Bạn đang ở: Trang chủ / KHKT / Arthur C. CLARKE (1917-2008)

Arthur C. CLARKE (1917-2008)

Người khổng lồ cuối cùng của "văn học dự/giả tưởng" (SF)


Arthur C. CLARKE : 
2008, năm kết thúc của cuộc viễn du không gian Odyssey


Hầu tước Arthur C. Clarke đã từ giã cõi đời vào mùa xuân 2008 ảm đạm, thọ 90 tuổi, để bước qua “cổng tinh tú”, như trước đây, vào năm 2001 của cuộc viễn du Odyssey trong không gian, nhà du hành vũ trụ David Bowman đã đưa chân quá bộ. Trong kí ức tập thể, AC sẽ được ghi nhớ là tác giả kịch bản cuốn phim bất hủ của Stanley Kubrick, nhưng đối với những người thực sự say mê thể loại văn học “SF” (Science Fiction), Arthur C. Clarke chiếm một vị trí quan trọng hơn nhiều : ông là người khổng lồ cuối cùng của dòng văn học “SF kinh điển”.

clarke

Arthur C. CLARKE (1917-2008) ảnh chụp tại nhà năm 2005 tại Sri Lanka

“SF kinh điển” là gì ? Nếu phải nói giản lược – do đó có phần phiến diện và thiếu chính xác – thì có thể tóm gọn như sau : nếu không kể các nhà văn tiền bối đã mở đường, như Jules Verne (trong Hại vạn hải lí dưới đáy biển hoặc Từ Trái Đất đến Mặt Trăng) hay Herbert G. Wells (trong Chiến tranh giữa các thế giớiCỗ máy thời gian), có thể nói thể loại này đã ra đời trong những năm 1930 tại Hoa Kì với những tập san « pulp », nghĩa là những tờ báo giá rẻ, in trên giấy xấu, như Amazing Stories hay Astounding Stories. Cụm từ khá xấu xí science-fiction (hư cấu khoa học) do Hugo Gernsback (người Mĩ) tạo ra cũng vào thời gian này. Khởi thuỷ, nó được dùng để gọi tên loại văn chương tư biện dựa trên khoa học kĩ thuật để : hoặc tạo ra bối cảnh cho những cuộc phiêu du miên viễn (những « opera không gian » mà bộ phim Star Wars là điển hình trong điện ảnh), hoặc để « ngoại suy » thêu dệt nhưng vẫn ở trong phạm vị « có thể có thật » (tức là văn học « dự tưởng khoa học », hay « SF cứng » mà Clarke được coi là bậc thầy). Tới những năm 70-80, những cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội liên tiếp dẫn tới khủng hoảng lòng tin về « tiến bộ », khiến cho thể loại « SF kinh điển » với những « khái niệm » như thám hiểm vũ trụ, du hành trong thời gian... từng bước nhường chỗ cho thể loại SF « hiện đại » hơn, với những chủ đề như quá trình của xã hội, tiến trình của loài người... Cố nhiên phải nói tới Philip K. Dick, « người biến đổi những vực thẳm nội tâm », nhiều lần đã được đưa lên màn ảnh (Blade Runner, Total Recall...) và không ít lần bị phản bội. Bước sang thế kỉ 21, dường như loại hình SF trở thành « chủng loại đang mai một », hoặc vì nó đã vắt kiệt những chủ đề độc đáo (hiện thực đã bắt kịp tưởng tượng), hoặc là nó đã hoà nhập vào dòng chảy chung của văn học : độc giả của J.G. Ballard (tác giả Đế chế mặt trời / Empire of the Sun hay Crash, do Spielberg và Cronenberg dựng thành phim), mấy ai biết rằng nhà văn này bắt đầu sự nghiệp bằng những tác phẩm « dự tưởng khoa học » ? Còn cuốn The Road (Con đường) mới đây của Cormack Mccarthy (giải thưởng Pulitzer 2007) kể lại cuộc lữ du của hai cha con sau một đại hoạ mà độc giả cũng đoán là do vũ khí hạt nhân, rõ ràng đó là một chủ đề « SF » tiêu biểu.

