Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc / Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc (1)

Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc (1)

Nội chiến lại xảy ra [1928-1930]



Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc


Hồ Bạch Thảo


Chương 1

Nội chiến lại xảy ra
[1928-1930]



bsh

Bạch Sùng Hy [1893-1966]

Nguồn : Wikipedia



Sau cách mệnh Tân Hợi [1911], Trung Quốc là đất nước của quân phiệt. Sau khi bắc phạt hoàn thành, tàn dư quân phiệt cũ chưa tận diệt, thì mầm mống mới lại sinh sôi ; ý thức như cũ, hành động như cũ, nội chiến lại xảy ra, lịch sử như tái diễn; phe nọ bị khuất phục, thì phe khác lại dấy lên, kẻ sau còn dữ hơn kẻ trước. Người nắm quyền trung ương tuyên bố mong cho đất nước thống nhất, tại địa phương nói cần phải chống độc tài ; không kể đứng trên danh nghĩa nào, đây là Quốc dân đảng nội chiến.




1. Mối động loạn nhen nhúm


Vũ lực Quốc dân đảng từ Đệ nhất quân, thành phần cốt cán xuất thân từ trường Hoàng Phố, do Tưởng Giới Thạch thống suất ; thứ đến quân Quảng Đông tổ chức thành Đệ tứ quân do Lý Tế Thâm đứng đầu. Trước ngày bắc phạt biên chế thêm bộ thuộc của Lý Tôn Nhân tại Quảng Tây làm Đệ thất quân ; bộ thuộc Đường Sinh Trí tại Hồ Nam làm Đệ bát quân ; thực lực tương tự như Đệ nhất, Đệ tứ quân. Khi quân bắc phạt tiến tới lưu vực sông Trường Giang thì thi nhau khuyếch trương bổ sung ; có đơn vị tăng 1, 2 lần, có đơn vị tăng 3, 4 lần. Phía bắc quân Phùng Ngọc Tường, Diêm Tích Sơn mỗi phe dựng một ngọn cờ, nhưng lực lượng của Phùng tương đối lớn hơn. Đường Sinh Trí làm phản trước tiên nhưng bị thất bại ; Lý Tế Thâm, Lý Tông Nhân đối với Tưởng Giới Thạch cũng chia ra như hai thành trì. Năm 1928 bắc phạt tái triển khai, quân Lý Tông Nhân trù trừ không tiến, chờ khi Phụng quân bại rút, Bạch Sùng Hy bèn xuất quân từ Vũ Hán vội vả hành quân lên phía bắc.


Cuộc chiến bắc phạt công của Phùng Ngọc Tường nhiều, hy sinh lớn ; kết quả chỉ được một tỉnh Sơn Đông không trọn vẹn ; Trực Lệ [Heibei, Hà Bắc], Bắc Kinh [Beijing], Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc] đều vào tay Diêm Tích Sơn. Nhân trước đây Phùng thường lật lọng phản phúc, không dễ khống chế, nên Tưởng không muốn cho thế lực khuyếch trương ; ngoài ra Anh, Mỹ, Nhật ghét trước đây thân cận với Nga Xô, nên không muốn để Bắc Kinh, Thiên Tân vào trong tay Phùng, Tưởng vì vấn đề ngoại giao cũng phải suy xét. Cuối cùng còn một lý do là Diêm, Phùng sớm có mâu thuẫn, Diêm muốn vươn ra ngoài nhưng thường bị Phùng chèn ép, nên ra sức liên kết với Tưởng. Do đó Phùng bị áp chế rồi sinh oán giận, xưng bệnh đòi nghỉ, tin loan truyền có xung đột với Diêm Tích Sơn.


Trước thời bắc phạt binh ngạch toàn quốc ước 140 vạn, sau bắc phạt tăng lên đến 230 vạn ; lương hướng cho quân vượt quá thu nhập cả nước. Sau khi khắc phục Bắc Bình, Tưởng Giới Thạch đề xuất tài giảm quân, đích thân đến Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc], Trịnh Châu [Zhengzhou, Hà Nam] ; mời Lý Tông Nhân, Phùng Ngọc Tường lên phía bắc cùng Diêm Tích Sơn họp tại Bắc Bình, bàn bạc phương án chỉnh lý quân sự, quyết định triệu tập cuộc hội nghị biên chế, trước hết 4 tập đoàn giảm thành 60 sư đoàn, biên tuyển 20 vạn quân. Đệ nhất tập đoàn quân của Tưởng khoảng 50 vạn người, Đệ nhị tập đoàn của Phùng 40 vạn, Đệ tam, Đệ tứ tập đoàn của Diêm Tích Sơn, Lý Tông Nhân mỗi tập đoàn khoảng 20 vạn. Chẳng bao lâu lệnh cải biên đưa ra Đệ nhất tập đoàn biên chế thành 13 sư đoàn, Đệ nhị, Đệ tam tập đoàn mỗi đơn vị 12 sư ; Đệ tứ tập đoàn 8 sư. Những số tạp quân do bắc phương thu biên gần đây, không nằm trong đó ; Diêm Tích Sơn mãn ý về lệnh này, nhưng Phùng Ngọc Tường, Lý Tông Nhân rất lấy làm bất bình.


Quân Đệ nhất tập đoàn trú tại Giang Tô, An Huy, Chiết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến ; tức những vùng do trung ương cai quản trực tiếp. Đệ nhị tập đoàn trú tại Hà Nam, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, Thanh Hải, Ninh Hạ. Đệ tam tập đoàn trú tại Hà Bắc, Sơn Tây, Tuy Viễn, Sát Cáp Nhĩ. Đệ tứ tập đoàn trú tại Hồ Bắc, Hồ Nam, phía nam Hà Bắc, Quảng Tây, Quảng Đông. Liêu Ninh, Cát Lâm, Nhiệt Hà thuộc Trương Học Lương ; Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Tân Cương do địa phương quân phiệt quản lãnh. Đó là đại thể trú quân ngay sau khi bắc phạt.


Quốc dân đảng lúc đầu đặt Trung ương chính trị hội nghị, sau khi bắc phạt đặt các phân chi tại Quảng Châu [Quangzhou, Quảng Đông], Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc], Khai Phong [Kaifeng, Hà Nam], Thái Nguyên [Taiyuan, Sơn Tây], Bắc Bình [Beijing, Hà Bắc] ; do lãnh tụ quân sự tại các nơi này chủ trì, chỉ đạo việc chính trị tại địa phương ; do đó Lý Tế Thâm, Lý Tông Nhân, Phùng Ngọc Tường, Diêm Tích Sơn không chỉ nắm quân quyền, mà còn nắm cả chính quyền địa phương. Cuối năm 1927, có người đề ra “ Phân trị hợp tác ” ; “ phân trị ” tức để cho lãnh tụ quân nhân cát cứ, còn “ hợp tác ” thực chất chỉ là đối lập với chính quyền trung ương ; điều này Tưởng Giới Thạch không thể vui vẻ mà chấp thuận ; huống chi lúc này binh lực Tưởng so với địa phương mạnh gấp bội, lại còn giàu có hơn.


Quyền quân đội, chính quyền ; Quốc dân đảng bị chia ba xẻ bảy, ngoài phái Tây Sơn hội nghị, thuộc chính thống Đệ nhị khoá Trung ương chấp hành uỷ viên hội có Uông Triệu Minh, Hồ Hán Dân, Tưởng Giới Thạch phân biệt. Sau khi hoàn thành bắc phạt, chuẩn bị thi hành huấn chính ; do Quốc dân đảng huấn luyện nhân dân và đại biểu thi hành chính quyền. Tháng 8 năm 1928 triệu tập lần thứ 6, Đệ nhị khoá Trung ương chấp hành uỷ viên hội, quyết định đảng trị chính quyền, đảng trị quân, hạn thời gian triệt tiêu phân hội tại các vùng, không được dùng danh nghĩa phân hội để phát biểu đối ngoại, không được bổ nhiệm, bãi miễn các quan chức trong vùng. Quân dân chính phủ thiết lập 5 viện : hành chính, lập pháp, tư pháp, khảo thí, Giám sát; thống nhất quân chính, quân lệnh, giáo dục quân sự, cùng tài chính. Tháng 10, ban bố cương lãnh huấn chính, thành lập tân Quốc dân chính phủ, Tưởng giữ chức Chủ tịch ; Đàm Diên Khải, Hồ Hán Dân, Vương Sủng Huệ, Đái Truyền Hiền, Thái Nguyên Bồi chia giữ Viện trưởng 5 viện ; Phùng Ngọc Tường giữ chức Phó viện trưởng hành chánh kiêm Bộ trưởng quân sự, Diêm Tích Sơn giữ chức Bộ trưởng nội chính, Lý Tông Nhân giữ chức Viện trưởng quân sự tham mưu, Lý Tế Thâm Bộ trưởng tham mưu ; đứng đầu Quốc dân đảng phái hữu, cùng lãnh tụ quân sự đều có chức vụ ; riêng Uông Triệu Minh thuộc phái tả thì tay không.


Biên khiển hội nghị 1 càng tăng thêm quân nhân nghi kỵ, Quốc dân đảng toàn quốc đại biểu hội nghị lần thứ 3 lại gây nên cừu địch trong đảng. Vào tháng 10/1928 Uông Triệu Minh bị Quốc dân chính phủ gạt bỏ ; tháng 11 Uông tại Thượng Hải thành lập “ Quốc dân đảng đảng vụ đồng chí hội ”, nhắm khôi phục Quốc dân đảng cải tổ năm 1924, nên được gọi là “ Cải tổ phái ”. Tháng 3/1929, Quốc dân đảng toàn quốc đại biểu đại hội lần thứ 3 nghiêm khắc công kích Cải tổ phái, những người thuộc phái này như Trần Công Bác, Cố Mãnh Dư bị khai trừ ra khỏi đảng, Uông cũng bị cảnh cáo ; do đó mối liên hệ giữa Cải tổ phái và chính phủ Nam Kinh hoàn toàn bị phá vỡ. Tưởng trở thành lãnh tụ tại Nam Kinh, sau đại hội toàn quốc lần thứ 3, những người thân tín của Tưởng như anh em Trần Lập Phu, Trần Quả Phu, một người trở thành Thường vụ chấp hành uỷ viên, một người là Bí thư trưởng trung ương, nắm thực quyền của đảng, được gọi là hệ CC [Central Club] ; bị Cải tổ phái căm ghét vô cùng.



2. Đánh dẹp Quế hệ


Thế lực của Quế hệ bố trí tại các miền xung yếu nam bắc, Lý Tế Thâm tại Quảng Châu, Hoàng Thiệu Hoằng tại Quảng Tây ; Lý Tông Nhân tại Vũ Hán, phụ thêm có Hồ Tông Phong, Đào Quân ; riêng Bạch Sùng Hy thì đồn quân tại vùng Thiên Tân, Đường Sơn [Tangshan, Hà Bắc]. Tưởng Giới Thạch từ lâu đã có thành kiến với Quế hệ, hai bên khó cùng tồn tại ; riêng Hồ Tông Phong, Đào Quân là những đơn vị trưởng dưới quyền Lý Tông Nhân thì lại càng tỏ ra hung hãn. Mùa thu năm 1928, Lý Tông Nhân khuếch trương lớn, quân Bạch Sùng Hy từ Hà Bắc điều trở về Vũ Hán, lại có tin âm mưu liên kết với Tổng tham nghị Phụng quân Dương Vũ Đình. Tưởng Giới Thạch cũng chuẩn bị quân để tấn công miền tây ; trong thời gian hội họp về biên khiển, Bạch cáo bệnh không đến, 8 lần nạp đơn xin từ chức.


Hồ Nam nằm giữa Vũ Hán, Quảng Châu, Chủ tịch tỉnh Lỗ Điều Bình là bộ thuộc cũ của Đàm Diên Khải. Quế hệ muốn đem Quảng Châu, Hồ Bắc kết liên thành một khối, bèn âm mưu với Sư trưởng Hồ Nam Hà Kiện loại bỏ Lỗ Điều Bình. Ngày 21/2/1929, Hồ Tông Phong giả danh nghĩa Vũ Hán chính trị phân hội, bãi chức Lỗ, phái binh tiến chiếm Trường Sa [Changsha, Hồ Nam] ; lúc bấy giờ Lý Tông Nhân tại Nam Kinh, bèn bí mật đến Thượng Hải trong ngày, ra lệnh quân Vũ Hán chuẩn bị chiến tranh. Tưởng biết rằng không thể giữ hoà bình, nên ra lệnh trung ương động binh, gọi là “ Thảo nghịch quân ” ; bọn Ngô Cảnh Hoàn hẹn với Lý Tế Thâm từ Quảng Châu lên để điều giải. Ngô Tông Phong đả kích trung ương mang quân tây tiến, tuyên bố sẽ “ chặn đầu đánh mạnh ”. Ngày 20/3, Tưởng diễn thuyết đả kích “ Tự tiện điều binh, trái với quyết định của hội nghi biên khiển, phá hoại thống nhất, không thể không chế tài. Trung ương đối địa phương chỉ có mệnh lệnh, không dung cái gọi là điều đình ”. Lại bảo rằng “ Lãnh tụ quân sự cao cấp địa phương phần lớn là nhân viên chính phủ trung ương, đáng quần tụ tại thủ đô, cùng mưu quốc sự ; nhưng lại bỏ trách nhiệm, đột ngột trở về địa phương, lại vu cho trung ương độc tài. Gần đây các tướng lãnh gửi điện, phần lớn đều bảo phục tùng trung ương, lại bảo hoà bình ; nhưng thực tình chống lệnh trung ương, cái gọi là phục tùng chỉ là hư danh, phản kháng chính là sự thực ; cái gọi là hoà bình thì thực sự là hoành hành vũ lực. Hiện tượng nguy hiểm của cách mệnh đã đến cực độ, cần phải xử lý thích đáng, đưa toàn lực duy trì uy tín trung ương, bảo hộ quốc gia thống nhất ”. Lời tuyên bố của Tưởng không những nhắm riêng Quế hệ, còn chỉ chung đến các lãnh tụ địa phương khác. “ Xử lý thích đáng ” tức chế tài quân sự; đây chẳng khác gì một lời tuyên ngôn cho việc thống nhất bằng vũ lực. Ngày 21/3, Lý Tế Thâm bị nghiêm cấm, ngày 25 chiến tranh bắt đầu, ngày 26 Quốc dân chính phủ ban bố đánh dẹp tập đoàn Lý Tế Thâm, Lý Tôn Nhân, Bạch Sùng Hy ; lúc này cách thời gian bắc phạt thống nhất chưa quá 3 tháng ; Tưởng Giới Thạch thân hành đốc quân, lực lượng trung ương ước 15 vạn, Quế hệ 10 vạn.


Phá tan nội bộ Quế hệ là sách lược chính của Tưởng. Quân dưới quyền Bạch Sùng Hy, 5 vạn, đồn trú tại Thiên Tân, Đường Sơn, nguyên là quân của Đường Sinh Trí ; Bạch định dùng đường sắt Thiên Tân – Phố Khẩu, qua Sơn Đông tiến chiếm Từ Châu, Nam Kinh. Đường Sinh Trí được Tưởng cấp cho 150 vạn tiền lương, với khẩu hiệu “ Đả đảo Quế hệ, trở về Hồ Nam ” thu hồi được bộ thuộc cũ ; khiến đầu tháng 3, Bạch khốn đốn rút chạy. Quân trung ương từ 2 hướng tiến đánh Vũ Hán, gồm : Đệ nhất lộ, do Chu Bồi Đức chỉ huy tiến từ Giang Tây ; Đệ nhị lộ do Lưu Trì chỉ huy, tiến từ biên giới An Huy, Hồ Bắc. Sau khi Hồ Bắc bị uy hiếp, Bạch lại còn kế hoạch rút lui toàn bộ về Hồ Nam, hợp với quân Quảng Đông, Quảng Tây tiến lên phương bắc, để cùng Tưởng quyết chiến. Nhưng Hồ Tông Phong, Đào Quân không theo ; Lý Tông Nhân từ Thượng Hải chưa thể trở về, Lý Tế Thâm bị câu lưu ; Tướng lãnh Quảng Đông Trần Minh Khu, Trần Tế Đường theo lời khuyên của Hồ Hán Dân đánh đuổi Hoàng Thiệu Hoằng, nên Quế quân không còn thế sách ứng, phải đơn độc tác chiến. Lại không ngờ sinh ra nội biến, nguyên Quế hệ sau khi có được Hồ Bắc, Hồ Tông Phong, Đào Quân dùng người Hồ Bắc nắm tài chính, đút cho đầy túi ; khiến tướng lãnh gốc Quảng Tây rất bất bình, bảo rằng “ Người Quảng Tây liều mạng đánh nhau, để cho Hồ Bắc thăng quan phát tài ” ; Tưởng đối với Bạch Sùng Hy, Lý Tế Thâm cũng dùng sách lược tương tự để phân hoá. Ngày 4/4 Hồ Tông Phong, Đào Quân bỏ trốn, quân trung ương chiếm lãnh Vũ Hán. Ngoài ra Du Tác Bách trước đây cùng Lý Tông Nhân dấy lên tại Quảng Tây, sau bị bài xích bỏ đi; nay Tưởng dùng để vận động Sư trưởng Quế quân Trương Minh Thuỵ theo trung ương ; xét ra cuộc chiến này, vận dụng chính trị nhiều hơn quân sự.


Sau khi Quế hệ tại Hoa bắc, Hoa trung, Hoa nam thất bại ; chỉ còn Hoàng Thiệu Hoằng cùng Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy chiếm cứ Quảng Tây, chống lại Tưởng. Tưởng ra lệnh quân Hồ Nam, Quảng Đông đánh kẹp ; nhưng Lý, Bạch ra tay trước, mang quân vào Quảng Đông. Tháng 5 quân Quảng Đông và Quế quân kịch chiến tại vùng phụ cận Quảng Châu, Quế quân đại bại. Tháng 6/1929 Lý Minh Thuỵ họp với quân Quảng Đông tiếp tục tiến, Quế quân lần lượt đầu hàng ; Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy, Hoàng Thiệu Hoằng chạy trốn ra Hương Cảng ; Quảng Tây vào tay Du Tác Bách.


3. Hộ đảng cứu quốc quân


Qua hội nghị biên khiển, mối quan hệ giữa Tưởng Giới Thạch và Phùng Ngọc Tường không dễ duy trì ; lúc Tưởng cùng Quế hệ tranh đấu quyết liệt, cả hai phe đều muốn tranh thủ Phùng. Phùng ra lệnh Hàn Phục Củ, Thạch Hữu Tam tiến đóng tại vùng biên giới Hà Nam, Hồ Bắc, chờ hai bên đánh nhau để hưởng lợi ; nhưng Quế hệ thất bại ngay, nên không thu hoạch được gì. Vấn đề Sơn Đông càng làm cho quan hệ giữa Tưởng, Phùng thêm khẩn trương. Vào tháng 1/1929 Trung, Nhật bắt đầu bàn về Tế Nam, tranh chấp chưa ngã ngũ ; nhân chính phủ Nam Kinh chuẩn bị chiến tranh với Quế hệ nên nhượng bộ Nhật Bản, ngày 18/3 giải quyết, bỏ đòi hỏi bồi thường, xin lỗi ; Nhật Bản hứa trong vòng 2 tháng sẽ rút quân, Chủ tịch Sơn Đông Tôn Lương Thành thuộc Phùng hệ sẽ tiếp thu. Sau khi Tưởng bình định Vũ Hán, bèn thay đổi biện pháp, không cho Tôn Lương Thành tiếp thu đường sắt Giao-Tế cùng Thanh Đảo, rõ ràng không muốn phe Phùng có được cửa biển. Phùng cho rằng Diêm Tích Sơn trợ giúp Tưởng, sợ bị đánh kẹp từ hai bên, muốn tập trung binh lực lệnh Tôn Lương Thành ngày đêm rút về Hà Nam, hai đạo quân Hàn Phục Củ, Thạch Hữu Tam đồng thời rút lên phía bắc.


Sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Quốc dân đảng, phái Cải tổ của Uông Triệu Minh dùng khẩu hiệu “ Hộ đảng cứu quốc ” để phản đối Tưởng. Ngày 5/5/1929 Lý Tông Nhân tại Quảng Tây đầu tiên xưng Tổng tư lệnh quân nam lộ Hộ đảng dẹp giặc. Ngày 15, bọn tướng lãnh Tống Triết Nguyên của Phùng Ngọc Tường, suy cử Phùng làm tây lộ Hộ đảng cứu quốc quân Tổng tư lệnh. Do toàn quốc đại biểu đại hội lần thứ 3 và bộ ngoại giao trung ương dùng người không đúng, Phùng trách trung ương vi phạm hội nghị biên khiển, và yêu cầu Tưởng cùng từ chức. Ngày 24 Tưởng kể những tội của Phùng ; Phùng bài xích Tưởng phá hoại đảng chương, chính phủ Nam Kinh không thể đại biểu cho toàn quốc. Nhưng sự việc xảy ra ngoài ý liệu, tướng cột trụ của Phùng là Hàn Phục Củ, Thạch Hữu Tam ngang nhiên bội phản, tuyên bố phục tùng trung ương, khiến Phùng không còn đủ khả năng để đánh dẹp Tưởng.


Diêm Tích Sơn vốn sợ Phùng Ngọc Tường gây bất lợi cho phe mình, nên tìm cách liên kết với Tưởng, Tưởng cũng tìm nhiều cách lung lạc ; đến lúc Tưởng xung khắc với Phùng, mệnh Diêm tiết chế các đạo quân tại Hoa Bắc. Diêm quyết tâm thôi xúc Phùng phản Tưởng, muốn hai phe cùng trọng thương, nên đem kế hoạch quân sự của Tưởng tiết lộ với Phùng. Hàn Phục Củ phản biến, Phùng không làm được gì hơn, kế hoạch của Diêm không có tác dụng ; Diêm bèn quay sang khuyên Phùng nhẫn nại, từ bỏ binh quyền, đến Sơn Tây để cùng xuất dương ; dụng ý khống chế để thao túng đồ đảng của Phùng, không để cho Tưởng giành hết. Phùng bị đồ đảng phản bội, thân cô đơn, nên đành phải theo ; tháng 6, từ Thiểm Tây đến Thái Nguyên, rồi tại đây bị mất tự do.


Sư đoàn trưởng Đệ tứ sư Trương Phát Khuê là người thân cận của Uông Triệu Minh ; Du Tác Bách, giúp Tưởng đánh dẹp Quế hệ nên mới được nhậm chức Chủ tịch tỉnh Quảng Tây, cũng từng kết giao với Uông, nên cả hai đều tham gia Hộ đảng vận động. Ngày 18/9/1929, Trương gửi điện chủ trương trùng khai Đệ tam thứ toàn quốc đại biểu đại hội, suất lãnh bộ hạ hơn 2 vạn người từ Nghi Xương [Yichang, Hồ Bắc] xuống phương nam. Ngày 27 Du Tác Bách tuyên bố độc lập, tự xưng Tổng tư lệnh đệ nhất phương diện Hộ đảng cứu quốc quân. Trương và Du đều bị chính phủ Nam Kinh cách chức. Uông Triệu Minh chính thức tuyên bố đánh dẹp Tưởng, hành sử chức quyền trung ương chấp hành uỷ viên hội khoá thứ hai, không thừa nhận mệnh lệnh và quyết nghị vào tháng 2 tại Nam Kinh. Du Tác Bách không nắm được các quân tại Quảng Tây, lại bị quân Quảng Đông tấn công nên thất bại, bỏ trốn sang Hương Cảng. Quảng Tây lại vào tay Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy, Hoàng Thiệu Hoằng ; nhóm này liên hợp với Trương Phát Khuê cùng mưu chiếm Quảng Đông.


Quân của Phùng Ngọc Tường rút lui về tỉnh Thiểm Tây do Tống Triết Nguyên, Tôn Lương Thành thống suất, vẫn còn số lượng 20 vạn, nhưng thiếu cấp dưỡng. Tưởng cho người đến bàn giúp đỡ, nên hứa theo. Diêm Tích Sơn rất lấy làm lo sợ việc này, nên vào ngày 17/9 đến gặp Phùng thương lượng, quyết liên hợp Trương Phát Khuê đánh lại Tưởng, Phùng không mong gì hơn ! Ngày 10/10 nhân danh Tống Triết Nguyên, từ Thái Nguyên [Taiyuan, Sơn Tây] phát điện, suy cử Diêm, Phùng làm Tổng, phó tư lệnh. Riêng Diêm vẫn giữ chính sách hai mặt, không cho Phùng trở về với quân, giữ để uy hiếp Nam Kinh ; đối với Tưởng hứa mang binh trợ giúp, mượn cớ để yêu sách lương. Vào ngày 26/10 bọn Tống Triết Nguyên giao tranh với quân chính phủ tại phía tây Hà Nam. Ngày 1/11 Phùng thông báo cho ký giả ngoại quốc rằng cuộc chiến kỳ này phe Phùng gánh 6/10 trách nhiệm, Diêm gánh 4/10. Sau đó 4 ngày Diêm nhận chức Phó tổng tư lệnh hải, lục, không quân từ chính phủ Nam Kinh ; cũng trong ngày đó Phùng tuyên bố cùng thông tấn xã Reuters rằng Diêm hoàn toàn hợp tác với Phùng đánh dẹp Tưởng. Diêm rất lấy làm bối rối, mấy lần cải chính ; rồi xưng bệnh không xuất hiện và đem Phùng giam kín. Trung tuần tháng 11, Tống Triết Nguyên đánh quân chính phủ không hạ được, bèn rút lui về Thiểm Tây. Lúc bấy giờ phía đông bắc có chiến tranh với Nga Xô, phía nam có cuộc chiến với Quế hệ, chưa kịp quay gót đã có những biến cố ngoài ý muốn, nên Tưởng không rảnh để truy kích Phùng quân.


Trong cuộc chiến tại phía tây tỉnh Hà Nam, Đường Sinh Trí cũng ra sức, nên Tưởng dựa vào đó không nghi ngờ, cho làm Tổng chỉ huy các quân tại Hà Nam. Nhưng dã tâm của Đường chưa nguôi, vốn có nguồn mạch sâu với Uông và liên lạc với Diêm, nhưng không ưa Phùng Ngọc Tường. Sau khi Tống Triết Nguyên rút lui được 5 ngày, vào ngày 1/12 Đường tại Trịnh Châu [Zhengzhou, Hà Nam] thông điện phản Tưởng, ủng hộ Uông và Diêm, liên kết với Trương Phát Khuê, xưng Tổng tư lệnh đệ tứ lộ Hộ đảng cứu quốc quân. Ngày hôm sau, Thạch Hữu Tam, người từng phản bội Phùng theo Tưởng, đóng quân tại Phố Khẩu [Poukou] đối bờ với Nam Kinh hưởng ứng ; tự xưng Tổng tư lệnh đệ ngũ lộ Hộ đảng cứu quốc quân ; khiến thái độ của Hàn Phục Củ và quân chính phủ đóng tại Hà Nam bị dao động. Sau khi phản biến, Thạch Hữu Tam mang quân pháo kích Nam Kinh, rồi kéo lên phía bắc. Đường Sinh Trí muốn chiếm lại Hồ Bắc, Hồ Nam, từ Trịnh Châu tiến xuống phương nam, vào ngày 4/1/1930 bị quân chính phủ đại bại tại phía nam tỉnh Hà Nam, Đường lại phải lưu vong lần thứ hai.


Sau khi Trương Phát Khuê cùng Quế hệ liên lạc, bèn xua quân đánh Quảng Châu. Trung tuần tháng 12 bị quân Quảng Đông và trung ương do Hà Ứng Khâm chỉ huy đánh bại, rút lui về Quảng Tây. Quân Quảng Đông tiếp tục truy kích, hai bên thắng bại dằng co ; nhưng con bài Hộ đảng cứu quốc quân đã đến hồi cuối. Từ đó lực lượng nam bắc chống lại Tưởng đi vào cao trào, nhưng không còn trương ngọn cờ Hộ đảng cứu quốc nữa.


Hồ Bạch Thảo





1  Biên khiển : biên chế, điều động quân đội.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss