CHU SƠN: NƯỚC – LỬA VÀ SÓNG

CHU SƠN: NƯỚC – LỬA VÀ SÓNG
(HÒA GIẢI, HÒA HỢP “CHỈ LÀ MƠ QUA”)
Giữa năm 2024, tôi nhận được một hộp quà tặng từ quê nhà. Đó là hộp đựng sách, nặng gần 2.5 kg. Hai mặt hộp, phía trước và phía sau, là tranh minh họa của họa sĩ Đinh Cường. Mặt trước: CHU SƠN: Nước – Lửa và Sóng, toàn tập do tác giả tự xuất bản. Mặt sau: Quê Nhà, tập thơ do Tân Hình Thức Publishing Club xuất bản năm 2023, và tập Đọc Sách do Ý Thức xuất bản năm 2023. Tất cả đều đựng chung trong một hộp đựng sách, có thể coi như toàn bộ sáng tác của Chu Sơn.
Nếu tính độ dày của toàn bộ các cuốn sách được đựng chung trong hộp đựng sách, hơn 1,500 trang, không kể bìa của mỗi cuốn. Đây là công trình tâm huyết một đời của một con người với những thành tố xung khắc như nước, lửa và sóng mà tác giả đã đặt tên cho toàn tập của mình.
Với riêng tôi, trong nhiều năm qua, tôi đã cố gắng gom góp lại những mảnh vỡ cuộc đời của những nhân vật trong giai đoạn lịch sử đau thương của đất nước mà tôi gọi là những “ Cổ Vật Của Thời Lãng Mạn”. Tôi đã viết về họ . Đó là nhà thơ Ngô Kha, Linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, luật sư Bùi Chánh Thời, luật sư Nguyễn Hữu Doãn… Nay thì tôi gặp thêm được một “cổ vật” hiếm quý nữa: nhà văn nhà thơ Chu Sơn.
Chu Sơn, ông là ai?
Với những người còn lại của thế hệ chúng tôi, lớn lên ở thành phố Huế và có ít nhiều dính líu tới hoạt động của phong trào tranh đấu của sinh viên học sinh trước 1975, nhà thơ Chu Sơn không phải là khuôn mặt “nổi”, mà là khuôn mặt “chìm”, thường xuyên lui tới và có mặt trong hầu hết hoạt động tại Tổng Hội Sinh Viên, số 22 Trương Định. Nhưng ông là nhà thơ quen thuộc, gần gũi với nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ của Huế thời ấy.
Đây là chân dung và tiểu sử của nhà văn nhà thơ Chu Sơn (từ đây viết tắt ChS). Xin để ông tự giới thiệu với độc giả:

CHU SƠN (TRẦN HUỆ)
- Sinh năm 1943 tại Mỹ Lợi, Thừa Thiên , Huế
- Trước 1975:
. Làm thơ, viết văn tự do
. Sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa (còn gọi là Ngụy quân).
. Đào ngũ.
. Tham gia kháng chiến chống Mỹ (phong trào đô thị - còn gọi là Việt Cộng)
- Sau 1975: Rã ngũ
Đúng là tính cách của ChS. Ông tự giới thiệu mình minh bạch, dứt hoát, không che dấu và cũng không sợ bị chỉ trích, nguyền rủa! Không những đợi đến khi in “lý lịch” lên cánh trước của bìa mỗi cuốn sách được in năm 2023, mà trước đây, khi những bài ông viết đăng trên các trang mạng ở Pháp (Diễn Đàn), ở Đức (Talawas), ở Mỹ (Da Màu), ông cũng không hề ngại nêu rõ tiểu sử của mình với bạn đọc.
Đó là cá tính của ChS. Đúng như nhan đề ông đã chọn cho toàn tập của ông, NƯỚC – LỬA và SÓNG, toàn bộ tác phẩm của ông gồm những bài chính luận, ký sự, tự sự, phỏng vấn, văn, thơ và cả cách phê bình, đọc sách, tất cả đều toát lên tính cách đặc biệt với những thành tố xung khắc như nước với lửa.
Với cá tính riêng của ChS, toàn tập này của ông do chính ông tự in ấn, xuất bản, tặng bạn bè và lưu giữ cho gia đình. Chiêm nghiệm lại một đời, ông tự biết rồi sẽ cũng sẽ như NƯỚC cuốn trôi, như LỬA thiêu đốt, như SÓNG xóa tan. Nhưng với hơn 1,500 trang viết, chất đầy tâm và trí của một con người nặng lòng với quê hương, đất nước, từ tuổi thanh xuân cho đến gần cuối đời, tôi vẫn nghĩ, NƯỚC rồi cũng không thể cuốn trôi, LỬA rồi cũng không thể thiêu rụi, SÓNG rồi cũng không thể xóa tan, hơn một ngàn năm trăm trang viết kia vẫn trơ gan cùng năm tháng, soi chiếu cùng hậu thế và lưu giữ mãi với gia đình của ông...
Chu Sơn thời tuổi thanh xuân được biết đến là một người làm thơ. Năm 1964 ông xuất bản tập thơ đầu tay mang tên Quê Nhà. Đó là tập thơ chống chiến tranh sớm nhất ở miền nam. Rồi “ Như lưỡi hái của tử thần, những nhát kéo kiểm duyệt đã băm nát “Giữa Lòng Việt Nam”, tập thơ thứ hai không xuất bản được như dự kiến trong năm 1965.” (Quê Nhà, trang 7). Sau đó , ông tự thú: “thi sĩ thôi làm thơ phản chiến, dấn thân vào con đường lạ lẫm chẳng đặng đừng” (Quê Nhà, trang 8). “con đường lạ lẫm chẳng đặng đừng” nầy của ông là được “móc nối’’ để trở thành “cơ sở cách mạng”, bí mật hoạt động nội thành cho đến năm 1975.
Ở tập I Nước – Lửa và Sóng, bài “Cuộc trò chuyện trên núi Truồi” là một bài tự sự dài, tròn 100 trang, có thể gọi là hồi ký, ông đã kể lại chuyến được đưa “lên xanh” đầu tiên của ông để gặp lãnh đạo, chỉ đạo công tác của ông. Trong suốt mấy đêm ngày trò chuyện trên núi Truồi đó, ông đã tự giới thiệu mình và bày tỏ lý tưởng, lập trường của mình trước mặt lãnh đạo: “...Tôi con nhà nông, gia đình tôi là cơ sở kháng chiến chống Pháp. Bản thân tôi là giao liên trong hai năm 1955-1956. Giữa năm 1956 tôi lên Huế học, phong trào Hòa Bình bị đàn áp, đứt liên lạc, nhưng không tìm cách nối lại với tổ chức...(tập I trang 264).
“...Tôi trở lại với kháng chiến sau biến cố tết Mậu Thân là do thôi thúc muốn chấm dứt chiến tranh, vì độc lập dân tộc, vì hòa bình, không vì lý tưởng Cộng sản...
“...Tôi và Ngô Kha giống nhau: đều tham gia kháng chiến sau biến cố tết Mậu Thân, vì độc lập, vì hòa bình, không vì lý tưởng Cộng sản.
“Tôi và Ngô Kha có một điểm khác nhau: Tôi chấp nhận là cơ sở, là cán bộ của Thành ủy, Ngô Kha thì không, anh neutre”. (tập I trang 265).
I. BẢO VỆ LÝ TƯỞNG ĐÃ CHỌN
Phần trích dẫn ở trên để cho thấy ChS đã chọn cho mình một lý tưởng hành động và ông bảo vệ lý tưởng ấy, cũng như, sau 1975, ông đã giữ lời mà ông đã trình bày với lãnh đạo của ông trong cuộc trò chuyện trên núi Truồi.
Để hiểu rõ rộng hơn về ông, tưởng cũng cần nhắc lại, ChS thuộc thế hệ văn nghệ sĩ lớp đàn anh của tôi. Ông cùng thời với nhà thơ Ngô Kha, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Đinh Cường, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường,...Ông từ một làng quê nổi tiếng, làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, lên thành phố Huế trọ học. Làng ông, chỉ cách làng tôi, làng Phụng Chánh, một cây cầu nhỏ. Vùng quê của ông và tôi là một vùng ven biển, cách chia với con đường cái quan, phía Bắc là phá Tam Giang, phía Nam là phá Cầu Hai và cửa Tư Hiền. Vùng quê tôi ít người theo nghiệp văn chương. Khi tôi lớn lên, tôi chỉ nghe danh ba người làm văn nghệ: nhà văn Lữ Quỳnh, nhà thơ Nguyễn Miên Thảo và ông. Nhưng khác với Lữ Quỳnh, thơ văn thường đăng trên tạp chí Bách Khoa, Ý Thức,...Nguyễn Miên Thảo cùng nhóm nhà văn trẻ ở Huế như Mường Mán, Từ Hoài Tấn, Viêm Tịnh,... văn thơ thường xuất hiện trên tạp chí Văn, Văn Học,...Riêng ChS, từ 1964, ông đã in tập thơ chống chiến tranh, tập Quê Nhà, và ông đi hẵn về một phía trong cuộc chiến tranh vừa qua.
Xét như vậy, từ rất sớm ChS đã chọn cho mình một lý tưởng, hướng hành động, khác với những người làm văn nghệ cùng quê của ông. Cùng với “lý lịch” tự khai của ông: đã “tham gia kháng chiến chống Mỹ, phong trào đô thị, còn gọi là Việt Cọng”. Lý tưởng của ông khi đi theo kháng chiến là “ độc lập, vì hòa bình, không vì lý tưởng Cộng sản”.
Vì giữ trọn lý tưởng đó của mình, mà sau 1975 ông đã “RÃ NGŨ”.