Ta hãy trở lại Arthur C. Clarke. Sinh trưởng trong một gia đình cha làm kĩ sư, từ nhỏ, cậu Arthur đã mê say thiên văn học, đến mức thông thuộc cảnh quan Mặt Trăng hơn cả đường đất quê hương Somerset của mình. Đang học đại học khoa học thì Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Lợi dụng cơ hội trong quân đội, Clarke làm huấn luyện viên vô tuyến, sau đó tham gia những công trình đầu tiên về radar và những thử nghiệm về đáp xuống đất do điều khiển từ mặt đất. Chiến tranh chấm dứt, Clarke vào học King's College để thi tốt nghiệp, nhưng bị « ma văn chương » hớp hồn : viết những bài báo phổ biến khoa học, và hầu như cùng một lúc, sáng tác « SF ». Là tác giả những bài báo phổ biến khoa học đồng thời là chủ tịch Hội liên hành tinh của nước Anh, Clarke đã góp phần quan trọng hàng đầu trong việc truyền bá ý tưởng thám hiểm không gian vào cuối thập niên 40, đầu thập niên 50. Tên tuổi ông được ghi vào lịch sử kĩ thuật với bài báo nổi tiếng, viết năm 1945, nhan đề Wireless World (Thế giới vô tuyến) trong đó ông tiên đoán sẽ có những vệ tinh địa tĩnh (tức là những vệ tinh nằm trên mặt phẳng xích đạo, quay cùng vận tốc quay của trái đất, nên nhìn từ mặt đất, chúng như bất động). Chính vì thế mà sau này, Liên hiệp Quốc tế Thiên văn đã vinh danh ông bằng cách đặt tên quỹ đạo địa tĩnh 35 000 km là « Quỹ đạo Clarke ». Một tiên liệu khác về viễn thông (ít nổi tiếng bằng) là tiên liệu viết trong truyện ngắn năm 1960, I remember Babylon, trong nó tác giả coi thành Babylon trong Thánh Kinh như biểu tượng của « thôn làng toàn cầu » suy đồi, bị hủ hoá vì chìm ngập trong những hình ảnh bạo lực, dâm dục mà những công ti truyền thông siêu quốc gia không ai kiểm soát nổi ngày đêm tán phát bằng vệ tinh. Thực tế ngày nay cũng không xa tình huống ấy, tuy không hoàn toàn theo chiều hướng mà Clarke vạch ra : các xã hội buông tuồng mất hết kỉ cương chưa chết trong bạo lực và dâm ô, nhưng hiển nhiên là các xã hội toàn trị có đầy đủ lí do để e ngại mạng lưới internet và những cái « chảo » (ăngten parabôn) quái ác.

Câu chuyện siêu hình


Clarke không chịu nhận danh xưng « nhà tiên tri ». Ông thường nói : « Tôi không muốn làm nhà tiên tri mà làm nhà thám hiểm. Tôi dự báo những tương lai tiềm thể chứ không muốn bói toán ». Trong khoảng một trăm tiểu thuyết và truyện ngắn đã mang lại danh vọng cho ông, chúng ta (rất) hiếm thấy những lối viết dễ dãi – như kiểu « chuyển sang siêu không gian », « bấm nút gia tốc siêu quang »... -- mà những tác giả các loại « opera không gian » như Star Wars thường lạm dụng. Trong tác phẩm của Clarke, điểm xuất phát thường là một tiên đề « có thể chấp nhận được » (thậm chí có thể thực hiện được) đứng về mặt khoa học, rồi từ đó tác giả suy diễn, ngoại suy đến tận cùng các hệ quả. Cái giá phải trả cho cách tiếp cận « công nghệ học » này là mạch tiểu thuyết dễ trở thành khô khan, đó là khuyết điểm mà ông không tránh khỏi. Cuốn tiểu thuyết đầu tiên được công bố (Prelude to Space / Khúc dạo đầu cho không gian, 1951) kể lại quá tỉ mỉ những chi tiết kĩ thuật về cuộc chuẩn bị du hành trong không gian, khiến người đọc có cảm tưởng đang đọc tập tài liệu chuẩn bị quảng cáo dụ dỗ khách hàng bay chuyến bay đầu đời. Còn một trong mấy cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, The Fountains of Paradise (Nguồn nước Thiên đường, 1979), khai thác khái niệm « thang máy không gian » làm bằng vệ tinh địa tĩnh nối liền với Trái Đất bằng một « sợi dây đơn hạt nhân ». Độ bền của sợi dây có lẽ là điều phịa duy nhất của tác giả, ngoài ra toàn bộ cuốn truyện chẳng khác báo cáo của một doanh nghiệp công nghệ. Khô khan đến mức đó thì đọc loại « opera không gian » còn đỡ chán hơn... Có lẽ cũng ý thức được nhược điểm ấy nên về cuối đời, ông thường xuyên viết chung với một đồng tác giả : một người đưa ra khái niệm cơ bản, người kia triển khai lớp lang cốt truyện. Thí dụ bộ truyện dài 6 tập Venus Prime (Trạm khởi hành : Sao Kim, 1987), viết chung với Paul Preuss, kể lại những cuộc phiêu lưu -- trong khuôn khổ ràng buộc của phong cách « SF cứng » -- của một nữ du hành gia kiêm tuyệt thế giai nhân, đóng căn cứ trên Sao Kim (mà tên Âu-Mĩ là hành tinh Vệ Nữ). Nếu phải đơn cử tác phẩm hoàn bích, kết hợp được tài ngoại suy khoa học và dàn dựng tiểu thuyết, thì có lẽ phải kể Rendez-vous with Rama (Cuộc hẹn với Rama, 1972) : các nhà thiên văn học đã phát hiện một sao chổi mới, đặt tên là Rama (tên một vị thần của Ấn Độ giáo), nhưng khi « sao chổi » tiến sâu vào thái dương hệ, đội thám hiểm bay từ trái đất mới nhận ra đó là một con tàu vũ trụ khổng lồ, tỉ như con thuyền Nô-ê, bị cái lạnh của không gian liên tinh tú làm đông giá, nhưng sẽ dần dần hồi sinh khi nó bay gần tới mặt trời ; cuốn truyện kể lại cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với tàn dư của một nền văn minh xa lạ, trước khi Rama lại bay xa vào cõi mênh mông...

Tới đây, những người say mê Odyssey trong không gian chắc đang tự hỏi liệu có gì liên quan giữa con người viễn kiến thuần lí như Descartes mà chúng tôi vừa phác hoạ chân dung với « Năm 2001 », với những giây phút xuất thần đầy chất thơ, những ẩn dụ kỳ bí, những âm hưởng siêu hình... Then chốt chính là đây : siêu hình. Clarke thú nhận là thời trẻ, cuốn sách đã làm ông xúc động « một cách cơ bản » là tác phẩm của Olaf Stapleton, Last and first men (Những con người cuối cùng và đầu tiên), kể lại lịch sử hai tỉ năm của con người, kinh qua mười tám nhân loại. Chính « xúc động nền tảng » này đã làm nảy sinh « ám ảnh siêu hình » – mà ta chớ nên lẫn lộn với tình tự tôn giáo – khiến cho tác phẩm của Clarke chứa đựng một chiều kích tâm linh không thấy nơi các tác giả « SF » khác. Bí tích của sự Sáng Thế luôn luôn cật vấn Clarke – khi ông lo sợ hay giả vờ cười cợt : trong truyện ngắn nổi tiếng, The Star (Ngôi sao, 1955), ông mô tả vấn nạn lương tâm của một linh mục Dòng Tên tháp tùng một đoàn thám hiểm tìm ra một nền văn minh đã chết trên một hành tinh cháy thành vôi sau cuộc bùng nổ của thái dương – một « nova » mà sau khi tính toán, họ khám phá ra đó chính là ngôi sao... Bethléem (trong Kinh Thánh). Chẳng lẽ Tạo hoá đã đốt cháy những gì mình sinh ra để báo tin mừng cho những sinh vật khác ? Trong Chín tỉ tên gọi của Thượng Đế (1967), những tu sĩ Tây Tạng quay mãi bánh xe cầu nguyện cũng mỏi tay, bèn quyết định sắm một máy tính siêu đẳng để tìm cho ra tên gọi chính thực của Thượng Đế... và họ đã thành công ! Còn « Câu truyện lịch sử SF trường giang chưa bao giờ kể » (1966) thì chỉ vỏn vẹn mấy chữ : « Thượng đế ra lệnh : ngừng chương trình Sáng Thế ! Thế là vũ trụ tiêu ma ».

Trước bí ẩn của sự sống, nhất là trong những truyện cực ngắn mà ông sáng tác, Clarke viết với một giọng văn khác lạ, chẳng hạn khi ông mô tả một thứ dung nham thông minh trên Thuỷ Tinh (The wind from the Sun / Gió từ Mặt trời, 1964), hoặc việc một nhà thám hiểm « có gien biến cải » đã khám phá rằng mình có thêm nhiều giác quan mới để sống còn trong những trận bão methan trên vệ tinh Titan của Sao Thổ (Saturn rising / Sao Thổ mọc, 1961). Song bí ẩn về Con Người mới là nguồn cảm hứng, cật vấn nhà văn một cách gần như kỳ bí. Trong truyện ngắn đầu tay (The Sentinel / Người lính canh, viết năm 1948, bị từ chối, 1951 mới xuất bản) kể chuyện tìm thấy trên Mặt trăng một hiện vật kì lạ, dường như ai đó, không biết từ thế giới xa lạ nào, đã cố ý chôn giấu để một ngày kia loài người phát hiện ra. Trong kiệt tác Childhood's End (Kết cuộc tuổi thơ, 1953), Clarke kể chuyện một giống người thượng đẳng (Vương chủ) bay tới Trái Đất, tiếp quản mọi việc trên thế giới, thiết lập nền hoà bình toàn cầu và đưa xã hội loài người tiến lên hạnh phúc tưởng như vĩnh hằng – tất nhiên cũng gặp sự kháng cự của một số người. Phải đến gần cuối truyện, bí mật mới được tiết lộ : Vương chủ không phải là chủ nhân gì, mà chỉ là những người đầy tớ, một giống người chuyên làm nhiệm vụ « đỡ đẻ », theo dõi sự tiến hoá của những chủng loại sinh vật thông minh, đưa họ lên một trình độ tiến hoá cao hơn, hấp thu được một « siêu tinh thần » hoàn vũ. Tên cuốn tiểu thuyết là Kết cuộc Tuổi thơ, một tuổi thơ kết cục trong sự kết liễu hoàn toàn của Trái Đất già nua, trong sự thủ tiêu toàn bộ nhân loại cũ. Mỉa mai và ác độc hơn nữa : các « Vương chủ » thì mãn đời vẫn phải sống kiếp trẻ thơ, không bao giờ được tiến lên trình độ tiến hoá cao hơn.

Không biết huân tước Arthur C. Clarke đã tiến lên trình độ cao cấp nào, chỉ biết tác phẩm của ông, từ « Người lính canh » đến « Năm 2001 », qua « Kết cuộc Tuổi thơ », trước sau vẫn là một ám ảnh siêu hình, đặc điểm độc đáo của một nhà văn mà lẽ ra phải gọi là nhà văn « duy khoa học ». Một nhà văn mà thế kỉ này sẽ không còn gặp lại nữa, với cái đà « SF » còn lại hiện nay.

Đ. T.


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss