Bạn đang ở: Trang chủ / Sáng tác / Đọc lại Kinh Cầu Nguyện

Đọc lại Kinh Cầu Nguyện

- Tru Sa — published 24/06/2026 18:24, cập nhật lần cuối 24/06/2026 18:24

Đọc Lại Kinh Cầu Nguyện

Tru Sa



Trong số những nhà văn thuộc giai đoạn 20 năm miền Nam, với tôi, Dương Nghiễm Mậu là trường hợp phức tạp nhất, từ văn phong, bút pháp đến tư tưởng, ông mở đầu văn nghiệp với truyện ngắn Rượu, Chưa Đủ, bài viết được Mai Thảo nhặt từ thùng rác, đăng trên tờ Sáng Tạo, từ đó Mậu thành khách văn triển vọng trên văn đàn. Lấy Máu, Những Chuột, Cũng Đành Mậu khái quát những lằn ranh của bạo lực và thảm họa, Tuổi Nước Độc là sự thiên truyện của tuổi trẻ bấp bênh, gợi nhớ đến Bắt Trẻ Đồng Xanh (J.D Salinger) và Màu Xanh Trong Suốt (Ryu MuraKami) Gia Tài Người Mẹ chiếu lên thước phim về chiến tranh, mẹ Việt và những đứa con Việt con lai, tiểu thuyết cộng hưởng với bài hát Gia Tài Của Mẹ của Trịnh Công Sơn tạo ra một thứ trầm âm đau đớn về số phận người Việt, Con Sâu nối dài Gia Tài Người Mẹ nhưng không còn trong gia đình mà đi sâu vào tâm hồn mỗi cá nhân, ai cũng như cái cây đang bị sâu đục, thứ sâu-ăn thủng từ thời cuộc và ấu trùng sâu lớn dần trong chính ta, 4 kẻ xưng tôi hay cái tôi chia 4, mảnh người nào cũng đau thương, với thể loại lịch sử thì Mậu có Từ Hải ngoại truyện, Kinh Kha, con chủy thủ và đất Tần bất trắc, tùy bút thì có Địa Ngục Có Thật, viết về Huế, về Mậu Thân, chương nào dòng nào cũng mới mẻ, sống động, cảm xúc và giàu lòng trắc ẩn, tôi không thể nhặt ra câu chữ nào mang ý giận giữ, thù hằn, nếu phải vinh danh người viết về Mậu Thân hay nhất thì tôi xin xướng tên Dương Nghiễm Mậu. Ở trên, tôi tạm lướt qua về Dương Nghiễm Mậu như cái lễ phải làm của hậu bối. Chất văn của Mậu lạ và mới, ngôn ngữ biến ảo theo hình ảnh nên dù mù tịt về lịch sử, hoặc không quan tâm, quẳng vấn đề chiến tranh ý thức hệ sang một bên thì người đọc vẫn bị cuốn vào thế giới tưởng tượng màu mỡ của ông. Ở đây, tôi muốn nói đến truyện ngắn Kinh Cầu Nguyện, thứ mà tôi phải đọc đi đọc lại rất nhiều lần, đến bây giờ, ngồi viết cũng phải lật sách đọc lại, vẫn thấy mình chưa hiểu hết dụng ý tác giả.

Kinh Cầu Nguyện kể về một người khách đi từ phía ngoại ô Châu Thành đến căn biệt thự cho thuê, chủ nhà là một tay giang hồ đã phóng hạ đồ đao tìm đến kinh phật, căn nhà chia nửa, khách một bên, chủ một bên, mỗi chiều chủ lại gõ mõ tụng kinh, khách nghe đến thuộc lòng, một hôm, đứa con gái đi hoang của người chủ về, ông đuổi, khách đi đâu đó một thời gian, quay về thì người chủ đã qua đời, lúc ra mộ tụng kinh thì khách chẳng nhớ nổi chữ nào. Cốt truyện Kinh Cầu Nguyện chỉ có thế, cách dụng bút trong truyện cô đọng, ít thông tin, không bào sâu vào tâm lý, ngôn ngữ nhẹ hều chỉ kể và kể, khách quan, mang yếu tố điện ảnh, chính bởi kỹ thuật viết dạng máy quay như vậy mà truyện tạo ra nhiều chi tiết ẩn, phải mày mò mới thấu được.

Về bối cảnh nhân vật, người chủ từng là tướng cướp, ma cô vô số người đã chết hay ở tù vì ông, sau thì tu tại gia, người khách gần như vô danh tính nhưng qua các tình tiết hay đi lang thang, mang theo sách và đàn, nhìn đàn chim lại nhớ bạn bè, có thể đoán khách là một lãng tử, một nghệ sỹ thất chí muốn lui về ở ẩn. Hai bối cảnh ngược nhau đều có chung mục đích quên đi quá khứ nhưng vì tính cách, tâm hồn của bạo nhân và nghệ sỹ có quá nhiều khác biệt nên sự đón nhận kinh kệ cũng khác nhau.

Người chủ ngày nào cũng tụng kinh gõ mõ, lần nào cũng phải mở sách ra đọc, ngày nào cũng vậy, không biết đã bao nhiêu năm chiều nào người chủ cũng tụng niệm bằng cách nhìn xuống bài kinh cầu nguyện, sám hối, cầu phúc. Đến khi người con gái trở về cùng đứa con, mong được cha tha thứ thì người chủ đuổi thẳng cổ.

Lời tụng cứu khổ cứu nạn hàng chiều thay bằng tao không tha gì cả. Đi đi ngay cho khuất mắt tao. Đồ giời đánh thánh vật. Đồ đĩ ngựa. Chó đẻ bước ngay…

Tiếng mõ từ bi đại phúc mỗi chiều trở thành Không lạy van gì cả. Khi xưa đã không nghe lời tao, ngứa nghề theo trai, làm đĩ. Con tao không phải như thế. Tao không cần con cái phúc đức gì cả…

Giọng khấn phổ độ chúng sinh ngày ngày đổi sang Câm…câm…tao bảo bước ngay mà. À hà, tao lại còn phúc đức, kiếp sau…từ bi…tao giết khối người rồi còn không sợ tội nữa là cho mày chết thêm đi…Thấy người con lì quá, chủ vác cái dùi cui chuông đập vào cửa, nếu cô không chạy chắc đã gục một đống. Gương mặt đỏ ửng, trợn trừng, miệng xè nước bọt đã quả quyết cho việc người chủ vẫn là tay tướng cướp năm nào, chỉ khác ở manh áo tu, chủ vừa muốn xóa đi bóng dáng năm xưa, vừa muốn qua việc tụng kinh sẽ gột rửa tội lỗi, nghĩa là chủ chỉ học đòi hướng đạo chứ không hướng thiện. Nếu con gái người chủ hành nghề thân xác thì chủ là tướng cướp, người con đã bỏ nghề, muốn trở về bên cha thì chủ đã buông bỏ đầu đao, hai người có chung một hoàn cảnh nhưng xét về bản chất thì tính thiện trong cô con gái nhiều hơn. Bởi tụng kinh theo kiểu lễ chùa, cúi trước tam bảo nhưng trong lòng không có đạo nên người chủ không thuộc được kinh sách, bỏ cuốn kinh là sẽ lăm lăm cây dùi như la sát. Ác căn trong người chủ vẫn âm ỉ, lúc người chủ điên loạn cầm dùi mõ như vũ khí, cùng ý niệm muốn phang chết con gái và đứa cháu thì ông thêm một lần nữa nhập ma, tà căn cũ, mới chồng chất lên nhau, đời tu tiêu biến, còn nhân thêm ác niệm.

Người khách thuộc làu kinh cầu nguyện, do ngày nào cũng nghe, nghe mãi thành thuộc chứ chưa một lần đọc kinh. Sự thuộc làu này đến từ tâm hồn, khách mang khí chất của một nghệ sỹ, trí óc dẫu lợn cợn nhưng vẫn sạch nên dễ hấp thụ chữ nghĩa. Nghe nhiều thành quen, thành thuộc, tới mức mỗi buổi chiều khách xách đàn ra nghĩa địa ngồi đọc bài kinh nhiều lần và lấy tay gõ vào thành đàn thành nhịp, thậm chí lúc ngồi ở chỗ tàu tránh, khách gẩy đàn hát theo lời kinh. Kinh nhật tụng đi vào đầu khách, bám lại như ám ảnh cưỡng chế lời kinh át cả lời sách lởn vởn huyền hoặc, ở mặt nào đó khách đã và đang bị đồng hóa vào thói quen tụng kinh của người chủ, tôi từng có kinh nghiệm với điều này, số là, từng có thời gian hàng xóm cạnh nhà tôi luôn mở nhạc to, lặp đi lặp lại một bài, rất khó chịu, nhạc vào tai vào đầu khiến não tôi ghi nhớ, đi khỏi nhà thì trong tôi vẫn văng vẳng bài hát đó, tới mức cả khi đi ngủ, nằm mơ cũng nghe thấy, có lẽ thể trạng của tôi quá nhạy, dễ bị ám ảnh và nhân vật khách trong truyện cũng như tôi, đều là người mang thể chất nghệ sỹ mong manh. Cuối truyện, người khách đi thăm bạn bè trở về với sự thất chí Không còn cách nào khác là chui vào một cái vỏ ốc, về đến chỗ trọ thì người chủ đã qua đời, theo di nguyện thì chủ muốn để lại bộ chuông mõ tụng, bộ kinh cho khách, lúc ra mộ người chủ, gõ mõ thì thấy như chưa đọc bài kinh lần nào, đành bỏ lại bộ mõ ở mộ, đốt kinh, lên xe ngồi ở khoang xe trống, khách nhẩm đọc bài kinh lần nữa nhưng tuyệt nhiên không còn nhớ chữ nào. Bấy giờ khách mới cười thành tiếng rồi gảy đàn mà hát, một cú đổ nhào khiến người đọc ngã ngửa.

Tại sao khách lại quên hết lời kinh, bởi người chủ đã chết, không còn tiếng kinh tụng chiều hay bởi cuốn kinh đã bị đốt? Rất khó có câu trả lời, và theo cách hiểu của tôi thì sự thuộc kinh liên quan đến người chủ, do người chủ đọc kinh thành thói quen còn khách sống sát vách nghe kinh như thói quen, rồi thuộc làu, giữa đọc và nghe hình thành mối quan hệ đồng hồ sinh học, khi sự thường xuyên đến quen thuộc đó mất đi thì mọi thứ đứt phựt. Một ý hiểu khác, thì khách từ lúc xuất hiện đã nặng nề tâm tư còn kinh phật rất hiệu nghiệm cho người lạc lối, nhưng nghe thuộc khác với hiểu, bởi không hiểu nên lời kinh rồi sẽ mất đi, cười thành tiếng rồi gảy đàn mà hát, nếu hoàn cảnh chán chường là lớp trói buộc thứ nhất thì kinh cầu nguyện là lớp trói buộc thứ hai, khi hai lớp ràng buộc cùng tiêu tan thì trái tim khách được chữa lành, tiếng cười thành tiếng hát, không cần tụng niệm khách đã tự giải thoát cho mình.

Hình ảnh nghĩa địa, tiếng kinh và con đường ngoại ô xuất hiện rất nhiều trong truyện. Nghĩa trang là nơi con người sẽ đến, tiếng kinh là âm thanh tiễn con người và con đường là nơi ai cũng phải đi đi về về, khách đi con đường của người sống còn chủ đi con đường của người chết, chủ tụng kinh có lẽ là tụng trước cho ngày ra đi của mình. Phút lâm chung, chủ nhắc mãi tên người khách, di ngôn là bộ đánh mõ và cuốn kinh cho khách, đó vừa là mong muốn được kế thừa việc tu hành chưa đâu vào đâu, vừa là cảm xúc tri ân coi khách như người bạn cuối đời. Hành động đốt kinh, bỏ lại đồ tụng biểu lộ cho sự khước từ, chấm dứt mối ràng buộc thứ ba đang manh nha để sạch trôi tâm hồn thành tiếng cười, tiếng hát. Kinh Cầu Nguyện, tương tự Sang Sông của Nguyễn Huy Thiệp và Sợi Tơ Nhện của Akutagawa, đều là tạng truyện ngụ ngôn về đời và đạo của con người, theo lời đức phật thì đạo là ngón tay chỉ trăng, là phương hướng giúp con người tìm thấy sự giải thoát chứ không phải sự bó buộc, sùng kính đến mụ mị Đức Thế Tôn, trong truyện, người khách sau khi đốt kinh, vứt bỏ lớp kinh giả thì ngộ đạo còn chủ, ắt ẩn dụ cho những thế nhân hướng đạo sai đường, cứ vậy lạc lối trong trầm luân.

Viết đến đây, tôi không biết mình đã hiểu đúng, hiểu trọn giá trị của truyện ngắn chưa, tôi rất muốn gặp Dương Nghiễm Mậu để thỉnh giáo, nhưng Mậu đã thành người thiên cổ, thắc mắc của tôi và những ai đọc Kinh Cầu Nguyện cũng đành ngỏ lại trong lòng.


Tru Sa

6.2025

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us