“Rã ngũ”, với ông, không có nghĩa là “đào ngũ”. Khác với lần “đào ngũ” khi đang là chuẩn úy trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ông đã “đào ngũ” để tham gia đấu tranh trong phong trào thanh niên, sinh viên, trí thức Huế (tập I, trang 265). “Rã ngũ” ở giai đoạn nầy chính là không còn hàng ngũ nữa, tan hàng. Vì “hàng ngũ” mà ông tham gia đã trở nên hàng ngũ của những người chiến thắng. Mục tiêu, lý tưởng mà ông đã chọn trước đây trong chiến tranh đã thay đổi nên ông không còn chung đường với họ.
Để “kiểm chứng” độ tin cậy của phần tự sự này của ông, tôi đã đọc bài viết của nhà văn Trần Doãn Nho, bài bút ký “Nỗi Huế” đăng nhiều kỳ trên trang mạng Da Màu [1]. Nhà văn Trần Doãn Nho là một người bạn văn nghệ của ông, dù khác “chiến tuyến” trước 1975, nhưng thân thiết và quý trọng nhau. “...Chu Sơn...dù bị bắt giam, lý lịch anh vẫn trong veo, nên được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trả về để tiếp tục...hoàn thành một cách êm thắm các công tác...mà đảng giao.
...Sau 1975, hình như Chu Sơn không đảm nhận một chức vụ gì của nhà nước...
Trong số những người nằm vùng “bất mãn” với đảng sau 1975, có lẽ Chu Sơn là người bày tỏ thái độ quyết liệt nhất...Nhưng trước sau, Chu Sơn không phải là người bất đồng chính kiến. Đúng hơn, anh thất vọng, như bị tình phụ...”.
Qua một vài nhận xét và đánh giá của bạn bè, qua tự sự của chính ChS, tôi có thể đồng ý: ChS không phải “bất đồng chính kiến”. Ông vẫn bảo vệ, và như tính khí của ông, bảo vệ một cách quyết liệt như Nước với Lửa lập trường, lý tưởng ông đã chọn khi chiến tranh chưa kết thúc: “độc lập quốc gia, tranh đấu cho hòa bình, chấm dứt chiến tranh (dù phải “thông qua bạo lực cách mạng”). Ông không đi tiếp cùng những người trong hàng ngũ của ông trước đây để cùng tiến lên xã hội chủ nghĩa và thiên đường cộng sản. Đó là sự chọn lựa dứt hoát của ông sau 1975, vẫn xung khắc, quyết liệt như nước với lửa! Hành động “rã ngũ” của ông, dù bao gồm cả “bất mãn, thất vọng, như bị tình phụ”, còn là một sự chọn lựa của ý chí và lý trí.
Sau 1975, ông chuyên chú vào viết văn nghị luận, tranh luận, ký sự và làm thơ. Hai bài thơ dài ông đăng ở trang mạng Diễn Đàn (Pháp) năm 2011 hừng hực LỬA, minh chứng thêm cho hành động “rã ngũ” của ông.
Thêm một bằng chứng cho thái độ quyết liệt của ông khi ông phản bác với người nhắc đến danh hiệu liệt sĩ của nhà thơ Ngô Kha. Ở tập IV, trong bài “ Lời Tiễn Nguyễn Văn Phụng”, điếu văn đọc trước tang lễ của nhà thơ Nguyễn Văn Phụng, một nhà thơ, chủ tịch ban đại diện sinh viên đại học văn khoa thuộc đại học Huế những năm 1970, ChS đã nói: “...chúng ta ai cũng biết, sinh thời thì anh Phụng làm nhiều thơ, nhưng đọc hết thơ anh thì không phải bất cứ ai. Tôi xin đọc một đoạn thơ anh về một con người khá quen thân với chúng ta: anh Ngô Kha. Bài thơ có tựa đề “Ký ức về con sông và người thi sĩ bị giết”. Ở đầu bài thơ, anh Phụng lại ghi là viết để tặng liệt sĩ Ngô Kha. Xin lỗi anh Phụng, cho tôi thay từ liệt sĩ thời thượng của anh bằng từ thi sĩ...” (tập IV, trang 348).
“...Thưa các anh chị:
Quả tình như nhiều người trong chúng ta biết đó: Có bao giờ Ngô Kha chịu xếp hàng, đội nón, đeo huy hiệu và chịu để trước tên mình một từ nào khác ngoài từ thi sĩ đâu? Ngô Kha đã sống và chết trước sau như một thi sĩ thôi. Không là gì khác cả. Chỉ là thi sĩ thôi. Đơn độc và bi tráng biết chừng nào”. (tập IV, trang 350).

Cái chết của một thi sĩ. Bửu Chỉ
Rõ ràng là tính khí của ChS, xung khắc như nước với lửa.
