Bạn đang ở: Trang chủ Nhân vật Nhân ngày giỗ đầu của Đinh Cường...

Nhân ngày giỗ đầu của Đinh Cường...

Nhân ngày giỗ đầu của Đinh Cường,
nhớ Đỗ Long Vân và cát bụi Quê nhà


Chu Sơn



Cuối năm 1963 tôi từ Hội An ra Huế để nhận lại tập thơ Quê Nhà và giấy phép xuất bản tại nha thông tin Trung Việt. Quê Nhà là những bài thơ chống chiến tranh tôi làm trong hai năm 1962 – 1963. (Lúc bấy giờ trong đầu tôi chưa có từ phản chiến). Tôi tìm gặp Đinh Cường để nhờ vẽ tranh bìa và trình bày các thứ. Lúc bấy giờ Thích Nhất Hạnh chưa nghẹn ngào thông báo: “Sáng nay vừa thức dậy / nghe tin em gục ngã / trên chiến trường… để rồi: “ Giọt mưa trên lá / nước mắt mẹ già / lã chã đầm đìa trên xác con lạnh giá”. Lúc bấy giờ Thái Luân chưa phẫn nộ tố cáo: “… giết người mà lên lon”. Lúc bấy giờ “đại bác” chưa “ru đêm”, “người” chưa “chết hai lần,” “đàn bò” chưa “vào thành phố” như Trịnh Công Sơn mô tả và cảm nhận năm, sáu, bảy, tám, chín năm sau.

Lúc bấy giờ Huế, Sài Gòn và khắp nơi trong các đô thị miền Nam hừng hực lửa đấu tranh của hai phong trào có mục tiêu ý thức hệ riêng, nhưng tình tự dân tộc thì nhập nhằng duyên nghiệp, nợ nần mắc míu: Phong trào Phật giáo do giáo hội miền Trung khởi xướng, và Phong trào Đô thị do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Đinh Cường không tham gia phong trào nào, nhưng bạn bè và những người quen biết gần xa như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Xuân Kiêm, Nguyễn Hữu Ngô, Trần Quang Long… chẳng bao giờ vắng trong các cuộc hội thảo, mít tinh và các cuộc lên xuống đường của sinh viên, học sinh và trí thức Huế.

Tôi tìm gặp Đinh Cường tại căn phòng anh thuê trong một villa có vườn rộng phía trong trên đường Phan Châu Trinh gần dốc Bến Ngự. Các anh Đỗ Long Vân, Ngô Kha và Trịnh Công Sơn đang có mặt ở đó. Tất cả đều tỏ ra bồn chồn, khắc khoải, muốn làm một cái gì đó cho đất nước dân tộc, nhưng dấn thân vì một ý thức hệ thì ai cũng ngần ngại, e dè. Tôi trao cho Đinh Cường phong bì trong đó có tập Quê Nhà (bản đánh máy vừa mới nhận lại từ nha Thông tin Trung Việt), nhờ anh vẽ bìa và trình bày. Mọi người nhìn tôi ái ngại. Các anh đều có cùng một nhận xét: Trong lúc Huế và cả miền Nam đang sôi sục đấu tranh mà in thơ là hành động lẻ loi và lạc lõng. Tôi nói không phải các anh cũng đang lẻ loi và lạc lõng đó sao. Đinh Cường cầm phong bì, mở lôi bản đánh máy Quê Nhà, lật xem qua từng trang và nói: “Quê Nhà, Quê Nhà, nếu Quê Nhà của ông giống Quê Nhà của tôi thì tôi sẽ vẽ bìa và trình bày. Tôi phải đọc thật kỹ. Ông phải chờ ít ra một tuần”. Tuần sau tôi trở lại phòng trọ của Đinh Cường, anh trao cho tôi hai phong bì. Một trong hai là phong bì có mẫu bìa anh đã vẽ và một tờ giấy nhỏ anh viết cho ông chủ nhà in Sao Mai. Đinh Cường nói: “Tình hình này các nhà in đều gặp khó khăn, công nhân nghỉ việc, trở ngại giao thông, các nguyên vật liệu đều lấy từ Sài Gòn. Ông chủ nhà in Sao Mai là chỗ quen biết. Hy vọng ông ấy sẽ nhận in giúp ông. Ngày mai tôi vào Sài Gòn theo giấy gọi nhập học của trường Mỹ thuật Gia Định. Tôi phải ở trong đó tám chín tháng để hoàn tất một chương trình chuyên sâu tôi cần học thêm. Ông nhớ là phải chu đáo trong việc in ấn. Hình thức cũng quan trọng không kém nội dung. Không chỉ có Chu Sơn mà Đinh Cường cũng đã ghi tên mình trên Quê Nhà”. Rõ ràng Đinh Cường đã đọc kỹ Quê Nhà và chia sẻ cùng tôi những đớn đau, khắc khoải và phẫn nộ trước tình cảnh đất nước đang tiến dần đến vực thẳm chiến tranh. Trên bức tranh bìa, Đinh Cường vẽ những mảng màu đen bẩn thỉu, đó đây có những chéo hay góc sáng nhỏ trông như những con mắt lệch nham hiểm mờ ám nối kết với những vòng kẽm gai, tất cả không giới hạn trên cái nền màu vàng xám úa. Hai tháng sau Quê Nhà mới in xong trong bối cảnh miền Nam tiếp tục xáo trộn. Nguyễn Khánh đảo chánh Dương Văn Minh, chủ trương chống Cộng quyết liệt, ủng hộ Mỹ tấn công ra miền Bắc. Phật tử miền Trung tiếp tục xuống đường đấu tranh kêu đòi tận diệt Cần Lao, hình thành chính phủ dân sự và chế độ dân chủ. Tôi trao Quê Nhà cho Đinh Cường. Đinh Cường hơi buồn vì sách không đẹp. Tôi tặng Quê Nhà cho bạn bè, và tự mang sách đến ký gởi ở các tiệm sách ở Huế, Đà Nẵng, Hội An. Công việc “phát hành” và “quảng cáo” chỉ có vậy. Tôi ở trong tình thế lẻ loi và lạc lõng đúng như nhận định của các anh Đỗ Long Vân, Ngô Kha, Trịnh Công Sơn hai tháng trước. Quê Nhà chỉ nhận được những lời nhận xét nghiêm khắc từ các bạn bè chủ trương đấu tranh theo lập trường chính trị của Mặt Trận. Thậm chí có người nói thẳng vào mặt tôi rằng là “Chu Sơn chủ trương chống hết, chống cả chiến tranh giải phóng dân tộc. Quê Nhà là tập thơ “phản động”.

Dù thế nào tôi cũng tiếp tục làm thơ chống chiến tranh, và chống quyết liệt hơn.

Hai năm 1964 – 1965 tình hình ở các đô thị miền Nam chuyển biến vô cùng phức tạp. Mỹ chuyển từ chiến tranh lạnh trên bình diện toàn cầu sang chiến tranh nóng tại Việt Nam và Đông Dương. Mỹ nôn nóng tìm chọn “ngựa” cho chiến lược mới. Dương Văn Minh bị loại, Nguyễn Khánh lên với mưu đồ xây dựng chế độ quân phiệt. Phật giáo và sinh viên học sinh đấu tranh chống quân phiệt Nguyễn Khánh – Trần Văn Hương, chống các cuộc đảo chánh do các tướng tá Công giáo và Đại Việt cầm đầu, kêu đòi dân chủ và chính phủ dân sự, bầu cử quốc hội lập hiến và kêu đòi hòa bình. Công giáo xuống đường chống Cộng, chống trung lập và “bọn đầu cơ cách mạng” (ám chỉ Phật giáo miền Trung), chống chính phủ Phan Huy Quát (vì Phan Huy Quát thân Phật giáo). Phong trào Đô thị của Mặt trận Giải phóng nương “ngọn cờ Phật giáo”, châm “ngòi pháo sinh viên,” để âm thầm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Trong khi đó Mỹ hùng hổ từng bước tiến hành cuộc chiến tranh của mình: Đổ quân. Đầu năm Mỹ đổ thêm 2000 quân ở Đà Nẵng, Chu Lai (Quảng Nam). Cuối năm 1965 đã có 185.000 quân Mỹ ở miền Nam. Xã hội miền Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng từ kinh tế, đến văn hóa xã hội. Các đồn bót quân Mỹ mọc lên khắp nơi ở miền Nam. Rác Mỹ, quán bar, đĩ điếm cũng mọc lên quanh các trại lính Mỹ. Quân Mỹ trực tiếp đánh nhau với quân Cộng sản ở miền Nam. Quân Việt Nam Cộng Hòa lui về tuyến sau lo an ninh trong các thành thị, tiến hành các cuộc hành quân bình định và thực hiện các chiến dịch thuộc chương trình Phượng Hoàng ở nông thôn. Máy bay Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa oanh tạc ngày đêm trên các chiến trường. Trên miền Bắc, năm 1964, máy bay Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa oanh tạc các mục tiêu từ vỹ tuyến 20 trở xuống. Năm 1965 máy bay Mỹ oanh tạc ngày đêm các mục tiêu không giới hạn.Trên miền Bắc đảng Cộng sản cương quyết đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân ở cả hai miền Nam Bắc. Tất cả những biến cố ấy dồn dập tác động mãnh liệt đến đời sống nhân dân cả nước.

Một ngày đầu tháng 8 năm 1964, Đinh Cường, Nguyễn Hữu Ngô và Đỗ Long Vân vào Hội An. (Đinh Cường vào Sài Gòn mấy ngày thì trở lại Huế vì tình hình đấu tranh náo loạn không học hành gì được ). Chúng tôi bốn người kéo nhau xuống biển Cửa Đại nằm trên cát để cùng nhau băn khoăn, giằng xé trước tình hình đất nước. Đêm đó qua cái đài bán dẫn nhỏ, chúng tôi nghe tin máy bay Mỹ oanh tạc nhiều địa điểm trên miền Bắc. Đỗ Long Vân úp mặt xuống cát khóc rấm rức. Chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Một lúc sau Đỗ Long Vân ngồi dậy và nói: “Chúng nó dội bom lên phố phường, làng mạc, mồ mả tổ tiên chúng ta.” Nguyễn Hữu Ngô vùng dậy nói: “Chẳng lẽ chúng ta chỉ biết khóc thôi sao? Chúng ta không làm gì sao?”

Làm gì? Làm gì? Làm gì? Mãi đến thời điểm đó chúng tôi vẫn loay hoay với hai từ làm gì? Nguyễn Hữu Ngô nói tiếp: “Tôi sẽ đi cùng đường với Tường, Phan”. Tôi nằm yên, khẳng định lập trường của mình: “ Tôi tiếp tục làm thơ chống chiến tranh”. Đinh Cường cũng trong tư thế nằm, nói chậm rải: “Tôi là họa sĩ, ai gắn kết nhiều với quê hương dân tộc, tôi ủng hộ, ủng hộ bằng khả năng chuyên môn của mình trong tự nguyện. Tôi không thích hợp với đám đông trong những tình thế sôi động mãnh liệt. Tôi cũng không phải là người chịu đựng được những kỷ luật của bất cứ guồng máy quyền lực nào”. Đỗ Long Vân sau cái phút xúc động đến não lòng ấy đã phát biểu làm chúng tôi chưng hửng: “Tôi căm giận Mỹ, nhưng tôi không chịu được cách mạng. Cách mạng, cũng như kẻ thù Tư Bản không đội trời chung của họ, làm cho người nghèo thêm nghèo, và bọn lãnh đạo khi nắm được chính quyền thì tham lam vô độ và giàu lên mãi.”

Bọn chúng tôi bốn người tuy đều bức xúc trước tình cảnh đất nước bị tàn phá, dân tộc bị giết chóc sỉ nhục bởi bạo lực Mỹ, bởi sự toa rập hay tranh giành lòng tin và sự ban phát lợi quyền từ ông chủ Mỹ của các phe nhóm quân phiệt ở Sài Gòn. Chúng tôi đau khổ, chúng tôi phẫn nộ, chúng tôi giằng xé, nhưng cả bốn chúng tôi vẫn người nào ý ấy, không thể cùng dấn thân vào một lực lượng hay một phong trào đấu tranh nào.

Phong trào Phật giáo ư? Nói như Thiền sư Thích Nhất Hạnh, chúng tôi chưa đủ duyên để “khế cơ,” “khế lý” với lực lượng Phật tử miền Trung.

Phong trào Đô thị của Mặt trận ư? Nói như các bạn tôi ở đó thì chúng tôi chỉ là nhưng văn nghệ sĩ, trí thức tiểu tư sản “còn nặng nề chủ nghĩa cá nhân và hèn nhát.”

Trừ Nguyễn Hữu Ngô, trong thâm tâm của Đinh Cường, Đỗ Long Vân, tôi và cả Ngô Kha, Trịnh Công Sơn (đang ở Huế) vẫn còn dị ứng với tất cả các ý thức hệ.

Ngay cả Nguyễn Hữu Ngô, mặc dù lúc đó anh phẫn uất nói mạnh, chứ chưa chắc anh sẽ thực hành ý định “đi cùng đường với hai anh em Hoàng Phủ Tường – Phan”. Nơi Nguyễn Hữu Ngô là một khối mâu thuẫn: Mê mẩn Chủ nghĩa Xã hội, nhưng nhất quyết không hy sinh bất cứ một quyền tự do nào. Nơi chúng tôi, khối mâu thuẫn nhỏ hơn: Dị ứng với Chủ nghĩa Xã hội, nhưng đến thời điểm đó vẫn quý trọng Tường – Phan và những người đấu tranh trong sáng, chân thành.

Chúng tôi chống Mỹ, ít nhiều khuynh tả, nhưng không thể đứng chung chiến hào với những người chọn ý thức hệ sắt thép Cộng sản làm phương tiện cho tất cả mọi cuộc cách mạng trong chiến tranh cũng như trong hòa bình.

Ở giữa hai khối bạo lực (Mỹ và Cộng sản) quá to lớn chúng tôi không biết làm gì ngoài những phản ứng lương tâm đơn độc và giằng xé.

Do vậy, thỉnh thoảng chúng tôi rất cần ngồi lại với nhau để chia sẻ những ưu tư khắc khoải. Sau khi ở Sài Gòn về, Đinh Cường dọn đến Tuyệt tình cốc, nơi hai anh em Hoàng Phủ Tường - Phan chọn làm chỗ làm việc và học tập. Tuyệt tình cốc cũng là nơi giao lưu văn nghệ, văn hóa, chính trị và triết lý trong đám bạn bè của Cường – Tường – Phan. Đinh Cường có được những ngày vui tại Tuyệt tình cốc. Hai anh em Tường – Phan thường vắng nhà năm sáu ngày trong tuần. Căn nhà và con hẻm yên tĩnh mặc sức Cường vẽ vời, suy tưởng. Những buổi giao lưu triết lý, văn nghệ thì tự do, thoải mái. Nhưng hai anh em Hoàng Phủ ngày càng tạm quên những mối tình nhỏ (tình yêu trai gái, tình gia đình, tình bạn bè) để dấn thân vào mối tình lớn: Cách mạng. Đinh Cường cảm thấy lẻ loi trong Tuyệt Tình cốc và lạc lõng trong không khí đấu tranh của thành phố Huế. Không những thế, Đinh Cường và cả Đỗ Long Vân, Nguyễn Hữu Ngô đều cảm thấy ngột ngạt khó thở do bị mật vụ đeo bám vì là bạn thân của anh em Hoàng Phủ. Chuyến đi Hội An của ba người vào đầu tháng 8.1964 ấy có thể nói là một chuyến “tránh nóng và đổi gió” theo như dự kiến ban đầu của họ. Trớ trêu là ở bất cứ đâu trên đất nước vào thời điểm đó cũng không thể tránh khỏi nóng cháy và gió lửa từ cuộc chiến tranh. Đêm thứ hai trên bãi biển Cửa Đại, chẳng biết do ai mở đầu (tôi không còn nhớ), chúng tôi đều đồng ý là nên có một tụ điểm giao lưu khác tại Huế cho bất cứ ai chưa biết làm gì cho đất nước dân tộc trước thảm họa chiến tranh.

Như thế là Quán Bạn manh nha hình thành trên bãi biển cửa Đại với bốn người khởi xướng ban đầu là Đinh Cường, Nguyễn Hữu Ngô, Đỗ Long Vân và tôi. Cái tên Quán Bạn phát xuất từ gợi ý của Đỗ Long Vân. Đỗ Long Vân nói hồi còn ở bên Tây anh biết một quán cà phê nhỏ của sinh viên có tên gọi là Le café des copains. Le Café des copains là địa điểm giải trí và giao lưu của những sinh viên tự do không đồng tình với lập trường chính trị của phe de Gaulle chủ trương tái chiếm Đông Dương, phục hồi đế quốc Pháp. Chúng tôi đồng thuận rằng là Quán Bạn sẽ được tổ chức theo hình thức góp vốn cổ phần, tự quản lý, tự phục vụ. Các cổ phần viên đầu tiên là Đinh Cường, Đỗ Long Vân và tôi (Nguyễn hữu Ngô không có tiền đóng góp). Đinh Cường, Đỗ Long Vân và Nguyễn Hữu Ngô sẽ trở lại Huế vận động bạn bè tham gia đóng góp. Mỗi cổ phần đóng năm trăm đồng (500) tương ứng với một chỉ vàng. Tôi đóng hai cổ phần, Đinh Cường và Đỗ Long Vân mỗi người một cổ phần. Tôi ứng tiền liền trước để ngày mai đi sắm cốc cà phê và bình trà. Đinh Cường rất chú trọng vấn đề này. Anh nói bình trà, cốc đĩa phải đẹp và sang trọng. Ngày hôm sau cả bốn chúng tôi cùng ra phố Hội An tìm mua bình trà và cốc đĩa cà phê. Đó là những đồ sứ nhập từ Đài Loan. Bình và cốc có dáng bầu, màu xanh lam sáng, men rạn. Tôi tham gia quán bạn đến đó. Những chuyện về Quán Bạn sau này tại Huế tôi chỉ nghe nói lại:

Từ Hội An trở lại Huế, Đinh Cường, Đỗ Long Vân, Nguyễn Hữu Ngô rủ thêm nhiều người nữa đóng góp vào Quán Bạn: chị Quỳ - vợ anh Đỗ Long Vân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Khắc Cầm, Lê Văn Sâm, Túy Hồng (nhà văn nữ), Trần Quang Long và nhiều người khác nữa đã nồng nhiệt tham gia với tư cách là thành viên chính. Mọi người đồng ý cử Lê Văn Sâm phụ trách điều hành tổng quát, Nguyễn Hữu Ngô thường trực và thu ngân, chị Đỗ Long Vân và nhà văn Túy Hồng phụ trách pha cà phê lúc đầu, chỉ dẫn cho nhiều nữ sinh viên, học sinh khác học pha và bưng dọn cà phê, thay nhau túc trực tại quán.

Lê Văn Sâm là người năng nổ tháo vát. Anh thuê nhà làm quán, thuê đóng quầy và bàn ghế, làm vệ sinh, sơn quét. Khâu trang trí thì do các cổ phần viên thiết kế và bài trí. Quán Bạn ở số 8 Đào Duy Từ gần chân cầu và cửa Đông Ba, cách nhà Lê Văn Sâm hai căn. Đó là căn nhà gạch, mặt tiền rộng khoảng 6 mét có gác suốt và lan can bằng gỗ. Căn nhà nguyên là của một gia đình có hai người con gái đẹp chết trôi trong một buổi tối đi tắm trước bến sông gần chân cầu Đông Ba. Cha mẹ hai cô gái thương con và nghe thầy bói nói là nhà có ma nên dọn đi ở nơi khác từ mùa hè năm trước. Lê Văn Sâm đã thuê với giá tượng trưng. Quán Bạn khai trương vào đầu tháng 11 – 1964 trong bối cảnh Huế và cả miền Nam trào dâng các cuộc mít tin biểu tinh chống Nguyễn Khánh và Trần Văn Hương độc tài quân phiệt. Từ tên gọi (Quán Bạn) đến chủ trương (địa điểm giao lưu của sinh viên, thanh niên, trí thức Huế) tuy chỉ được loan truyền miệng, nhưng ngay từ giờ phút đầu mở cửa, Quán Bạn tràn ngập những khách và những bạn. Cà phê ngon, giá rẻ, pha chế và phục vụ bởi những nữ lưu trí thức và những sinh viên học sinh trẻ trung, xinh tươi, không khí lại rất văn nghệ, tự do, cởi mở nên Quán Bạn nhanh chóng trở thành điểm hội tụ của những người “ưu thời, mẫn thế” đứng ngoài hai phong trào Phật giáo và Cộng sản, nhưng tham dự gần hết các cuộc xuống đường chống độc tài quân phiệt và chống Mỹ “dưới ngọn cờ Phật giáo”. Trong lúc phong trào Phật giáo hội họp, tổ chức tuyệt thực, cầu nguyện, biểu tình, mít tinh tại chùa Diệu Đế, chùa Từ Đàm, quảng trường Thương Bạc; trong lúc sinh viên đang hội thảo tại các giảng đường đại học và xuống đường biểu dương lực lượng, đốt cháy tòa Lãnh sự và trung tâm Văn hóa Mỹ, thì Quán Bạn bắt đầu bàn thảo triết học, văn nghệ và thời cuộc quanh các bàn cà phê, để rồi sau đó tự phát thành một nhóm nhỏ tham dự các cuộc xuống đường trong suốt năm 1965 và mấy tháng đầu năm 1966.

Nội dung các cuộc thảo luận tùy thuộc vào gợi ý ban đầu của ai đó không phân biệt chủ hay khách, bởi vì tất cả đều là “bạn". Ngô Kha và Nguyễn Nguyên Phương là khách nhưng xem Quán Bạn là diễn đàn để giải tỏa những vấn đề mình đang cưu mang.

Ngô Kha nói say sưa về sự bóc lột Tư Bản, sự ra đời của chủ nghĩa Marx và Phong trào Cộng Sản quốc tế, về chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, về chiến tranh thế giới thứ nhất, về cách mạng tháng Mười Nga và nhà nước Liên Xô, về thế chiến thứ hai và sự hình thành hai thế giới Tư Bản – Cộng Sản dẫn đến chiến tranh lạnh và hai cuộc chiến đẫm máu, phi nghĩa của Pháp và của Mỹ tại Việt Nam và Đông Dương. Ngô Kha nói về hội nghị Bangdung và sự hình thành thế giới thứ Ba và Phong trào Không liên kết. Ngô Kha nói về nhu cầu khẩn thiêt Việt Nam cần nhanh chóng tham gia các tổ chức quốc tế mới ấy để nhanh chóng thoát khỏi gọng kèm của hai khối Tư Bản và Cộng Sản nhằm tranh đấu giành quyền tự quyết dân tộc, chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình và thống nhất đất nước theo tinh thần hiệp định Genève…

Nguyễn Nguyên Phương lúc nào cũng nghiêm trang đạo mạo, không từ chối bất cứ câu hỏi nào liên quan đên chủ nghĩa Hiện Sinh và những triết gia, nhà văn từ Kierkegaard, Nietzsche, đến Satre, Abert Camus và Simone de Beauvoir…

Nguyễn Hữu Ngô và Trần Quang Long không giấu giếm quan điểm Xã hội chủ nghĩa, chống chiến tranh xâm lược, mặc dù dư biết trong số những người khách cà phê không thiếu kẻ lắng nghe là mật vụ.

Đỗ Long Vân nói năng không hùng biện, nhưng những vấn đề anh trình bày hấp dẫn đối với sinh viên, học sinh. Đỗ Long Vân rỉ rả nói về phong trào trí thức và sinh viên Pháp chống lại đường lối tái lập đế quốc và chủ nghĩa thực dân của chính quyền de Gaulle từ sau thế chiến II, về các hoạt động của phe tả nhằm chống lại cuộc tái chiếm Đông Dương của bọn thực dân hiếu chiến Pháp, về Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève. Đến khi Đỗ Long Vân nói chuyện kiếm hiệp thì bàn anh ngồi càng lúc càng có thêm nhiều người vây quanh. “Vô Kỵ giữa chúng ta” là đề tài Đỗ Long Vân đã bỏ công sức trong nhiều năm để tìm hiểu văn chương và tư tưởng của Kim Dung qua những câu chuyện kể về thế giới võ lâm. Tại Quán Bạn ông chỉ nói qua về kiếm hiệp truyền thống, về kiếm hiệp Kim Dung, về nội lực, về kiếm, về chưởng, về chỉ, về các bí kiếp, về kinh điển võ học kỳ thư, về tình yêu và thủ đoạn của các nhân vật giang hồ, về các môn phái võ lâm chính tà trung nguyên, ngoại vực và các cuộc chém giết để trả thù, các cuộc giao đấu để phân định ngôi vị võ lâm. Đặc biệt Đỗ Long Vân chú trọng đến chuyện kể Cô Gái Đồ Long và nhân vật Vô Kỵ. Vô Kỵ, đứa con của một cuộc tình lãng mạn và ngang trái: Cha mẹ là cao đồ, con đẻ của hai đại môn phái chính – tà bị bức tử vì kỷ luật giáo điều khắc nghiệt và tàn ác. Vô Kỵ lưu lạc giang hồ, tiếp thu như là một định mệnh tinh hoa hai nền võ học chính thống trung nguyên và tà môn ngoại đạo (Minh giáo). Thông minh và lương thiện, Vô Kỵ hơn bất cứ ai cảm nhận được cái tương đối của “những giá trị lịch sử chính tà”. Vô Kỵ quên dần sứ mệnh trả thù cho cha mẹ. Võ công trác việt và tấm lòng bao dung rộng mở của anh đã khống chế được các ác nhân, thuyết phục được quần hùng, hóa giải được các mối tương tranh. Anh trở thành võ lâm chí tôn. Nhưng rồi Vô Kỵ lại bị Chu Nguyên Chương (một thủ lãnh thứ cấp có thủ đoạn và mưu đồ chính trị cao cường) phản bội. Vô Kỵ đành dành cả khoảng đời còn lại để kẻ lông mày cho người yêu là Triệu Minh, người con gái đến từ Ba Tư cùng với cộng đồng Minh giáo (Ma Ni giáo) đã yêu anh bằng mối thâm tình trong sáng, thủy chung và tận tụy.

Bán cà phê “một vốn bốn lời” nên thời kỳ đầu Quán Bạn có tiền mua giấy, vải, sơn và các vật liệu cần thiết để làm áp phích, kẻ khẩu hiệu, sắm băng-rôn và tham dự gần hết các cuộc đấu tranh chung. Câu khẩu hiệu: “Đức, Phát, Thiệu, Tồn – bốn tên quân phiệt liệu hồn chúng bay” “là thương hiệu” mà Quán Bạn đã “đăng ký bản quyền” trên các đường phố trước nhân dân thành phố Huế trong những ngày tháng sôi động ấy. Mật vụ của chế độ trà trộn vào Quán Bạn và chụp mũ Quán Bạn là VC, là Phật giáo. VC không nói gì, nhưng Phật giáo thì khẳng định Quán Bạn không phát xuất từ chùa Từ Đàm bằng một cuộc đập phá có tính cách tượng trưng. Một bữa nào đó trong lúc phong trào đang lên, Hoàng Văn Giàu cùng mấy Phật tử đấu tranh khác từ trên một chiếc xe rép nhảy xuống ập vào Quán Bạn làm ra bộ hung hăng quát tháo, đá ngã mấy cái ghế, xán bể mấy cái cốc rồi “lui binh.” Cuộc náo động khẳng định lập trường “không Cộng sản” của Phật giáo chẳng tác động gì đến Quán Bạn, nhưng hoạt động “dấn thân” của Quán Bạn ngày một suy yếu dần vì hai lẽ:

– Một là: vốn liếng của Quán Bạn ngày một cạn kiệt vì bán cà phê thì ít, mà đấu tranh thì nhiều. Sau nhiều lần xuống đường, anh em trở lại Quán Bạn với cái bụng trống không và cái cổ khô khát. Quán cơm Bà Kè ở số 1 Đào Duy Từ (một quán cơm dành cho người lao động) ở chéo phải bên kia đường bớt ế ẩm (vì lao động đình công) tạm thời có người ăn nhờ những khách hàng mới. Đó là một khoảng chi lớn của Quán Bạn. Khoản chi tiêu thứ hai phát xuất từ tinh thần “xã hội chủ nghĩa” của Nguyễn Hữu Ngô (người quản lý tài chính của Quán Bạn).Trong tất cả mọi ngày, ngoài hai bữa ăn chính (tại quán cơm Bà Kè), Quán Bạn còn chi tiền bún bò sáng, đậu hủ chiều cho tất cả những thành viên thường trực không chỉ một hai người mà năm bảy mười người. Thấy anh em nào áo quần bù xù sườn rách, Nguyễn Hữu Ngô liền chi tiền may sắm cái mới. Đến cuối năm 1965, Quán Bạn không còn tiền để mua các nhu yếu phẩm hàng ngày (cà phê, trà, đường, chanh, nước đá, dầu hỏa…) Trước tình thế đó Nguyễn Hữu Ngô thôi làm quản lý, giao lại Quán Bạn cho Lê Văn Sâm. Lê Văn Sâm bỏ tiền túi bù vào các khoản thiếu hụt tài chính do Nguyễn Hữu Ngô để lại, điều hành chặt chẽ, chi tiêu rành mạch, nhưng lại ham đấu tranh hơn kinh doanh. Lê Văn Sâm là người có khuynh hướng chính trị dân chủ tư sản, rất ghét các phe nhóm quân phiệt ở Sài Gòn, mặc dù không ưa gì phong trào Phật giáo và phong trào Đô thị của Mặt trận, nhưng vẫn dẫn đầu các cuộc xuống đường của Quán Bạn tham dự vào khí thế đấu tranh chung chống độc tài quân phiệt, kêu đòi dân chủ, chính phủ dân sự và hòa bình.

– Hai là: các thành viên chính của Quán Bạn không đến hoặc lần hồi tản mát:

Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Khắc Cầm đóng tiền làm cổ đông chính nhưng chỉ tạt qua đôi lần trong mấy ngày đầu. Tôi là thành viên sáng lập mà chưa một lần tới Quán Bạn để uống một tách cà phê.

Đinh Cường cũng là thành viên sáng lập, nhưng chỉ đến Quán Bạn trong bữa sáng đầu khai trương như một người khách lạ. Anh là người tươm tất, nhẹ nhàng, ít nói, không thích hợp không khí ồn ào tụ tập đám đông. Trong khi bạn bè anh người thì tham gia phong trào Đô thị, người thì tham gia phong trào Phật giáo, người thì lui tới Quán Bạn, Đinh Cường trở lại nhà trọ say mê làm họa sĩ.

Ngô Kha và Nguyễn Nguyên Phương thuyết giảng ở Quán Bạn chưa tới hai tháng, chưa tham gia cuộc biểu tình nào đã bị động viên vào Thủ Đức. Sau 9 tháng huấn luyện, Ngô Kha “bị” móc lon chuẩn úy, nhờ tướng Ngô Du vận động, về làm lính kiểng tại văn phòng tỉnh trưởng Quảng Nam. Mùa hè năm 1966, trong một chuyến về Huế thăm nhà vào dịp cuối tuần, Ngô Kha tham gia chiến đoàn Nguyễn Đại Thức trên đèo Hải Vân. Vụ ly khai của quân đoàn I do Nguyễn Chánh Thi cầm đầu bị Thiệu Kỳ đàn áp tan rã. Ngô Kha bị bắt đày Phú Quốc 6 tháng. Sau khi mãn hạn tù, anh về lại Quốc Học làm giáo sư (có lẽ nhờ Ngô Du)...

Nguyễn Hữu Ngô sau khi bàn giao việc quản lý cho Lê Văn Sâm, rời Quán Bạn, tham gia phong trào sinh viên của Mặt trận. Trần Quang Long tốt nghiệp đại học Sư phạm, được phân bổ vào trung học Cường Để Qui Nhơn, cùng với Lê Phước Thúy, Lê Phước Á và các lãnh tụ sinh viên, học sinh ở đó phát động phong trào Đô thị (Mặt trận) dưới “ngọn cờ Phật giáo.”

Vợ chồng Đỗ Long Vân gắn bó rất chặt chẽ với Quán Bạn trong suốt thời kỳ đầu bị chính quyền chú ý đặc biệt vì cả hai đều được “anh em” ở Quán Bạn quí trọng. Khoảng cuối năm 1965, chính quyền dùng biện pháp hành chánh để tách hai vị ra khỏi Quán Bạn. Đỗ Long Vân bị cho thôi dạy ở đại học Văn khoa, chị Quỳ vợ anh bị cho thôi việc ở văn phòng trường Luật. Cả hai anh chị đều bị đuổi ra khỏi thành phố Huế. Vì công việc mưu sinh Đỗ Long Vân phải đi Đà Lạt, được cha Lập nhận làm ở thư viện đại học Đà Lạt. Chị Quì về Sài Gòn trở lại làm việc ở Air Việt Nam.

Nhà văn Túy Hồng bị cho thôi dạy ở trường trung học Gia Hội, bị chỉ định cư trú tại Sài Gòn.

Như thế là Quán Bạn chỉ còn lại một Lê Văn Sâm. Quán Bạn ngắc ngoải tồn tại đến giữa năm 1966. Khi phong trào Phật giáo và “cuộc ly khai nửa chừng” của các quân nhân vùng I do Nguyễn Chánh Thi cầm đầu bị Thiệu – Kỳ đàn áp và tiêu diệt, Quán Bạn âm thầm giải thể.

Vụ Quán Bạn không tác động gì xấu đối với Đinh Cường. Nô en 1965 anh tổ chức triển lãm tại Alliance Francaise de Dalat. Cũng trong năm này Đinh Cường được nhận làm giáo sư dạy vẽ tại trung học Đồng Khánh – Huế. Năm 1967 Đinh Cường được nhận làm giảng viên tại Cao đẳng Mỹ thuật - Huế. Từ 1962 đến 1975, Đinh Cường đã tổ chức triển lãm riêng hoặc tham dự triển lãm chung 20 lần tại Huế, Sài Gòn, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Pleicu và nhiều nơi trên thế giới.

Đinh Cường là người tinh tế, tươm tất, mực thước trong sinh hoạt cá nhân cũng như trong tất cả mọi quan hệ. Không “ưa” cách mạng, nhưng vẫn sâu nặng tình nghĩa đất nước, quê làng. Trước 1975, học vẽ, dạy vẽ và làm hội họa là một hòa điệu miệt mài trong tự do. Anh đã là một trong những nghệ sĩ hàng đầu ở miền Nam. Tranh của Đinh Cường được giới mỹ thuật thế giới chú ý và sưu tầm. Sau 1975 Đinh Cường đã nhẫn nại lắm mới làm được “cán bộ giảng dạy lưu dung” hai ba năm gì đó ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế. Đinh Cường đã nỗ lực hết sức để hòa giải trong chính mình hai danh hiệu: Họa sĩ và cán bộ giảng dạy lưu dung. Nỗ lực của anh bất thành. Năm 1979. anh làm đơn xin chấm dứt ân huệ lưu dung để làm người nghệ sĩ tự do trong đói nghèo. Nhưng đói nghèo cộng với những soi mói của những đôi mắt quan điểm lập trường cũng khó mà có được những thành tựu nghệ thuật như Đinh Cường mong muốn. Thôi thúc sáng tạo mãnh liệt, nhưng thành tựu nghệ thuật chỉ là những bức tranh trên giấy khổ nhỏ (cở 20 x 20cm) dán trên những khung vải đơn giản to hơn được trưng bày đâu đó trong vài cuộc triển lãm bỏ túi (Vẻ ẩn mật trong hội họa Đinh Cường - Huỳnh Hữu Ủy – Quán Văn số 014 tháng 4 năm 2013). Con người tươm tất và chú trọng sự hoàn mỹ Đinh Cường không chịu được mình bị đẩy vào tình trạng thiểu não như thế. Anh đi tìm tự do ở bến bờ khác. Năm 1989 Đinh Cường định cư tại Hoa Kỳ. Ở một đất nước xa lạ, căng thẳng những áp lực đời thường, Đinh Cường nhận ra rằng cái tự do của người Mỹ khác với cái tự do của một người Việt Nam lưu vong trên đất Mỹ. Chúng ta thấy được nỗi cô quạnh thê lương của Đinh Cường trong những ngày đầu đến Mỹ qua bức tranh “Người đi trong tuyết”. Không như những người lao động trong các ngành nghề khác, người lao động nghệ thuật khi vì một lý do nào đó ngoài ý muốn phải rời bỏ quê hương (như một hài nhi bị cắt cuống rốn khỏi lòng mẹ) không còn động cơ và năng lượng để sống và sáng tác. Võ Phiến, Phạm Duy đã nói như thế. Đinh Cường đã biết như thế nên khi tạm ổn định cuộc sống nơi đất khách quê người, anh vội vã quay về nối lại cuống rốn với bà mẹ Việt Nam. Ở đây, may mắn hơn những văn nghệ sĩ Việt kiều khác, Đinh Cường còn có “nhiều anh em cùng Mẹ” thương mến trông chờ.

Trở về, trở về, trở về. Năm nào Đinh Cường cũng trở về. Bởi vì “không trở về thì không thở được”. Đặng Tiến đã nói thay người bạn thân thiết như thế. Nối lại cuống rốn, điều hòa hơi thở, cuộc sống của người nghệ sĩ Việt tha phương từng bước được phục hồi. “Đi hết biển” (tên một cuốn sách của nhà làm phim Trần Văn Thủy) trong phong ba bão táp, Đinh Cường mới thấy mình tìm lại được chính mình. Cái giá của cuộc truy tìm quả là quá đắt, nhưng nếu không trả thì Đinh Cường không thể khêu mở lại “mạch nước ngầm” (từ của Đặng Tiến) để làm cuộc tái sinh ngoạn mục mà không một nghệ sĩ nào cùng cảnh ngộ như anh có thể làm được. Cuộc tái sinh của Đinh Cường trên đất Mỹ đã để lại cho công chúng nghệ thuật hàng mấy trăm bức tranh và hàng nghìn nhật ký thơ. Nhiều cuộc triển lãm riêng và chung đã được tổ chức tại Việt Nam và tại hải ngoại. Tại Sài Gòn Đinh Cường bày tranh chung với Đỗ Quang Em, Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn. Hai cuộc triển lãm riêng: một tại Pháp năm 2010 (tại trụ sở Annam Heritage – Paris) một tại Việt Nam năm 2011 (Đà Lạt) đã thành công rực rỡ.

