Bạn đang ở: Trang chủ / Nhân vật / Vĩnh biệt Gabo

Vĩnh biệt Gabo

- Đỗ Tuyết Khanh — published 23/04/2014 09:35, cập nhật lần cuối 12/04/2016 22:22


Vĩnh biệt Gabo


Đỗ Tuyết Khanh



gabo-1

Gabriel García Márquez trước cửa nhà riêng, tiếp đón một nhóm người
ái mộ đến chúc mừng và tặng hoa ông nhân ngày sinh nhật 6.3.2014


Gabriel García Márquez, Nobel văn chương 1982, Gabo của bạn đọc năm châu bốn bể, Gabito của gia đình và những người thân, đã từ trần ngày 17 tháng 4 vừa qua, hơn một tháng sau ngày sinh nhật 87 tuổi. Trong suốt mấy ngày sau đó, tin ông qua đời chiếm trang nhất trên mọi báo chí, đài truyền hình các nước dành một phần chương trình thời sự nhắc lại cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông; bên cạnh các cựu và đương kim tổng thống các nước châu Mỹ La Tinh, nhiều vị nguyên thủ quốc gia khác như Barack Obama của Mỹ, François Hollande của Pháp, cũng lên tiếng bày tỏ sự ngưỡng mộ thương tiếc một đại văn hào của thế kỷ 20 vừa ra đi. Colombia, nơi chôn nhau cắt rốn của ông, để quốc tang trong ba ngày và Mexico, nơi ông cư ngụ từ mấy chục năm nay, tổ chức trọng thể ngày 21.4, thứ hai sau lễ Phục Sinh, buổi tưởng niệm ông tại Palacio de Bellas Artes, trung tâm văn hoá chính của cả nước toạ lạc trong một cung điện nguy nga giữa khu di tích lịch sử của thủ đô Mexico City. Báo La Jornada ở Mexico liên tục đưa tin về Gabo, từ những ngày nhập viện rồi về nhà và qua đời, đăng tải những phản ứng, phát biểu, thông điệp tỏ lòng tôn kính, thương tiếc từ mọi nơi trên thế giới. Quả là một « Gabomania », tương xứng với sự nghiệp lẫy lừng của nhà văn kiệt xuất, như tấm ảnh ghép của La Jornada cho thấy:


gabo-2


Gabriel José de la Concordia García Márquez sinh ngày 6.3.1927 tại Aracataca, một tỉnh nhỏ của Colombia gần bờ biển Caribbean, anh cả 11 người con của ông Gabriel Eligio García và bà Luisa Santiaga Márquez. Khi Gabito cỏn rất nhỏ, cha mẹ chuyển về Barranquilla sống và để cậu bé ở lại Arataca cho ông bà ngoại nuôi. Ông ngoại là đại tá Nicolás Ricardo Márquez Mejía, được giới tiến bộ của Colombia vị nể như một anh hùng tuy bại trận sau cuộc chiến tranh 1000 ngày giữa hai phe tiến bộ và bảo thủ. Ông dạy cháu học hỏi qua từ điển, dẫn cháu đi xem xiếc và nhất là kể cho cháu nghe những câu chuyện kinh hoàng của thời nội chiến, và thường nói « Cháu không thể biết một người chết nặng tới mức nào ». Bài học ấy, không có gì đè nặng hơn việc đã giết một con người, là ý tưởng thường xuất hiện trong các tác phẩm của Gabo sau đó. Bà ngoại, Doña Tranquilina Iguarán, một « người đàn bà giàu tưởng tượng và tin dị đoan », cũng chi phối sâu đậm tâm hồn và trí óc của cậu bé Gabito qua những câu chuyện ma quái, thần thánh, những câu tiên tri huyền bí. Đối với Gabo, ông ngoại là « sợi dây rốn với lịch sử và thực tại » và bà ngoại là ảnh hưởng văn học đầu tiên và quan trọng nhất, nguồn cảm hứng vẽ lên một thế giới hư cấu trong đó những điều kỳ diệu nhất, lạ lùng và khó tin nhất cũng bình thường và hiển nhiên như mọi thực tế khác. Đấy là gốc rễ nơi Gabo của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (realismo mágico), đặc tính nổi bật gắn liền tên ông với một trường phái qui tụ rất nhiều nhà văn như Julio Cortázar, Carlos Fuentes, Alejo Carpentier, Miguel Ángel Ásturias, Mikhail Boulgakov, v.v. thời trước và cả những Salman Rushdie, Günter Grass, Graham Swift, Orhan Pamuk, José Saramago, v.v. sau này.

Năm Gabito 8 tuổi, ông ngoại mất, bà ngoại mù loà nên cậu bé về ở với cha mẹ ở tỉnh Sucre nhưng ngay sau đó được gửi đi học nội trú ở Barranquilla. Cậu bé bị bạn bè gọi là « ông cụ » vì tính rụt rè, trầm tĩnh, không ưa thể thao, chỉ thích viết thơ hài hước và vẽ tranh hí hoạ, được học bổng lên học trung học ở Zipaquirá gần thủ đô Bogotá. Năm 1947, tốt nghiệp trung học, Gabriel theo học luật tại đại học Bogotá rồi chuyển về đại học Cartagena khi đại học Bogotá bị đóng cửa vô thời hạn sau các biến cố đẫm máu năm 1948. Tại Cartagena, anh bắt đầu làm việc cho báo El Heraldo và ngày càng say mê viết báo, viết văn cho đến lúc quyết định bỏ học luật để theo nghiệp văn chương. Năm 1958, Gabriel thành hôn với Mercedes Raquel Barcha Pardo, cháu một người Ai Cập di dân, một cô gái khi vừa mới gặp, lúc cả hai còn là thiếu niên, anh đã nghĩ nhất quyết sẽ cưới khi nào lớn lên và học xong. Mercedes là người bạn đời của Gabo cho đến ngày hôm nay, họ có với nhau 2 người con trai, Rodrigo, hiện là đạo diễn phim, và Gonzalo, hoạ sĩ. Người vợ chung sống hơn nửa thế kỷ và hai con trai tài hoa luôn là niềm tự hào của Gabo.

Thời thơ ấu và tuổi trẻ của Gabo trong 30 năm đầu đời được kể lại trong quyển hổi ký Vivir para contarla (Sống để kể lại) xuất bản năm 2002, với nhiều chi tiết sống động. Xin xem bài điểm sách « Gabriel García Márquez : Thời Thơ ấu và Tuổi trẻ » của Mai Ninh trên Diễn Đàn số 136, tháng 1.2004, được đăng lại trên trang Diễn Đàn mạng. Ở đây chúng ta có thể bước thẳng sang giai đoạn sau, khi ông đã là Gabo, nhà văn danh tiếng lẫy lừng sau những năm đầu chật vật túng thiếu khi còn chưa được biết đến.


Cien años de soledad


Tên tuổi Gabriel García Márquez không thể tách rời tác phẩm ngay khi xuất bản tháng 6 năm 1967 đã làm chấn động giới hâm mộ văn chương, trở thành hiện tượng chưa từng có trong văn học tiếng Tây Ban Nha. Chỉ sau một tuần, số lượng in đầu tiên 8 000 bản đã bán hết, quyển sách được tái bản mỗi tuần và đạt con số một triệu bản sau năm năm, chỉ riêng cho ấn bản Tây Ban Nha. Trăm năm Cô đơn, Cent années de solitude, One Hundred Years of Solitude, Hundert Jahre Einsamkeit, Cent'anni di solitudine, Sto let samote, Sto lat samotności, Sto roků samoty, Cent jaroj da soleco, 百年孤独的, 百年の孤独, 백년 동안의 고독, مائة عام من العزلة v.v.  : quyển sách đã được dịch ra 35 thứ tiếng và cho đến ngày nay đã bán được khoảng 50 triệu bản. Cien años de soledad được vinh danh như một trong những tác phẩm tiếng Tây Ban Nha quan trọng nhất tại Hội nghị quốc tế lần thứ tư về tiếng Tây Ban Nha năm 2007 tại Cartagena de las Indias (Colombia), được báo El Mundo xếp hạng vào 100 tiểu thuyết tiếng Tây Ban Nha hay nhất của thế kỷ 20, báo Le Monde liệt kê trong danh sách 100 tác phẩm vượt trội của thế kỷ 20, và Câu lạc bộ sách Na Uy đưa vào danh sách 100 tác phẩm hay nhất từ cổ chí kim.

Cien años de soledad đánh dấu một bước ngoặt không chỉ trong sự nghiệp của Gabo mà của cả văn học châu Mỹ La tinh, biến lục địa này thành một miền sáng tác nổi trội mới của văn đàn thế giới. Cũng như rất nhiều người Pháp thuộc lòng câu « Longtemps, je me suis couché de bonne heure. » (Trong một thời gian dài tôi thường đi ngủ sớm.) mở đầu tác phẩm kinh điển « Du côté de chez Swann » của văn hào Pháp Marcel Proust, hầu như mọi độc giả ở châu Mỹ La tinh đều nằm lòng câu « Muchos años después, frente al pelotón de fusilamiento, el coronel Aureliano Buendía había de recordar aquella tarde remota en que su padre le llevó a conocer el hielo » (Nhiều năm sau đó, đứng trước đội xử bắn, đại tá Aureliano Buendía sẽ nhớ lại cái buổi chiều xa xôi ấy khi cha ông đưa ông tới làm quen với nước đá) mở đầu cho thiên bi hùng ca về Macondo, một thành phố hư cấu, và sáu thế hệ một dòng họ huyền thoại có số phận gắn liền với một thời cuộc đầy giông tố. Xen lẫn với những biến cố phản ảnh thực tại đầy biến động và bạo tàn của Colombia, và châu Mỹ La tinh nói chung, là những sự kiện dị thường rất kỳ diệu nhưng được miêu tả như cái gì hoàn toàn bình thường, trong một ngôn ngữ tả chân nhưng sống động và phong phú, lôi cuốn người đọc vào một thế giới cuồng nộ vừa thực vừa ảo hết sức quyến rũ. Từ « unputdownable » trong tiếng Anh, để chỉ các cuốn sách một khi đã bắt đầu đọc thì không tài nào bỏ xuống, đã bị quá lạm dụng như chiêu bài khuyến mãi nhưng rất đúng cho quyển sách dày hơn 350 trang, đầy ma lực hớp hồn người đọc quên cả trời đất, thời gian và mọi sự chung quanh. Đến khi gấp sách lại, âm điệu của các dòng cuối, như cao điểm của những hình ảnh mãnh liệt đã tiếp nối nhau cho tới đó, vang vọng mãi trong trí óc của người đọc như lời từ biệt của những nhân vật đã thành gần gũi thân quen, để lại một cảm giác bâng khuâng lưu luyến vẫn còn đọng lại đâu đó khi bàng hoàng trở về với cuộc sống thực hàng ngày.

« Sin embargo, antes de llegar al verso final ya había comprendido que no saldría jamás de ese cuarto, pues estaba previsto que la ciudad de los espejos (o los espejismos) sería arrasada por el viento y desterrada de la memoria de los hombres en el instante en que Aureliano Babilonía acabara de descifrar los pergaminos, y que todo lo escrito en ellos era irrepetible desde siempre y para siempre, porque las estirpes condenadas a cien años de soledad no tenían una segunda oportunidad sobre la tierra. »

« Song, trước khi đọc đến vần thơ cuối, anh đã hiểu là sẽ không bao giờ ra khỏi căn phòng ấy, vì điều đã tiên định là thành phố của những bức gương (hay ảo ảnh) sẽ bị gió huỷ diệt và trục xuất khỏi ký ức loài người giây phút mà Aureliano Babilonía lần đọc hết những cuộn giấy cổ xưa, và tất cả những gì ghi chép trong đó không thể được lặp lại, mãi mãi trước đó và mãi mãi về sau, vì những dòng họ phải chịu án trăm năm cô đơn không có cơ hội thứ nhì trên trái đất. »

Trước Cien años de soledad, Gabo đã viết bốn tiểu thuyết nhỏ, có tính chất hiện thực nhiều hơn nhưng cũng đã thể hiện rõ bản lĩnh và những nét độc đáo riêng của ông. Tác phẩm thứ hai của Gabo, El Coronel no tiene quien le escriba (Không có ai viết cho ông đại tá), là một cuốn sách rất mỏng, chỉ vài chục trang nhưng diễn tả ngắn gọn mà đầy đủ bi kịch của một người thất thế, khánh kiệt, sống bám víu vào hi vọng sẽ nhận được lá thư cho phép ông được hưởng lương hưu nhưng vẫn không đến từ mười mấy năm nay. Vợ ốm, nhà không còn gì để bán, chỉ có con gà chọi ông đại tá nhất định giữ lại « vì khi nó thắng trận đấu, sẽ đắt giá hơn ». Chỉ vài lời đối thoại tầm thường đủ nói lên sự cay nghiệt của cuộc sống như trong đoạn kết này:


 Làm sao bây giờ nếu hết bán được gì bà vợ nói.

 Thì ngày hai mươi tháng giêng  ông đại tá nói, không chút đắn đo. Họ sẽ trả mình hai mươi phần trăm ngay tối đó.

 Nếu con gà thắng – bà vợ nói. Nhưng lỡ nó thua. Ông không nghĩ nó có thể thua à.

 Nó là một con gà không thể thua.

 Nhưng lỡ nó thua.

 Còn cả 45 ngày nữa trước khi phải bắt đầu nghĩ đến chuyện đó – ông đại tá nói.


Người đàn bà tuyệt vọng.

« Trong khi đó thì mình ăn cái gì » bà hỏi và túm lấy cổ áo ông. Lắc mạnh.

 Anh nói đi, mình ăn cái gì.


Ông đại tá đã phải sống bảy mươi lăm năm – với từng phút của bảy mươi lăm năm cuộc đời ông – để đến giây phút ấy. Ông cảm thấy trong sáng, mạch lạc, bất khuất khi trả lời :
 Cứt.


« Mierda ». Câu kết chỉ một chữ cụt lủn và cục cằn như gáo nước lạnh hắt vào mặt nhưng sau một giây hụt hẫng người đọc cảm nhận được sự xót xa cay đắng gói trọn trong đó, càng ngậm ngùi khi đọc dòng chữ nhỏ ở cuối trang « París, enero de 1957 ». Gabo viết xong tháng giêng 1957, khi ông sống rất chật vật ở Paris, và phải đến năm 1961 quyển sách mới được phát hành.

Người đọc yêu Gabo và truyện của Gabo vì thế. Vì văn của ông khi thì phóng túng, đầy màu sắc, âm thanh và ấn tượng, khi thì súc tích, cô đọng gần như khô khan nhưng lúc nào cũng đánh mạnh vào nội tâm. Những quyển sách mấy chục năm sau đọc lại vẫn thấy hay lạ kỳ. Vẫn thấy mến con người viết ra những câu chữ ấy.


Cô đơn, bạo lực, cái chết, tình bạn, tình yêu và tình người


Bạo lực bao trùm các nước châu Mỹ La tinh trong nhiều năm tất nhiên hiện hữu trong các tác phẩm của Gabo, cũng như của nhiều nhà văn khác cùng thời. El Coronel no tiene quien le escriba, La mala hora (Giờ của Quỷ) và La hojarasca (Lá trong Lốc), chẳng hạn, nhắc đến cuộc nội chiến giữa các phe bảo thủ và cấp tiến kéo dài đến những năm 1970 với cái chết của hàng trăm ngàn người dân Colombia. Cái chết, cái chấm hết của mỗi kiếp người là nỗi ám ảnh Gabo trong văn chương và trong cuộc đời. Cien años de soledad là chuyện của sự triệt tiêu một dòng họ, một thành phố, một nền văn hoá. Những gì Gabo viết đều xoay quanh cốt lõi của tất cả chúng ta : Cuộc đời hữu hạn, với hệ quả tất yếu là sự cô đơn. Một sự cô đơn mênh mông và cả cuộc đời của mỗi người chỉ là nỗ lực vô vọng đi tìm phương thuốc chống trả sự oan nghiệt của định mệnh. Phương thuốc hiệu nghiệm nhất, vỗ về chúng ta nhất, là tình bạn, tình yêu, tình người. Gabo là người rất yêu đời, vui tính, hào phóng và chung thuỷ với bạn bè. Và trả lời câu hỏi viết để làm gì, ông nói : để được người ta yêu. Một giai thoại cho thấy con người lãng mạn nơi Gabo : cách đây đã rất lâu, đang đi ở Zurich một buổi cuối chiều, ông bỗng chợt bị cơn mưa tuyết ập đến. Ông bèn bước vào trú trong một quán bar. Và ông kể lại như sau cho một người em trai :

« Cả căn phòng tối om. Một người đàn ông chơi dương cầm cho một vài cặp tình nhân. Và lúc đó anh hiểu mình muốn gì : muốn là người đàn ông chơi dương cầm không ai thấy rõ mặt ấy. Ông ta chỉ chơi để mọi người yêu nhau hơn »

Nhớ về ông sau ngày ông mất, một người bạn thân của Gabo viết : đối với cái anh chàng Gabo muốn làm nhạc sĩ trong góc quán ấy, thế giới là một đàn dương cầm khổng lồ anh chơi không mệt mỏi, để những người yêu nhau càng yêu nhiều hơn.

Tình người cũng là phương thuốc để con người sống với nhau tử tế hơn, trong một thế giới nhân ái hơn, bớt tàn bạo, bớt những bất công, ức chế, đàn áp gây đổ máu, chết chóc. Gabo thừa hưởng rất sớm từ ông ngoại nhận thức chính trị và tư tưởng cấp tiến. Ngay từ lúc còn là một phóng viên trẻ với đồng lương ít ỏi, Gabo đã không ngần ngại đối đầu với chính quyền độc tài, phanh phui những chuyện tày trời che giấu sau bức màn sắt của kiểm duyệt, dù bị sách nhiễu, hăm doạ và làm áp lực. Năm 1955, ông khám phá là 8 người thuỷ thủ chiến hạm Caldas của Colombia thiệt mạng không phải vì tàu gặp bão lớn như theo công bố chính thức mà vì những giây cáp buộc hàng buôn lậu của hải quân chất trên boong tuột ra làm lật tàu. Gabo đăng trên báo El Espectador một loạt 14 bài báo tường thuật chi tiết sự kiện theo lời người duy nhất sống sót kể lại, gây sôi nổi trong dư luận cả nước. Sợ chính quyền quân phiệt của nhà độc tài Rojas Pinilla trả thù, tờ báo gửi Gabo sang châu Âu lánh nạn. Loạt bài này sau đó được đăng lại trong quyển Relato de un náufrago (Tường thuật một vụ đắm tàu).

Từ đó bắt đầu cuộc sống lưu lạc của Gabo tại châu Âu, làm quen và gần gũi với các phong trào chống thực dân và tả khuynh. Ông đi thăm các nước Đông Âu, nhưng không mặn mà với cái  hiện thực xã hội chủ nghĩa ấy, gặp Fidel Castro tháng giêng năm 1959 nhưng chỉ trở thành bạn thân, « chủ yếu trên cơ sở văn chương », sau khi về Bogotá rồi La Habana cộng tác với thông tấn xã Prensa Latina do chính quyền cách mạng Cuba thành lập. Gabo vẫn giữ tình bạn với Fidel Castro và tiếp tục ủng hộ Cuba khi những giới cấp tiến, thất vọng trước sự phi dân chủ của chế độ, đã quay lưng lại với Cuba và Fidel. Sự chung thuỷ này (hay ngoan cố và mù quáng nếu theo cách nhìn khác) cũng đem lại cho Gabo nhiều chỉ trích và dè bỉu. Về quan hệ giữa Gabo và Fidel, xin xem bài « Vaya con Dios, Maestro » của Nguyễn Hữu Động.

Có thể nói tư duy thiên tả của Gabo chủ yếu là chống đối chủ nghĩa đế quốc Mỹ, điều dễ hiểu nơi một người đã sống qua thời kỳ chiến tranh lạnh, chứng kiến sự tàn bạo triền miên trong nhiều năm của những chế độ độc tài trong các nước châu Mỹ La tinh tồn tại nhờ cấu kết với một nước Mỹ đưa việc chống cộng thành quốc sách. Một người còn nhớ thảm trạng của những Banana Republics bị các đại công ty Mỹ thôn tính, không ngần ngại dùng đến những biện pháp hung ác nhất như vụ thảm sát công nhân công ti chuối năm 1928 được kể lại trong Cien años de soledad. Quan điểm của Gabo về xã hội chủ nghĩa đơn giản là một xã hội tiến bộ, tự do và bình đẳng, trong đó kiến thức là một quyền công dân. Năm 1983, khi được hỏi « Ông có phải là người cộng sản không ? », Gabo trả lời : « Tất nhiên là không. Tôi không và cũng chưa bao giờ là người cộng sản. Tôi cũng chẳng thuộc về một đảng phái nào ». Gabo trước tiên là một nhà văn, nhà báo, phát ngôn tự do, khi nói về phân hoá xã hội chẳng hạn, vẫn bặm trợn và đùa với câu chữ: « El día que la mierda tenga algún valor, los pobres nacerán sin culo » (Ngày nào cứt có một chút giá trị thì người nghèo sẽ sinh ra không có đít).


Viết báo là nghề đẹp nhất


Gabo đến với văn chương đầu tiên qua nghề báo khi bắt đầu viết báo ở đại học rồi cộng tác với các báo El Universal ở Cartagena, El Heraldo ở Barranquilla, El Espectador ở Bogotá, và gắn bó với báo chí suốt cả đời. Song song với viết truyện ông vẫn viết báo, « cách hay nhất để không xa rời thực tế » theo ông. Phẫn uất trước cuộc đảo chính của tướng Pinochet ở Chile tháng 9.1973 lật đổ tổng thống Salvador Allende lập một chế độ độc tài khát máu, Gabo quyết định ngưng viết văn để dấn thân vào một cuộc « chiến tranh thông tin », cùng với một nhóm trí thức và nhà báo thiên tả thành lập tập san Alternativa năm 1974, sự kiện lớn trong lịch sử báo chí đối lập ở Colombia. Gabo thề sẽ không ra sách cho đến khi Pinochet bị hạ bệ nhưng năm 1981 ông cho in Crónica de una muerte anunciada ( Kí sự về một cái chết đã báo trước) khi Pinochet vẫn còn tại chức vì « không thể tiếp tục im lặng trước bất công và đàn áp ».

Năm 1994, với số tiền của giải Nobel, ông cùng em trai Jaime García Márquez thành lập Fundación Nuevo Periodismo Iberoamericano, một hội có mục đích giúp các nhà báo trẻ học hỏi với những cây bút tên tuổi và khuyến khích những hình thức sáng tạo trong nghề báo. Gabo vẫn thường nói : không có nghề nào đẹp bằng viết báo. Và viết báo là để đem thông tin, kiến thức đến những người nghèo.


Mùa thu của đại lão


Sau Cien años de soledad, mọi sáng tác mới của Gabo đều được chờ đợi háo hức, tất nhiên không thể đạt những kết quả choáng ngợp của kiệt tác kia nhưng đều rất thành công và củng cố vị trí của Gabo trở thành cây đại thụ của văn đàn thế giới. Gabo bắt đầu viết El otoño del patriarca (Mùa thu của đại lão) năm 1968 sau khi chứng kiến sự sụp đổ và tháo chạy của nhà độc tài Marcos Pérez Jiménez ở Venezuela. Quyển sách phát hành năm 1975, nói về sự cô đơn của quyền lực và nhân vật là biểu tượng cho tất cả các nhà độc tài châu Mỹ La tinh, theo một lối viết mới khác hẳn những sáng tác trước của Gabo và khá khó đọc. Cuốn truyện gồm 6 chương, mỗi câu hết sức dài viết liền tù tì không chấm dứt từ trang này sang trang khác, câu chữ cứ chồng chất tiếp nối nhau để diễn tả sự độc thoại về « ông Đại Tướng », một lãnh đạo độc tài « già hơn tất cả những người già và con vật già sống trên mặt đất và dưới nước », sống khép kín trong cung điện từ lâu đến nỗi dân chúng không còn ai nhớ mặt mũi ra sao, không biết còn sống hay đã chết. Trong vô số các chi tiết dồn dập trên trang giấy, khi ngộ nghĩnh trào lộng, khi quái đản ghê rợn, một trong những hình ảnh sống động nhất là lão độc tài già khú đế không còn nói được vì đã nói quá nhiều khiến mỗi lần cần phải xuất hiện, được đưa ra mấp máy môi trong khi những người nói bằng bụng đứng sau rèm giả giọng ông ta. Không thể không liên tưởng đến đoạn này khi thấy Abdelaziz Bouteflika, tổng thống Algérie từ năm 1999, được thuộc hạ đẩy trên xe lăn đi bầu cho chính mình và tái đắc cử trong khi từ mấy năm nay sống nhiều trong bệnh viện ở Pháp hơn là trong nước, đã từ lâu không phát biểu trước công chúng và đã nhiều lần có tin đồn là đã chết. Đây không phải là hiện thực huyền ảo thì là gì ?!

Song mùa thu cũng đã đến cho cây đại thụ Gabo. Năm 1999 ông bị ung thư mạch bạch huyết, rất may chữa khỏi nhưng từ đó sức khoẻ giảm sút nhiều. Trời vẫn cho ông sống để kể lại và cuốn hồi ký Vivir para contarla xuất bản năm 2002 là tác phẩm lớn cuối cùng của ông, tác phẩm tuyệt mệnh trong đó người đọc còn tìm thấy trọn vẹn Gabo quen thuộc của xưa nay. Tiểu thuyết cuối cùng Memorias de mis putas tristes (Hồi ký những cô điếm buồn của tôi), 2004, kể về những tâm sự, than vãn của một ông cụ già tìm mua dâm nơi những cô gái trẻ, làm nhiều bạn đọc trung thành của Gabo thất vọng, tiếc cho ông đã không dừng lại ở quyển hồi ký. Từ năm 2005 trở đi, có những đồn đại là Gabo bị Alzheimer, hoặc đã lẫn. Gia đình và bạn bè thân của ông phải đính chính : Gabo có suy yếu, chậm chạp hơn, trí nhớ có kém đi nhưng chỉ là những hiện tượng bình thường của người cao tuổi. Ngày 6.3 vừa qua, một nhóm người ái mộ đến nhà ông thăm hỏi chúc mừng sinh nhật. Ông ra tiếp họ trước cửa nhà, nhận hoa, bắt tay, ôm hôn, nói vài lời và cùng hát vài câu bài ca sinh nhật. Quay trở vào nhà, ông giơ tay vẫy chào với nụ cười tươi cố hữu. Hình ảnh đẹp cuối cùng từ biệt những người đã chia sẻ với ông không gian kỳ diệu của Cien años de soledad và bao tác phẩm để đời khác.

Gabo đã được hoả thiêu và gia đình vẫn chưa cho biết cốt của ông sẽ an nghỉ ở đâu. Có thể là Mexico, quê hương thứ hai, nơi ông và vợ con đã sống từ mấy chục năm nay. Có thể là Colombia, quê hương « thật » đang ráo riết vận động để đưa ông về mai táng. Thành phố Aracataca, nơi ông sinh ra, cũng muốn được đón ông về. Từ lâu, du khách đến đấy được chào đón với tấm biểu ngữ khổng lồ ghi lời của Gabo :

« Tôi tự cảm là người châu Mỹ La Tinh bất luận của nước nào nhưng vẫn giữ trọn
vẹn nỗi nhớ quê tôi  - Aracataca – nơi tôi đã một hôm trở về và nghiệm thấy
cái nằm giữa thực tại và nỗi nhớ chính là chất liệu các tác phẩm của tôi
. »

gabo-3


Gabo có viết 13 Líneas para vivir (13 câu để sống), những câu châm ngôn biểu lộ quan điểm và triết lý sống của ông. Không có gì cao siêu cả nhưng có những câu nhiều người coi như kim chỉ nam cho chính mình. Câu thứ 10 như một lời nhắn nhủ của Gabo trong lúc này : « No llores porque se terminó, sonríe porque sucedió ». Đừng khóc vì cái gì đã chấm dứt, hãy mỉm cười vì cái ấy đã xảy ra. Mỗi sự ra đi là mất mát, làm sao không có thương tiếc. Song, chấm dứt ở tuổi 87, cuộc đời Gabo đã đủ dài và đủ hạnh phúc vinh quang để có thể chấp nhận qui luật Tạo hoá, những gì Gabo đã mang đến và để lại quá đủ để chúng ta mỉm cười. Và nói câu vĩnh biệt với lời tạ ơn.


Đỗ Tuyết Khanh

Thứ hai sau lễ Phục sinh, 2014



Danh mục sáng tác của Gabriel García Márquez – Tiểu thuyết, truyện ngắn và bài báo, những tựa in đậm là những tác phẩm nổi bật

1955 - La hojarasca
1961 - El coronel no tiene quien le escriba
1962 - La mala hora
1962 - Los funerales de la Mamá Grande
1967 - Cien años de soledad
1968 - Isabel viendo llover en Macondo
1968 - La novela en América Latina: Diálogo (viết chung với Mario Vargas Llosa)
1970 - Relato de un náufrago
1972 - La increíble y triste historia de la cándida Eréndira y de su abuela desalmada
1972 - Ojos de perro azul
1972 - El negro que hizo esperar a los ángeles
1973 - Cuando era feliz e indocumentado
1974 - Chile, el golpe y los gringos
1975 - El otoño del patriarca
1975 - Todos los cuentos de Gabriel García Márquez: 1947-1972
1976 - Crónicas y reportajes
1977 - Operación Carlota
1978 - Periodismo militante
1978 - De viaje por los países socialistas
1978 - La tigra
1981 - Crónica de una muerte anunciada
1981 - Obra periodística
1981 - El verano feliz de la señora Forbes
1981 - El rastro de tu sangre en la nieve
1982 - El secuestro: Guión cinematográfico
1982 - Viva Sandino
1985 - El amor en los tiempos del cólera
1986 - La aventura de Miguel Littín, clandestino en Chile
1987.- Diatriba de amor contra un hombre sentado: monólogo en un acto
1989 - El general en su laberinto
1990 - Notas de prensa, 1961-1984
1992 - Doce cuentos peregrinos
1994 - Del amor y otros demonios
1995 - Cómo se cuenta un cuento
1995 - Me alquilo para soñar
1996 - Noticia de un secuestro
1996 - Por un país al alcance de los niños
1998 - La bendita manía de contar
1999 - Por la libre: obra periodística (1974-1995)
2002 - Vivir para contarla
2004 - Memoria de mis putas tristes
2010 - Yo no vengo a decir un discurso



gabo-4

Gabo, ngày 1.2. 976, sau lần chạn trán với Mario Vargas Llosa.
Hình của Rodrigo Moya.


Quan hệ giữa Gabo và một tác giả nổi tiếng khác cùng lục địa, Mario Vargas Llosa, cũng thú vị. Đoạn dưới đây trích từ bài « Mario Vargas Llosa, tông đồ của cá nhân và chủ nghĩa tự do »:

Đoạn tuyệt với Castro và Sartre, Vargas Llosa cũng quay lưng lại với những bạn đồng hành lúc trước, những nhà văn, nhà thơ vẫn tiếp tục ủng hộ cách mạng xã hội chủ nghĩa, đáng kể nhất là Gabriel García Márquez. Gabo, tên gọi thân mật của García Márquez, và MVLl là bạn chí cốt khi còn cùng chung lý tưởng. Sau vụ án Padilla, mâu thuẫn giữa hai người trở thành hố sâu ngăn cách, đến mức Vargas Llosa mỉa mai gọi Gabo là "nịnh thần của Castro". Sự đối đầu đạt cao điểm năm 1976, trong một giai thoại còn truyền tụng đến bây giờ. Tại một buổi khai diễn chiếu phim ở thành phố Mexico, MVLl nhận ra Gabo trong đám đông và tiến đến gần. Gabo giang tay định choàng vai bạn nhưng bị thụi một quả đấm thật mạnh vào mặt làm ông ta ngã sóng soài, mắt bầm tím, máu me lênh láng. Sự hành hung gây chấn động không chỉ trong làng văn thế giới, lý do thì không ai biết vì cả hai nhân vật chính đều nhất định không giải thích hay bình luận từ đó đến nay. Theo dư luận đoán thì cơn thịnh nộ này vừa do bất đồng chính trị vừa có lý do riêng tư: Gabo đã thường xuyên an ủi bà Patricia khi hai vợ chồng Vargas Llosa lục đục. Sự kiện tất nhiên lại được nhắc đến khi giải Nobel được loan báo năm nay, giới văn học châu Mỹ La tinh đồn đại là Gabo vừa gửi qua Twitter hai chữ "cuentas iguales" (vậy là huề), tuy Hội Gabriel García Márquez ở Colombia sau đó đã cải chính. Sự ân oán giang hồ giữa hai "cây đại thụ" của văn học châu Mỹ La tinh vẫn chưa được giải quyết sau 34 năm.



Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us