Trước> vong linh bạn, ông như “LỬA” đốt lòng đau, bảo vệ lý tưởng của Ngô Kha, mà trong lần đầu tiên gặp gỡ lãnh đạo của ông trên núi Truồi, ông đã xác định: “Tôi và Ngô Kha giống nhau: đều tham gia kháng chiến sau biến cố tết Mậu Thân, vì độc lập, vì hòa bình, không vì lý tưởng Cộng Sản”. (tập I, trang 265).
“II. AI KỂ CÔNG, TA KỂ TỘI...”
Tôi vẫn còn nhớ, những tháng năm sau 1975, một người được ChS có đôi lần nhắc đến trong các bài viết của mình là cơ sở cách mạng ở Huế, anh L. T. Q., trước hiện tượng xum xuê tâng công của một số “cán bộ nằm vùng”, anh thường mỉa mai “ai kể công, ta kể tội. Công riêng ai đó, tội ta chung”. Thật vậy, nhớ lại những năm tháng “hồ hởi, phấn khởi” sau ngày toàn thắng ở thành phố Huế, không ít những người hoạt động bí mật, hoặc công khai trong lòng đô thị cũ, họ được các cơ sở cách mạng , kể cả một bộ phận quần chúng, che dấu, nuôi dưỡng...để họ tránh được bắt bớ, tù đày...để công khai hoạt động hoặc “lên xanh”...Nhưng sau khi chiến thắng, trở thành “ông này, bà nọ”, họ lánh, hoặc tránh mặt, hoặc lên mặt “lập trường” với chính những người đã cưu mang, giúp đỡ họ! Hiện tượng nầy, trong những bài viết cuối đời của anh Hạ Đình Nguyên, một trong những lãnh tụ của sinh viên tranh đấu Sài Gòn, chủ tịch Ủy Ban Hành Động Sinh Viên Học Sinh Sài Gòn-Gia Định, đã xấu hổ thốt lên với chữ “ngượng” đầy ăn năn chua xót! Bài thơ dài của ChS mang tựa đề “Cuộc Nói Chuyện Dài Với Đứa Văn Nô”, là một văn tế sống kể tội vong ơn bội nghĩa với những đoạn như mưa sa, gió tạt, sóng xô:
“...Xóm làng/phố thị/chùa miếu/nhà thờ
Nơi mi ghé ở đậu/vận động tuyên truyền/bàn mưu tính kế/thôi thúc đấu tranh/hàn huyên tâm sự
Biết bao kẻ nhường cơm/biết bao người sẻ áo
Có kẻ nhận mi/là chồng/lànvợ/là con/là anh em họ hàng ruột thịt
Có kẻ ngụy trang mi/là chúa/là phật/là thần/là quỉ
Có kẻ bưng cứt/có kẻ đổ đái/biết bao kẻ tan cửa nát nhà/biết bao người tiêu tùng cơ nghiệp/biết bao kẻ lòi xương nát thịt/biết bao người chết chóc đọa đày.”...
Cái con người “nằm vùng”, “hoạt động công khai trong lòng địch” mà ChS mô tả, sau chiến thắng “...mặt mi tròn/ da mi bóng/ bụng mi phệ/ ...mi hí hửng/ thỏa thuê/ mi khoác lác/ đầu mi nghếch/ mắt mi nheo/ ...” (Quê Nhà, trang128).
ChS đã dành trọn gần 100 trang của tập I, tập đầu tiên trong 4 tập của toàn tập để viết về Gia Đình Cơ Sở ở Huế. Nhắc nhớ như cách của ChS phải chăng đó cũng là một cách để lương tâm người viết đỡ cắn rứt trước những cuộc “đổi đời” sau 1975! Gia đình cơ sở là gì? Theo ChS định nghĩa: (dĩ nhiên là đúng với đường lối của Đảng mà ChS được lĩnh hội) “Gia đình cơ sở là tất cả mọi thành viên trong gia đình ấy: già trẻ lớn bé, con gái, con trai, dâu rể, cháu chắt đều một lòng một dạ đi theo kháng chiến. Tìm được một gia đình như thế trong một thành phố tạm chiếm là không dễ dàng gì...” (tập I trang 90). “...Bởi vì nuôi dưỡng, che chở cán bộ, chứa chấp vũ khí, in ấn tài liệu...là chấp nhận tan gia bại sản, bắt bớ tù đày, tra tấn chết chóc...”. ChS đã viết về 6 gia đình cơ sở thuộc “tầng lớp trên” ở thành phố Huế. Tôi được biết là trong số 6 gia đình mà ChS viết, chỉ có 1 gia đình được chọn để dăng vào cuốn “Phong Trào Đô Thị Huế 1954-1975: Hồi ức và Tư liệu” do Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Huế, khóa XII, nhiệm kỳ 2020-2025 chủ trương biên soạn.