Bản chất tươm tất của Đinh Cường đã lưu lại trong tôi hai dấu ấn không trừu tượng chút nào. Trong chuyến trở về Việt Nam đầu tiên sau thời gian định cư tại Mỹ, Đinh Cường ghé Đà Nẵng. Tại quán cà phê trên đường Đông Tây (bây giờ là Nguyễn Văn Linh). Đinh Cường gọi điện thoại cho Phạm Văn Hạng, hai vợ chồng Thơ Thơ, mấy người anh em khác, và tôi. Tôi đến. Lời chào đầu tiên của Đinh Cường là một câu hỏi: “Nghe nói ông Chu Sơn trở nên giàu có nhờ người vợ làm dược sĩ?” Thoạt tiên tôi buồn vì điều Đinh Cường nói không phải là sự thật. Nhưng ngẫm nghĩ một lúc, tôi lại vui và thầm cám ơn Đinh Cường. Anh vẫn là người tươm tất. Tươm tất không chỉ là dáng vẻ bên ngoài và cho riêng anh, mà tươm tất cả tâm hồn, cho bạn bè và cho cả đất nước.

Năm 2011, trong chuyến Đinh Cường về Việt Nam làm triển lãm ở Đà Lạt, tôi đề nghị anh về vẽ bìa cho tập Quê Nhà tái bản. Đinh Cường vui vẻ nhận lời với điều kiện anh phải đọc lại tập thơ. Thật ra tập Quê Nhà dự định tái bản gồm tập Quê Nhà xuất bản năm 1964 và tập Giữa Lòng Việt Nam tôi làm trong hai năm 1964 – 1965 (nha thông tin Trung Việt không cấp giấy phép xuất bản) và Lời Thưa tôi mới viết. Đinh Cường hứa sẽ gởi tranh bìa qua thư điện tử. Mấy ngày sau tôi nhận được không chỉ tranh bìa rất đẹp mà còn có bốn phụ bản với lời dặn của Đinh Cường: “Nhớ in ấn phải đẹp”. Quê Nhà in xong tôi gởi tặng Đinh Cường một tập. Nhận được Quê Nhà, Đinh Cường thư cho tôi với lời trách: “Sao chỉ có một tập ?”. Chắc anh vui vì sách đẹp.

Cũng trong năm 2011, tôi xuất bản tập sách Nước – Lửa và Sóng, Đinh Cường vẽ bìa. Lần này tôi gởi cho tặng hai tập, anh rất bằng lòng.

Năm 2014, vợ tôi dự định xuất bản sách Không Khói Hoàng Hôn, nhờ Đinh Cường vẽ bìa. Hồ Đình Nam (em trai chị Nhung vợ Đinh Cường) biết chuyện thư cho chúng tôi: “Chắc Đinh Cường không vẽ được, ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn cuối. Từ hai năm rồi anh ấy đã từ chối, không vẽ bìa cho bất cứ ai.” Nhưng rồi Đinh Cường vẽ bìa cho Không Khói Hoàng Hôn, vì “Tôi đọc bài của chị trên Diễn Đàn, đọc một mạch, không dừng lại được”. Và có lẽ vì Đinh Cường biết vợ Chu Sơn (Nguyễn Thị Kim Thoa) không phải là dược sĩ giàu lên nhờ tham nhũng.

Đinh Cường lớn hơn tôi 4 tuổi (anh sinh năm 1939, tôi sinh 1943). Tôi quen Đinh Cường (và cả Đỗ Long Vân, Ngô Kha, Trịnh Công Sơn) qua Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường. Năm đó tôi học lớp đệ nhị trường Quốc Học (1961).

Đinh Cường là anh rể của bạn tôi, Hồ Đình Nam (là đại úy quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đã giúp tôi thoát khỏi nhà tù Đà Nẵng năm 1971) hiện đang định cư tại Anh.

Đạo lý ngày xưa: bạn của thầy cũng là thầy, anh của bạn cũng là anh. Đến lúc ngồi viết những dòng này (tháng 10. 2016) tôi vẫn xem Đinh Cường đồng thời là thầy, là anh, là bạn. Riêng cái hành động “nối cuống rốn” và “tìm lại hơi thở dân tộc” để tiếp tục sống và làm một người nghệ sĩ tự do trên đất Mỹ, Đinh Cường đích thực là thầy của tôi, mặc dầu tôi chưa rời Việt Nam lần nào, và “đã có lúc tôi tự vỗ ngực mình là người yêu nước.”

Chu Sơn.



trong tuyet

Người đi trong tuyết – tranh Đinh Cường

(nguồn: Quán Văn số 014 – Đinh Cường họa sĩ của hoài niệm Tr31)



quenha-1

Quê Nhà, Đinh Cường vẽ bìa, xuất bản 1964

quenha-2

Quê Nhà, Đinh Cường vẽ bìa, tái bản 2011



PB-1 PB-2
PB-3 PB-4

Quê Nhà tái bản 2011 - bốn phụ bản của Đinh Cường


lúaong

Nước – Lửa và Sóng, Đinh Cường vẽ bìa, xuất bản 2011


hoanhon

Không Khói Hoàng Hôn, Đinh Cường vẽ bìa, xuất bản 2014


banbe

Đinh Cường và bạn bè tại Đà Nẵng trong chuyến về Việt Nam đầu tiên

Các thao tác trên Tài liệu
Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss