Bạn đang ở: Trang chủ / KHKT / Điện hạt nhân ở Nhật – họa vô đơn chí

Điện hạt nhân ở Nhật – họa vô đơn chí

- Phạm Duy Hiển — published 17/03/2011 13:22, cập nhật lần cuối 12/04/2016 22:21
...Thế đấy! Không có một biên giới nào cho an toàn tuyệt đối trong điện hạt nhân cả. Lò phản ứng thế hệ nào cũng vậy, chỉ có xác suất xảy ra thảm họa khác nhau ít nhiều thôi. Cái gì do con người làm ra đều có thể bị phá đi, bởi thiên nhiên, bởi con người và nhất là bởi cả hai cùng hiệp lực. Thảm họa thiên nhiên không chỉ có động đất, chúng muôn hình vạn trạng...


Điện hạt nhân ở Nhật – họa vô đơn chí


GS Phạm Duy Hiển
(nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt)



Trận động đất 8.9 độ richter lúc 3 giờ chiều ngày 11/3 khiến các nhà máy điện hạt nhân trên đất Nhật tự động dập lò, chấm dứt tức khắc phản ứng dây chuyền bên trong các lõi lò phản ứng. Nhưng các lõi lò vẫn còn rất nóng, bởi nhiệt tỏa ra do bức xạ gamma từ vô số mảnh vỡ phân hạch được tích lũy nhiều năm bên trong các bó nhiên liệu. Nếu không kịp thời tải lượng nhiệt này đi (bằng 6% công suất lò), các bó nhiên liệu sẽ bị nóng chảy, chất phóng xạ sẽ thoát ra nước tuần hoàn vốn được dùng để tải nhiệt và làm chậm nơ trôn khi lò hoạt động bình thường.


nha-may

Sơ đồ hoạt động của một lò phản ứng hạt nhân – Đồ họa: NHƯ KHANH


Nhưng đây chưa phải là trạm dừng chân cuối cùng của các chất phóng xạ. Tuy làm bằng thép không gỉ rất dày, nhưng nếu thùng lò, nền móng bên dưới và các đường ống dẫn ra bên ngoài bị nứt hoặc hư hại do động đất, chất phóng xạ sẽ thoát ra ngoài nhà lò và từ đó tiếp tục hành trình ra môi trường khí và nước, gây ô nhiễm phóng xạ cho cả khu vực xung quanh. Liên tiếp trong bốn ngày qua, cả nước Nhật phải vật lộn với những con quái vật ấy để bắt nó phải nằm yên tại trạm dừng chân thứ nhất.

Để cảm nhận được việc này khó khăn dường nào, ta nên tìm hiểu qua nguyên tắc hoạt động của các lò nước sôi (BWR) khá phổ biến ở Nhật, và đang bị trận động đất quật ngã trong mấy ngày qua (xem sơ đồ). Lõi lò, gồm các bó nhiên liệu (2) và thanh điều khiển (3), được tải nhiệt và làm chậm nơtrôn bằng nước nguyên chất sôi ở 285oC dưới áp suất 75 atm nhờ hệ thống tuần hoàn (5). Hơi nước (4) sau khi qua hệ thống tuabin (6, 7, 9, 10) được ngưng tụ (8) để từ đó quay lại vòng tuần hoàn làm nguội lõi lò. Bộ phận ngưng hơi cần phải được làm nguội (11), nhưng bằng nước thường.

Nguyên lý an toàn của các lò phản ứng là làm sao các chất phóng xạ được nhốt chặt lại bằng nhiều lớp tường thành kiên cố, nếu lớp trước bị chọc thủng thì còn có lớp sau. Lớp thứ nhất là vỏ bọc các bó nhiên liệu (2). Nếu bức tường thành này bị thủng, chất phóng xạ sẽ thoát ra bên ngoài, nhưng sẽ bị nhốt lại bên trong bức tường thành thứ hai, đó là thùng lò bằng thép không gỉ (1) đủ dày để chống chịu áp lực và nhiệt độ cao. Nhà lò chứa thùng lò và hệ thống tuabin, máy phát (xem sơ đồ) có thể xem là bức tường thành thứ ba. Khi lò hoạt động, nước và hơi bị nơtrôn kích hoạt trở nên phóng xạ, do đó nhà lò, và đặc biệt hệ thống tuabin, phải có tường bêtông đủ dày (12) để cản xạ.

Nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) Fukushima I gồm 6 lò nước sôi, trong đó chỉ có ba lò 1, 2 và 3 đang hoạt động trước khi động đất xảy ra. Lò thứ nhất công suất 440 mêgaoát là một “ông lão” đang có kế hoạch nghỉ hưu vào tháng tư này sau 40 năm hoạt động. Nhưng nó vừa bị quật ngã nặng nhất. Động đất và mất điện lưới đã đánh gục hoàn toàn hệ thống bơm tải nhiệt và cả hệ thống làm nguội khi có sự cố. Các nhân viên vận hành lúc này phải nghĩ đến máy diesel dự phòng.

Nhưng họa vô đơn chí! Con đê chắn kiên cố phía bờ biển bị sóng thần phá vỡ, nước biển tràn vào nhà làm ngập gian nhà chứa máy diesel, nó chỉ chạy được chưa đầy một giờ rồi lịm hẳn. Nhà máy còn có hệ thống ắc quy dự phòng, nhưng chỉ đủ điện cho các hệ thống điều khiển và chiếu sáng hạn chế. Máy phát điện lưu động được điều đến trong vòng 13 giờ sau đó, nhưng không kết nối được vào các thiết bị của nhà máy bởi tầng hầm chứa các tủ điện bị ngập nước do sóng thần.

Lúc này bên trong thùng lò nước tiếp tục sôi, nhưng hệ thống ngưng hơi và bơm nước không hoạt động khiến hơi cứ đầy lên, áp suất hơi bên trong thùng lò tăng cao mà pha nước lại vơi nhanh làm nhiệt độ các bó nhiên liệu tăng cao do chúng bị phơi trơ ra khỏi mặt nước. Phải kiềm chế quá trình này, nếu không, toàn lõi lò sẽ tan chảy (melt down), một hiện tượng được xem như cơn ác mộng kinh hoàng nhất đối với những ai quản lý lò hạt nhân. Chỉ còn cách xì bớt hơi ra nhà lò để giảm áp suất bên trong thùng lò, đồng thời dùng bơm cứu hỏa, công cụ cuối cùng khả dĩ lúc này, để bơm nước biển vào thùng lò làm nguội các bó nhiên liệu. Axít boric được pha vào nước biển để hấp thụ nơtrôn, phòng khi phản ứng dây chuyền xảy ra.

Quyết định này là một sự đánh đổi táo bạo trong tuyệt vọng. Bơm nước biển vào lò chẳng khác nào khai tử lò phản ứng, bởi chlo sẽ làm mọi thứ bên trong gỉ rất nhanh. Nhưng đổi mạng sống của một “ông lão về hưu” để tránh thảm họa cho nhiều người xem ra còn “dễ quyết” hơn là làm cho các nhân viên vận hành và dân chúng bên ngoài bị nhiễm xạ khi xì hơi nước có chứa phớng xạ ra nhà lò. (Thật ra, chôn cất cái xác lò này rất không đơn giản, nhưng việc này rồi sẽ hạ hồi phân giải!).

Trên thực tế, phóng xạ ở buồng điều khiển lên cao gấp nghìn lần so với mức bình thường. Sáng 12/3, mức phóng xạ trong nhà chứa máy tuabin lên quá cao buộc lãnh đạo nhà máy phải xì tiếp ra môi trường. Mức phóng xạ đo được ở cổng nhà máy đã tăng lên hơn mười lần sau 40 phút, trước đó nhà chức trách đã phải phát lệnh di tản dân chúng khẩn cấp. Lúc này thông tin đáng chú ý nhất là phát hiện thấy hai sản phẩm phân hạch trong không khí xung quanh khu vực lò, đồng vị xêsi (Cs-137, Cs-134) và iốt (I-131).

Vậy là vỏ bọc nhiên liệu đã bị hỏng! Lõi lò đã bị tan chảy một phần. Nhà chức trách đã bắt đầu phân phát muối kali iốt để giảm nguy cơ iốt phóng xạ xâm nhập vào tuyến giáp. Máy bay trực thăng của quân đội Mỹ lượn cách nhà máy 60 dặm phát hiện ra xêsi phóng xạ, nhận được lệnh quay trở về ngay căn cứ để tẩy xạ. Các hãng thông tấn cảnh báo tính độc hại của xêsi phóng xạ. Thật ra, ngoài xêsi phóng xạ còn nhiều sản phẩm phân hạch khác độc hại hơn như stronxi (Sr-92), song không dễ phát hiện như xêsi và iốt. Cả xêsi và stronxi đều sống rất lâu, sau 30 năm chỉ phân hủy một nửa.

Lúc 3 giờ chiều ngày 12/3 một vụ nổ đã xảy ra, sự kiện không nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia ngoài cuộc theo dõi trên truyền hình. Vụ nổ đã làm tung mái nhà lò do khí hyđrô xì ra từ bên trong thùng lò kết hợp với ôxy trong không khí. Vụ nổ đã cung cấp thêm một minh chứng nữa cho thấy vỏ bọc nhiên liệu làm bằng hợp kim zircaloy đã bị thủng do ziacôn (Zr) phản ứng với nước ở nhiệt độ rất cao. Phản ứng này tạo ra khi hydrô bên trong thùng lò. Vụ nổ càng làm tăng thêm lượng chất phóng xạ tung ra môi trường. Còn nhớ, kịch bản này đã xảy ra ở Chernobyl cách đây gần đúng 25 năm, khi đó một vụ nổ khí hyđrô đã xảy ra trước khi toàn lõi lò bị nổ gieo rắc chất phóng xạ ra khắp Bắc bán cầu. May ra chuyện tồi tệ này dường như không lặp lại ở đây. Có vẻ như lò số 1 chưa bị melt down hoàn toàn.

Hai ngày sau, 14/3, vụ nổ hyđrô tương tự lại xảy ra ở lò phản ứng số 3 của nhà máy. Lò này vừa mới nạp loại nhiên liệu mới MOX chứa cả chất plutonium (Pu). Nếu nhiên liệu bị nóng chảy và phóng xạ thoát ra môi trường thì tác hại còn đáng sợ hơn nhiều, bởi Pu rất độc và sống lâu hàng nghìn năm. Hôm nay, 15/3, lò phản ứng số 2 cũng chịu số phận như hai lò trên, và mọi người đang lo việc gì sẽ xảy ra. Hình như tình hình ở đây có thể tồi tệ hơn bởi có thông tin cho biết nước đã cạn trong thùng lò. Cầu mong cho điều tồi tệ nhất đừng xảy ra.

Lại có thông tin mức phóng xạ đang dâng lên trong môi trường. Chắc nhiều người sẽ hỏi liệu phóng xạ có lan đến Việt Nam không? Từ ngày 12 đến hôm nay (15/3), và dự báo cho ba ngày tới, các khối khí xuất phát từ Fukushima luôn di chuyển về phía đông và bắc, tránh Việt Nam. Khi nào gió chuyển hướng Tây Nam, khí phóng xạ có thể lan đến Việt Nam sau 4-5 ngày, lượng phóng xạ trong không khí đến Việt Nam từ Nhật Bản sẽ giảm đi nhiều vì chúng di chuyển trong tầng khí quyển thấp (khác với trường hợp Chernobyl 25 năm về trước khi vụ nổ “hạt nhân” đã tung chất phóng xạ lên tận tầng bình lưu và đã lan đến Việt Nam).

Thế đấy! Không có một biên giới nào cho an toàn tuyệt đối trong điện hạt nhân cả. Lò phản ứng thế hệ nào cũng vậy, chỉ có xác suất xảy ra thảm họa khác nhau ít nhiều thôi. Cái gì do con người làm ra đều có thể bị phá đi, bởi thiên nhiên, bởi con người và nhất là bởi cả hai cùng hiệp lực. Thảm họa thiên nhiên không chỉ có động đất, chúng muôn hình vạn trạng. Những chuyên gia Nhật giỏi giang chắc chắn đã tính toán rất nhiều kịch bản cho các lò phản ứng nằm trên vành đai động đất của họ chứ? Nhưng sao họ lại đặt máy phát diesel dưới tầng hầm, mà giờ đây xem ra lại làm cho họa vô đơn chí! Đủ thấy con người quan trọng dường nào trong khống chế thiên tai.

Đây chưa phải là lúc bàn đến chuyện điện hạt nhân ở Việt Nam. Ưu tiên hiện nay là cần phải hiểu đầy đủ và đúng bản chất những gì đang và sẽ xảy ra với các nhà máy đang bị quật ngã đến tàn phế này. Khó lắm, bởi qua nhiều chuyện mới lạ, ngay giới chuyên gia chưa hề trải nghiệm, lại không đủ thông tin đầy đủ và đáng tin cậy để tính toán. Không trách người Nhật về chuyện này được. Mong sao những sự kiện vừa qua giúp những người có trách nhiệm học hỏi và thức tỉnh, khi chưa muộn.


P. D. H.

Bản do tác giả gửi, đã đăng trên Bauxit Việt Nam

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us