[2] Gia đình cơ sở được đưa vào tập sách được sự cho phép của đảng bộ thành phố Huế là gia đình số 4 mang tựa đề: Gia đình ông Nguyễn Hữu Đính. Trong 5 gia đình cơ sở còn lại có 2 gia đình cơ sở mà vì “kỵ húy”, “chính sử” chắc sẽ không bao giờ công khai. Thế nhưng, ChS đã viết, đã “trăn trở”, đã đòi “phản biện”: Đó là gia đình cơ sở số 5: Gia đình ông Nguyễn Thúc Tuân. Gia đình cơ sở số 6: Gia đình ông Hoàng Bá. Dù không phải là một luật sư, nhưng ChS đã tường thuật, tranh cãi, phân tích “vụ phá án gián điệp Nguyễn Thúc Tuân”, đã đi gặp trực tiếp để tận mắt nhìn thấy một khối “tài liệu” kêu oan, cháy lòng nghe tâm trạng của “tội phạm” hay “oan phạm”(!) Nguyễn Thúc Tuân: “...Tôi không thể chết được. Tôi phải sống để xóa cho được cái lưới nhục nhã mà người ta cố chụp lên đầu tôi và gia đình tôi...” (tập I trang 118). Ông Nguyễn Thúc Tuân đã bị tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên (nhập 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) kết án làm điệp viên, bị kết án 18 năm tù. Nỗi chua chát mà ChS nêu ra là : “Sau lưng ông Tuân là các ông ... và hằng trăm cán bộ cộng sản trước 1975 hoạt động nội thành trong phong trào đô thị hết thời thất thế biết ông Tuân oan mà không dám hó hé...” (tập I trang 131). Biết đồng chí, đồng đội của mình “OAN MÀ KHÔNG DÁM HÓ HÉ”, thật cay đắng, chua xót “ai kể công, ta kể tội...” của một thời không thể nào quên. Điều trớ trêu là tòa án của tỉnh Bình Trị Thiên đã kết án 18 năm tù. Ông Tuân đã “thọ án” (ở tù) được 5 năm, sau khi tỉnh Bình Trị Thiên tách trở lại thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thì “tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế đã quyết định xóa án cho Nguyễn Thúc Tuân, xem ông chưa từng có tội” (tập I trang 159). Có tội rồi lại vô tội, cả hai bản án đều được tuyên án dưới các tòa án nhân dân của nước cọng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Rõ ràng chỉ có thể có dược dưới nền tư pháp xã hội chủ nghĩa!!!
Gia đình cơ sở Hoàng Bá là gia đình số 6 mà ChS đề cập. Ông Hoàng Bá là bác sĩ, là người “xanh vỏ, đỏ lòng’, ông ủng hộ kháng chiến, đã là cơ sở của Thành ủy Huế từ 1954...” (tập I trang 162). Bác sĩ Hoàng Bá đã bị bắt cùng ngày cùng giờ với ông Nguyễn Thúc Tuân (1978) mà theo bài viết của ChS là “người bị hại gián tiếp bởi mảnh giấy vụn cháy dở còn sót lại trong sọt rác của “Trung tâm văn hóa thông tin Mỹ” ba năm sau cuộc tháo chạy tán loạn của Hoa Kỳ và đồng minh...”(tập I trang 159). Ông Hoàng Bá ở tù cho đến năm 1981(3 năm) rồi được “thả với giấy ra trại ghi “bị bắt không lý do” (tập I trang 166). Lại oái oăm, cay đắng thay, lần nữa!!!
Mấy ai có “đảm lược” như ChS! Viết về những gia đình cơ sở như thế, chắc chắn lòng ông phải sôi sục NƯỚC, hừng hực LỬA , cuồn cuộn SÓNG...
III. HÒA GIẢI, HÒA HỢP, “CHỈ LÀ MƠ QUA” (2)
Sau lần được đưa “lên xanh” tại núi Truồi, hành tung của ChS đã bị lộ, nên lãnh đạo của ông đã đổi địa bàn hoạt động cho ông. Công tác mới của ông là “lên chiến khu hoặc vào đứng chân ở Sài Gòn làm gạch nối giữa phong trào trong đó và phong trào miền Trung – Huế” (tập II trang 9). ChS đã chọn vào Sài Gòn với nhiệm vụ là đi nối kết các thành phần nhân sĩ trí thức, sinh viên trong các tổ chức gọi là “lực lượng” hay “thành phần thứ 3” ở Sài Gòn với Huế và các tỉnh miền Trung. Như vậy, theo như tự sự của ChS trong bài “Không Lên Núi” đăng ở phần đầu của tập II, phụ chú dưới nhan đề là hai câu thơ được trích trong bài Hành Phương Nam của Nguyễn Bính: “Người sang bên ấy sao mà lạnh/ Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi!”. Phải chăng là lời tiên tri tâm trạng của ChS, người tự nhận là “đi làm thành phần thứ 3”. Tâm trạng nầy được ông tự vấn sau cuộc “Nam tiến” của một “Việt cộng” bất đắc dĩ đi Sài Gòn trót lọt (tập II trang 19): “...Lực lượng thứ ba, thành phần chính trị thứ ba, công cuộc hòa hợp hòa giải dân tộc và chính phủ liên hợp ba thành phần là một khả năng hay chỉ là giải pháp giai đoạn, thậm chí là thủ đoạn bịp bợm đối với người này, là giấc mơ hoang đường với kẻ kia...” (tập II trang 19).
ChS đã tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi, “móc nối”, “giật dây” bao nhiêu người là trí thức, nhà tu, cha cố, chính trị gia...trong khát khao được thấy chiến tranh chấm dứt, hòa bình, hận thù hóa giải qua cơ sở Hiệp Định Paris thành lập chính phủ liên hợp 3 thành phần... Những khao khát cháy bỏng của những thành phần nói trên, kể cả quần chúng, ChS hiểu rõ. Ở một mặt khác, ChS lại hiểu thấu “lòng dạ” của phía mà ông phục vụ, biết “tim đen” họ nghĩ về cái gọi là “lực lượng hay thành phần thứ 3” mà ChS đang xả hết tâm trí phục vụ “... coi nhau như bạn bè thân thiết, nuôi nhau từng bữa ăn, chia nhau từng tấm áo, từng quyến sách, tờ báo, bản nhạc bài thơ. Hạnh phúc biết bao những ngày ngu dại, mê lầm ấy. Những ngày hạnh phúc mê lầm, ngu dại ngắn ngủi ấy khiến chúng tôi sau này băn khoăn, ray rức, giằng xé cả phần đời còn lại”. (tập II trang 83).
Đọc ChS, tâm trạng “ray rức, giằng xé cả phần đời còn lại” có phần chân thật. Ở nhiều thời điểm khác nhau trong suốt cuộc đời của ông, có lúc ông “băn khoăn”, “lấn cấn” với bản chất của cuộc chiến tranh mà ông đang tham gia. Trong lần gặp sau cùng với lãnh đạo của ông tại Sài Gòn lúc tình hình chiến sự và chính trị đã sắp đến hồi kết thúc, nghiêng hẵn thắng lợi về cho phía Hà Nội, ông đã nói với lãnh đạo của ông: “Chiến tranh trên đất nước này ngoài yếu tố ngoại xâm còn có yếu tố mâu thuẫn nội bộ dân tộc.Trong cuộc chiến tranh xâm lược to lớn còn có cuộc nội chiến nhỏ lồng vào. Cuộc tổng tấn công ấy có thể dứt điểm yếu tố ngoại xâm mà chưa dứt điểm yếu tố xung đột ý thức hệ trong lòng dân tộc...” (tập II trang 97). Nêu lên nhận định về yếu tố nội chiến phải chăng ChS muốn bảo lưu chủ trương chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc mà, nghe theo đảng, ông đã đi tổ chức, vận động “lực lượng hay thành phần thứ ba” ở Sài Gòn và Huế?!
Nhưng hỡi ôi, cuối cùng “HÒA GIẢI, HÒA HỢP” cho tận hơn 50 năm sau vẫn “CHỈ LÀ MƠ QUA”! Phải chăng đó là nỗi thất vọng lớn lao như “bị tình phụ” như nhà văn Trần Doãn Nho đã viết về ông trong bài đã được trích dẫn ở phần trên.
Có lẽ chỉ cần nghe thêm tiếng than, nỗi ân hận vào lúc sắp cuối đời của một trí thức được ChS “móc nối” làm “người của kháng chiến”. Đó là tiến sĩ báo chí Huỳnh Văn Tòng, giáo sư Đại Học Vạn Hạnh, về những lời kêu gọi của họ vào trưa 30 tháng tư trên đài phát thanh Sài Gòn về Hòa Hợp Hòa Giải. Giáo sư Tòng đã nhớ lại: “Lời kêu gọi ấy sau hơn một phần ba thế kỷ chắc câu chữ có thay đổi do ký ức hao mòn nhưng nội dung vẫn trước sau như một. Làm sao quên được khi tôi biết chắc chắn rằng nhiều người trong số học trò, bạn bè, bà con thân thuộc và cả một số quen biết tôi gián tiếp vì lời kêu gọi ấy mà tin tưởng, mà ở lại để rồi phải chịu đọa đày, sỉ nhục, đói khổ, tù đày, tuyệt vọng, chết chóc. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do đàng Cộng sản tiến hành sau 1975 đã biến tôi thành kẻ lừa dối. Thậm chí có một cô học trò đã nói thẳng vào mặt tôi rằng: “Ông đích thực là một tên cò mồi. Gia đình tôi vì ông mà sập bẫy”. (trích Nói Lời Phải Chăng, tập IV, trang 183).
Ôi giấc mơ Hòa Giải Hòa Hợp !
Có chăng ‘CHỈ LÀ MƠ QUA”!
Ước mơ chân thành, lãng mạn, “hoang tưởng”, “bịp bợm” cứ mỗi năm khi nhắc nhớ về Hiệp Định Paris 1973, chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, ước mơ lại theo từng lớp người đã từng mơ ước, mơ tưởng, hoang tưởng ngày đó đi về huyệt mộ sâu...
IV. CHU SƠN TOÀN TẬP & TOÀN BỘ TÁC PHẨM CỦA CHU SƠN: VÀI GHI NHẬN CHỦ QUAN

Hình bìa trước và bìa sau hộp đựng sách
Mặt trong của cánh bìa sau mỗi tập sách, phần tác phẩm, phần thơ, Chu Sơn ghi: Quê Nhà (thơ xuất bản năm 1964), Giữa Lòng Việt Nam (thơ 1965 không xuất bản được vì bị kiểm duyệt) và Giằng Xé (thơ) nhưng không tìm thấy năm tháng xuất bản và không có trong hộp đựng sách. Như vậy, cho đến nay, ông chỉ có một tập thơ duy nhất là tập Quê Nhà ra mắt bạn đọc.
Toàn bộ tác phẩm của ông còn lại đều văn xuôi. Ông viết đủ thể loại: chính luận, biên khảo, tự sự (hồi ký), bút ký, đọc và phê bình sách. Những bài ông viết dài, khá dài, trích dẫn tham khảo nhiều nguồn tài liệu, gặp gỡ trực tiếp hoặc phỏng vấn, giúp người đọc, nhà nghiên cứu có thêm tài liệu, chứng cứ để đối chiếu. Lược qua toàn tập, những bài sau đây, theo chủ quan của tôi, có những giá trị tài liệu, sử học và văn học:
1. Về chính trị, xã hội, tôn giáo đáng chú ý là những bài : Hiệp định Genève và giải pháp “cho” Việt Nam (tập I).
Đặc biệt ông nghiên cứu sâu về “Phong trào Phật giáo miền Trung- Huế từ Chấn hưng đến Dấn thân” in thành tập 3, hơn 300 trang, gồm 8 chương, không kể phần dẫn nhập và kết luận. Bài “Pháp nạn – ma chướng trong chế độ cộng sản” (tập 4) phơi bày chính sách “tôn giáo vận” của đảng cộng sản khá đầy đủ.
2. Về văn hóa, văn nghệ: bài biên khảo về “Tập san Ngày Mai – nhóm Ngày Mai và Phong trào Hòa Bình tại Huế (1954) (tập 1). Các bài bút ký về họa sĩ Bửu Chỉ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Đinh Cường (tập 4). Đặc biệt trong bài “Nhân ngày giỗ đầu của Đinh Cường nhớ Đỗ Long Vân, Quán Bạn và cát bụi Quê Nhà” (tập 4) đã ôn lại những kỷ niệm, sinh hoạt rất đặc biệt của một số trí thức văn nghệ sĩ đang sống ở Huế, nhắc nhớ không khí “thao thức”, “trăn trở” của họ trước viễn ảnh rất gần của chiến tranh đang như mây mù sắp đổ ập xuống quê hương.
3. Bài “Ngô Kha và cuộc trò chuyện cuối năm” (tập 2) là bài đã đăng trước đây ở trang mạng Talawas và Da Màu gây một số tranh cãi vì cho rằng tác giả (ChS) không thể nào nhớ trọn vẹn và trung thực được những lá thư mà Ngô Kha đã viết và gởi cho ChS trên giấy bao trà Tam Hỷ và bao hương (một ẩn ý của nhà thơ Ngô Kha: chữ “HỶ” trong tam hỷ là muốn nói đến niềm vui Hòa Bình Thống Nhất. Bao hương phải chăng là “điềm” báo trước cái chết “bi tráng” của một thi sĩ siêu thực với tập thơ “Ngụ Ngôn Người Đảng Trí”!). Về vài sự tranh cãi nói trên, nhà văn Phùng Nguyễn (1950-2015), một trong những trụ cột chính của trang mạng Da Màu, đã có nhận xét “Đọc Chu Sơn là đọc giữa hai dòng chữ). Riêng tôi, là một trong những học trò của nhà thơ Ngô Kha, đọc hết bài “Ngô Kha và cuộc trò chuyện cuối năm” của ChS, tôi vẫn nhận ra đúng lời nói, phong cách, suy tư, trăn trở của nhà thơ Ngô Kha về thời cuộc, chiến tranh và hòa bình.
4. Bài “Nói Lời Phải Chăng (trò chuyện với tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng nhân ngày 30 tháng tư) (tập 4) có rất nhiều chi tiết đáng suy ngẫm vì người được trò chuyện là một trong những trí thức đã “nôn nóng” muốn được “góp phần” vào công cuộc chấm dứt chiến tranh, hòa bình, hòa giải hòa hợp dân tộc, nên chấp nhận đứng vào “hàng ngũ” mà ChS đi vận động để rồi “cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do đảng Cộng sản tiến hành sau 1975 đã biến tôi thành kẻ lừa dối...”. Đáng tiếc là bài viết được công bố sau khi người được trò chuyện đã qua đời nên có một vài chi tiết không được đối chứng.
Ngoài ra, một số bài biên khảo về “Nhà rường ở Huế”. “Dinh Tân Xá, ngôi nhà rường kiểu Huế cổ xưa nhất Sài Gòn” (tập 4) là những bài có giá trị.
6. Riêng tôi, tôi chú ý và thích thú với 2 bài bút ký ngắn về hai nhân vật mà ChS gọi là “con chim lạ”: Hoàng Khởi Phong và Hà Huy Đỉnh (tập 4). Nếu tôi được quen biết họ, họ là những “cổ vật” quý trong bộ sưu tập của tôi.
7. Toàn tập còn nhiều bài hay tùy theo người đọc. Riêng tập Đọc Sách, dày hơn 450 trang, đọc 3 cuốn sách (Việt Nam – 1945-1995 của giáo sư Lê Xuân Khoa, phát hành ở Mỹ. Người Mỹ Lợi đọc “ Địa chí làng Mỹ Lợi”. Trịnh Công Sơn – Một người thơ ca – một cõi đi về, do nhóm biên soạn: Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến). Cách đọc sách của ChS rất độc đáo. Ông đọc, ông tranh luận (cùng tác giả Lê Xuân Khoa) quyết liệt, Nước và Lửa đến mức tác giả cuốn sách xin chấm dứt tranh luận vì “lý do sức khỏe”! Hai cuốn kia, ông chỉ thẳng những điểm sai, những chỗ “tô hồng”, những chỗ “ngụy tạo”. Rõ là tính khí của ChS: vẫn như NƯỚC với LỬA.

Nhà thơ Chu Sơn: Trảy lá mai chờ Xuân
(Ảnh từ Facebook của chị Nguyễn Thị Kim Thoa, hiền thê của nhà thơ Chu Sơn (Jan 29, 2025)
Nhà văn nhà thơ Chu Sơn năm nay đã 83 tuổi. Ông đang sống với gia đình tại Sài Gòn.
Trong lúc viết bài về Chu Sơn Toàn Tập, tôi nhận được một trao đổi ngắn với một người cùng thế hệ của ông, có ít nhiều liên hệ “công tác” với ông trước 1975. Thư có đoạn: “...anh ChS là người có cá tính nhưng không khó đến mức nầy mức nọ làm cho mọi người khó gần anh. Cách nói chuyện cũng như cách viết lách của anh có cái riêng, rất sâu sắc và hấp dẫn, có lúc anh nói đùa mà như thật, có lúc phê phán thẳng thừng theo kiểu vạch mặt chỉ tên đến cùng, thường người không ưa gọi là kiểu chỉ trích máy móc...Vì thế , những người mới quen biết anh hoặc người chưa hiểu anh thì không thích, có khi lại khó chịu...”. Đọc đoạn thư trao đổi trên, khiến tôi nhớ đến Linh Mục Vũ Khởi Phụng trong bài tiễn đưa giáo sư Nguyễn Ngọc Lan về nước Chúa: “...Anh nói và viết nhiều điều sâu cay về người này việc nọ, mà người ta vẫn quý anh, là vì trước khi thốt ra những điều sâu cay, thì trong thâm tâm anh là người đau đớn trước tiên...”.
Nghĩ về ChS, tôi nhận ra cái cách “phê phán thẳng thừng”, cái cá tính xung khắc như “lửa” với “nước” của ông, cũng như giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, vì là trước khi “phê phán thẳng thừng”, “ chỉ trích máy móc” thì trong thâm tâm của ông đã là người đau đớn trước tiên...
Vì xa cách, không có dịp để chụp chung tấm hình kỷ niệm cùng ông, nhưng khi viết về toàn tập và toàn bộ tác phẩm của ông, tôi vẫn cảm thấy ấm lòng theo chút tro tàn của “LỬA”, chút mát lạnh của NƯỚC, và chút âm vang của SÓNG do toàn tập của ông mang lại...
Xin chúc ông thôi không còn “giằng xé” nữa cho phần đời còn lại của mình.
Xin hãy an lòng, dẫu cho ngày xa xưa ấy:
“Người sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi!”
(Hành Phương Nam – Nguyễn Bính).
Trần Đình Sơn Cước
Sunnyvale, July 2026
___________________________
(1) Nỗi Huế - Trần Doãn Nho: damau.org
(2) Phong Trào Đô Thị Huế 1954-1975: Hồi Ức & Tư Liệu. NXB Thuận Hóa 2024. Trang 559-604
(3) Lời trong nhạc phẩm “Bên Cầu Biên Giới” của Phạm Duy
Các thao tác trên Tài liệu


