Bạn đang ở: Trang chủ / Dịch thuật / Thơ BERTOLT BRECHT

Thơ BERTOLT BRECHT

Gửi những người mai sau


An die
Nachgeborenen

Bertholt BRECHT



Gửi những người
mai sau

Bản dịch Trần Dần



Bài thơ này (bản dịch của Trần Dần) là một trong 59 bài thơ của Bertholt Brecht, in trong tập THƠ TRỮ TÌNH BERTOLT BRECHT (nxb Hội nhà văn và Công ti Nhã Nam, 2006) xuất bản với sự tài trợ của Viện Goethe nhân kỉ niệm lần thứ 50 ngày mất của B. Brecht (dịch giả : Tế Hanh, Trần Dần, Đào Xuân Quý, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Nguyễn Quân và Quang Chiến ; biên tập : Vương Trí Nhàn)

bb


I

 

Wirklich, ich lebe in finsteren Zeiten!
Das arglose Wort ist töricht.  Eine glatte Stirn
Deutet auf Unempfindlichkeit hin.  Der Lachende
Hat die furchtbare Nachricht
Nur noch nicht empfangen.
Was sind das für Zeiten, wo
Ein Gespräch über Bäume fast ein Verbrechen ist
Weil es ein Schweigen über so viele Untaten einschließt!
Der dort ruhig über die Straße geht
Ist wohl nicht mehr erreichbar für seine Freunde
Die in Not sind?

 

Es ist wahr: ich verdiene noch meinen Unterhalt
Aber glaubt mir: das ist nur ein Zufall.  Nichts
Von dem, was ich tue, berechtigt mich dazu, mich sattzuessen.
Zufällig bin ich verschont.  (Wenn mein Glück aussetzt, bin ich verloren.)

 

Man sagt mir: Iß und trink du!  Sei froh, daß du hast!
Aber wie kann ich essen und trinken, wenn
Ich es dem Hungernden entreiße, was ich esse, und
Mein Glas Wasser  einem Verdurstenden fehlt?
Und doch esse und trinke ich.


Ich wäre gerne auch weise.
In den alten Büchern steht, was weise ist:
Sich aus dem Streit der Welt halten und die kurze Zeit
Ohne Furcht verbringen.
Auch ohne Gewalt auskommen
Böses mit Gutem vergelten
Seine Wünsche nicht erfüllen, sondern vergessen
Gilt für weise.
Alles das kann ich nicht:
Wirklich, ich lebe in finsteren Zeiten!



I.


Quả tôi sống những ngày đen tối lắm
Những lời nói ngây thơ là lời nói dại khờ
Vầng trán phẳng lì đồng nghĩa với vô tri
Ai cười đó, chính là người chưa hay tin dữ.

Thời thế gì
Mà nói đến cỏ cây
Cũng như đã phạm vào tội ác
Vì thế là bỏ ngơ đi bao nhiêu sự kinh tởm quanh mình.

Ai người đó, bình thản đi trên phố,
Chắc chẳng còn phải bận tâm về lũ bạn bè
Đang giãy giụa ở trong thất vọng.

Tôi còn kiếm được miếng ăn, đúng vậy
Nhưng hãy tin tôi: đó là chuyện rủi may,
Chẳng có gì trong công việc của tôi
Đảm bảo được cho tôi no đủ
Sự may rủi còn chừa tôi ra đó
(Còn gì thân tôi nếu may mắn bỏ lìa tôi!)

Họ bảo tôi: anh hãy uống hãy ăn!
Hãy hưởng lạc, vì anh còn có của.
Nhưng tôi uống tôi ăn sao được
Khi mỗi miếng tôi ăn
Phải cướp giật từ tay người đói,
Khi người khát thiếu cả từ cốc nước
Thế mà tôi vẫn uống, vẫn ăn.

Tôi cũng muốn trở nên nhà hiền triết
Sách cổ còn ghi hiền triết nghĩa làm sao:
Đứng ngoài mọi giao tranh trên cõi tục,
Chẳng sợ gì phao phí chút thời gian
Không dùng lực,
Lấy ơn trả oán,
Những giấc mơ đừng đem thi thố, hãy quên đi
Nhà hiền triết phải như thế đó.
Nhưng tất cả mọi điều này, tôi chẳng thể nào theo
Quả tôi sống những ngày đen tối lắm.

 

II.

