manuel Contreras, giám đốc
DINA, cơ quan mật vụ của chính quyền quân đội,
và toà án Pháp cũng sắp
sửa xét xử vắng mặt cùng
với 19 tòng phạm, vì tội thủ tiêu những
công dân Pháp), việc những
nhân vật
hàng đầu (như Henry Kissinger mà ai cũng biết
đã giữ vai trò quan trọng thế nào
trong việc chuẩn bị cuộc đảo chính 11 tháng 9)
bây giờ không dám ghé chơi
những
nước « ít an
toàn » như nước Pháp... đều
là những sự kiện không thể
nói là không đáng kể.
Ý nghĩa lâu bền của quyết án London
còn thể hiện trong
việc nó đã tác động tới phong
trào quốc tế chống lại tình trạng miễn tố của
những
tội ác Nhà nước, góp phần dẫn tới sự
thành lập những toà án đặc biệt của
Liên
Hợp Quốc để xét xử những tội ác gây ra
ở Nam Tư, Rwanda, Liberia... và nhất là
sự thành lập Toà án Hình sự
Quốc tế mà thẩm quyền là truy tố các
tộ ác diệt
chủng, tội ác chống nhân loại, tội ác
chiến tranh là những tội trạng mà các
toà
án quốc gia không thể hay không muốn
trừng trị. Người ta có thể nhún vai coi
thường chuyện này vì có những nước,
lại là nước lớn, như Hoa Kì và Trung
Quốc
khăng khăng không chịu tham gia Toà án
này, khiến cho thẩm quyền của nó bị giảm
bớt. Song hiển nhiên là « tiền
lệ Pinochet » đã thúc đẩy
khái niệm
công lí quốc tế.
Nguyễn Quang
(1) Chắc một số độc giả ngạc nhiên thấy Fidel Castro bị bỏ chung vào rọ này. Nếu nhà cách mạng Fidel Castro đã trả lại phẩm giá cho nhân dân Cuba (và điều này, nhiều người Châu Mĩ Latinh vẫn ghi ơn tuy đã mất hết ảo tưởng) thì nhà độc tài Fidel Castro đã chà đạp lên phẩm giá ấy khi ông ta kiến lập chế độ xã hội chủ nghĩa trại lính (ngày nay phải thêm chữ gia truyền). Chắng mấy lúc nữa, chúng ta có thể tính sổ chế độ này, vì các thông tin chính thức cho biết « Fidel sức khoẻ tốt, không bị ung thư, sắp xuất viện », thì lôgic của « chủ nghĩa xã hội hiện thực » cho ta hiểu rằng Fidel ốm nặng, bị ung thư và chết tới nơi.
(2) Pinochet chết vào đúng... Ngày quốc tế các Quyền con người.
(3) Xem Diễn Đàn tháng 1.2006.
(4) Nhưng sau đó, anh ta đã bị toà thị chính quận (nơi anh ta làm việc) cách chức. Để xem vụ án này sẽ tiếp diễn ra sao.
(5) Thẩm phán Garzon được chỉ định thụ lí hồ sơ Argentina, chứ không có trách nhiệm gì về hồ sơ Chile, nên ông đã phải dùng một mưu chước pháp lí là truy tố Pinochet trong khuôn khổ cuộc hành quân Condor, là một kế hoạch liên hợp của hai chế độ độc tài Buenos Aires và Santiago nhằm giết chết những người đối lập.