 

In die Städte kam ich zur Zeit der Unordnung
Als da Hunger herrschte.
Unter die Menschen kam ich zur Zeit des Aufruhrs
Und ich empörte mich mit ihnen.
So verging meine Zeit
Die auf Erden mir gegeben war.

Mein Essen aß ich zwischen den Schlachten
Schlafen legte ich mich unter die Mörder
Der Liebe pflegte ich achtlos
Und die Natur sah ich ohne Geduld.
So verging meine Zeit
Die auf Erden mir gegeben war.

Die Straßen führten in den Sumpf zu meiner Zeit.
Die Sprache verriet mich dem Schlächter.
Ich vermochte nur wenig.  Aber die Herrschenden
Saßen ohne mich sicherer, das hoffte ich.
So verging meine Zeit
Die auf Erden mir gegeben war.
 

Die Kräfte waren gering.  Das Ziel
Lag in großer Ferne.
Es war deutlich sichtbar, wenn auch für mich
Kaum zu erreichen.
So verging meine Zeit
Die auf Erden mir gegeben war.

 

II.

 
Đến thành phố vào thời loạn lạc
Cũng vừa khi nạn đói hoành hành
Tôi đến giữa đám người đang nổi loạn lên
Và tôi cũng nổi loạn lên cùng họ.
Như thế qua đi cái quãng tháng năm
Phần tôi được sống trên quả đất.

Bữa ăn đến, tôi ăn trong chiến trận
Tôi nằm ngủ bên những kẻ giết người
Tình ái đó, tôi chỉ yêu lơ đãng
Còn thiên nhiên, tôi chẳng bận tâm nhìn
Như thế qua đi cái quãng tháng năm
Phần tôi được sống trên quả đất.

Thời tôi sống,
Bao đường sá đều đến nơi bùn lội
Ngôn ngữ phản tôi cho tên đao phủ.
Lực tôi nhỏ. Nhưng thiếu tôi, bọn chủ
Sẽ ngồi trên quyền lực chúng vững vàng hơn.
Như thế qua đi cái quãng tháng năm
Phần tôi được sống trên quả đất.

Mọi lực lượng hãy còn non yếu
Cái đích còn xa, xa lắc đàng xa.
Nhưng vẫn rõ - Dù tôi không dám nghĩ
Có thể nào vươn tới được chăng.
Như thế qua đi cái quãng tháng năm
Phần tôi được sống trên quả đất.
   

   

III

 

Ihr, die ihr auftauchen werdet aus der Flut
In der wir untergegangen sind
Gedenkt
Wenn ihr von unsern Schwächen sprecht
Auch der finsteren Zeit
Der ihr entronnen seid.

 

Gingen wir doch, öfter als die Schuhe die Länder wechselnd
Durch die Kriege der Klassen, verzweifelt
Wenn da nur Unrecht war und keine Empörung.

 

Dabei wissen wir doch:
Auch der Haß gegen die Niedrigkeit
Verzerrt die Züge.
Auch der Zorn über das Unrecht
Macht die Stimme heiser.  Ach, wir
Die wir den Boden bereiten wollten für Freundlichkeit
Konnten selber nicht freundlich sein.

Ihr aber, wenn es soweit sein wird
Daß der Mensch dem Menschen ein Helfer ist
Gedenkt unsrer
Mit Nachsicht.

 

III.

 

Các anh, những người nhô lên trên làn sóng dữ
Nơi chúng tôi có thể bị ngụp chìm
Hãy nghĩ kĩ khi các anh nhắc đến
Những yếu hèn của lớp chúng tôi
Trong những buổi tháng năm sầu thảm

Các anh đều ở đó mà ra,
Vì chúng tôi đi
Qua tất cả cuộc đấu tranh giai cấp
Thay đổi nước nhiều hơn thay đổi giày đi,
Những lúc đấy, chúng tôi thất vọng
Khi thấy bất công, mà không thấy chống bất công!

Mặc dầu, lớp chúng tôi đều biết:
Căm thù sự đê tiện
Sẽ làm khô rắn mặt ta đi!
Giận dữ sự bất công
Sẽ làm giọng người ta khản đục!

Chao ôi! Chúng tôi muốn tạo nên một thế giới thương yêu
Mà chẳng thể thương yêu nhau được.
Nhưng các anh, khi đã đến cái thời ao ước đó
Khi con người là bạn của con người
Hãy nghĩ đến chúng tôi
Cho độ lượng.

To the Coming
Generations

A ceux qui viendront
après nous



I

Truly, I live in dark times !
The innocuous word is fatuous. A smooth brow
Denotes insensitivity. If someone is laughing
It only means, that he hasn’t yet
Heard the dreadful news.

What sort of times are these, when
To talk about trees is almost a crime,
Because it is simultaneously silence about so many atrocities !
Someone placidly crossing the street
Is certainly not available for his friend
Who is in need ?

It is true : I do earn my living.
But believe me : that is the merest accident. Nothing
That I do gives me the right, to be stuffing myself full.
I have been spared by accident. (If my luck runs out, I’m finished.)

They say to me : eat and drink ! Be happy that you have !
But how can I eat and drink, when
Every bite that I eat is ripped from the mouth of a starving man, and
My glass of water is being denied to one dying of thirst ?
And yet I eat, and I drink.

I would love to be wise as well.
You can find what is wise in the old books :
To hold yourself aloof from the strife of the world, and to spend
Your brief time without fear ;
Also, to get by without violence,
To repay evil with good,
To relinquish desires, rather than fulfilling them,
These are all considered wise.
Of all this I am incapable :
Truly, I live in dark times.



I

Vraiment, je vis en de sombre temps !
Un langage sans malice est signe
De sottise, un front lisse
D’insensibilité. Celui qui rit
N’a pas encore reçu la terrible nouvelle.

Que sont donc ces temps, où
Parler des arbres est presque un crime
Puisque c’est faire silence sur temps de forfaits !
Celui qui là-bas traverse tranquillement la rue
N’est-il donc plus accessible à ses amis
Qui sont dans la détresse ?

C’est vrai : je gagne encore de quoi vivre.
Mais croyez-moi : c’est pur hasard. Manger à ma faim,
Rien de ce que je fais ne m’en donne le droit.
Par hasard je suis épargné. (Que ma chance me quitte et je suis perdu.)

On me dit : mange, toi, et bois ! Sois heureux d’avoir ce que tu as !
Mais comment puis-je manger et boire, alors
Que j’enlève ce que je mange à l’affamé,
Que mon verre d’eau manque à celui qui meurt de soif ?
Et pourtant je mange et je bois.

J’aimerais aussi être un sage.
Dans les livres anciens il est dit ce qu’est la sagesse :
Se tenir à l’écart des querelles du monde
Et sans crainte passer son peu de temps sur terre.
Aller son chemin son violence
Rendre le bien pour le mal
Ne pas satisfaire ses désirs mais les oublier
Est aussi tenu pour sage.
Tout cela m’est impossible :
Vraiment, je vis en de sombre temps !


II


I came to the cities in the Age of Disorder
When hunger was rampant.
I came among mankind in the Age of Turmoil
And I railed against it.
That is how my days were spent
That were given to me on earth.

I ate my food between battles
I lied down to sleep among the murderers
I attended diffidently to love
And looked upon nature with impatience.
That is how my days were spent
That were given to me on earth.

In my day, the streets led to the swamp.
My language betrayed me to the butcher.
There was little I could do. But the powerful
Sat more comfortably without me, so I hoped.
That is how my days were spent
That were given to me on earth.

The forces were weak. The goal
Was distant, remote.
It was plainly visible, even if I
Could never reach it.
That is how my days were spent
That were given to me on earth.


II


Je vins dans les villes au temps du désordre
Quand la famine y régnait.
Je vins parmi les hommes au temps de l’émeute
Et je m’insurgeai avec eux.
Ainsi se passa le temps
Qui me fut donné sur terre.

Mon pain, je le mangeais entre les batailles,
Pour dormir je m’étendais parmi les assassins.
L’amour, je m’y adonnais sans plus d’égards
Et devant la nature j’étais sans indulgence.
Ainsi se passa le temps
Qui me fut donné sur terre.

De mon temps, les rues menaient au marécage.
Le langage me dénonçait au bourreau.
Je n’avais que peu de pouvoir. Mais celui des maîtres
Etait sans moi plus assuré, du moins je l’espérais.
Ainsi se passa le temps
Qui me fut donné sur terre.

Les forces étaient limitées. Le but
Restait dans le lointain.
Nettement visible, bien que pour moi
Presque hors d’atteinte.
Ainsi se passa le temps
Qui me fut donné sur terre.

 


III

 
You, who will spring up from the flood
In which we have drowned
Think,
When you speak of our shortcomings,
Also of the dark times
That you have been spared.

We, who had to change countries more often
Than our shoes, walked in despair amid the class struggle,
When we saw only injustice, but no indignation.

And yet we do know :
Even hatred of baseness
Contorts the features.
Even wrath against injustice
Makes the voice hoarse. Ah, we
Who wanted to prepare the ground for friendship
Were ourselves unable to be friendly.

But you, if the world has come so far
That each person is now a helper to his fellows
Think of us
With forbearance.

 


III

 
Vous, qui émergerez du flot
Où nous avons sombré
Pensez
Quand vous parlez de nos faiblesses
Au sombre temps aussi
Dont vous êtes saufs.

Nous allions, changeant de pays plus souvent que de souliers,
A travers les guerres de classes, désespérés
Là où il n’y avait qu’injustice et pas de révolte.

Nous le savons :
La haine contre la bassesse, elle aussi
Tord les traits.
La colère contre l’injustice
Rend rauque la voix. Hélas, nous
Qui voulions préparer le terrain à l’amitié
Nous ne pouvions être nous-mêmes amicaux.

Mais vous, quand le temps sera venu
Où l’homme aide l’homme,
Pensez à nous
Avec indulgence.

  

 

A coloro che verranno

 

I


Davvero, vivo in tempi bui!
La parola innocente è stolta. Una fronte distesa
vuol dire insensibilità. Chi ride,
la notizia atroce
non l'ha saputa ancora.

Quali tempi sono questi, quando
discorrere d'alberi è quasi un delitto,
perchè su troppe stragi comporta silenzio!
E l'uomo che ora traversa tranquillo la via
mai più potranno raggiungerlo dunque gli amici
che sono nell'affanno?

È vero: ancora mi guadagno da vivere.
Ma, credetemi, è appena un caso. Nulla
di quel che fo m'autorizza a sfamarmi.
Per caso mi risparmiano. (Basta che il vento giri,
e sono perduto).

"Mangia e bevi!", mi dicono: "E sii contento di averne".
Ma come posso io mangiare e bere, quando
quel che mangio, a chi ha fame lo strappo, e
manca a chi ha sete il mio bicchiere d'acqua?
Eppure mangio e bevo.

Vorrei anche essere un saggio.
Nei libri antichi è scritta la saggezza:
lasciar le contese del mondo e il tempo breve
senza tema trascorrere.
Spogliarsi di violenza,
render bene per male,
non soddisfare i desideri, anzi
dimenticarli, dicono, è saggezza.
Tutto questo io non posso:
davvero, vivo in tempi bui!

 

   

II.

Nelle città venni al tempo del disordine,
quando la fame regnava.
Tra gli uomini venni al tempo delle rivolte,
e mi ribellai insieme a loro.
Così il tempo passò
che sulla terra m'era stato dato.




Il mio pane, lo mangiai tra le battaglie.
Per dormire mi stesi in mezzo agli assassini.
Feci all'amore senza badarci
e la natura la guardai con impazienza.
Così il tempo passò
che sulla terra m'era stato dato.

Al mio tempo le strade si perdevano nella palude.
La parola mi tradiva al carnefice.
Poco era in mio potere. Ma i potenti
posavano più sicuri senza di me; o lo speravo.
Così il tempo passò
che sulla terra m'era stato dato.

Le forze erano misere. La meta
era molto remota.
La si poteva scorgere chiaramente, seppure anche per me
quasi inattingibile.
Così il tempo passò
che sulla terra m'era stato dato.

 


III

Voi che sarete emersi dai gorghi
dove fummo travolti
pensate
quando parlate delle nostre debolezze
anche ai tempi bui
cui voi siete scampati.

Andammo noi, più spesso cambiando paese che scarpe,
attraverso le guerre di classe, disperati
quando solo ingiustizia c'era, e nessuna rivolta.

Eppure lo sappiamo:
anche l'odio contro la bassezza
stravolge il viso.
Anche l'ira per l'ingiustizia
fa roca la voce. Oh, noi
che abbiamo voluto apprestare il terreno alla gentilezza,
noi non si potè essere gentili.

Ma voi, quando sarà venuta l'ora
che all'uomo un aiuto sia l'uomo,
pensate a noi
con indulgenza.



Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss