Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc / Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc (2)

Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc (2)

Chương hai : Liên hiệp chống Tưởng Giới Thạch


Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc


Hồ Bạch Thảo


Chương hai

Liên hiệp chống Tưởng Giới Thạch


tpk

Trương Phát Khuê [1896-1980]
nguồn : Wkipedia


1. Đại liên hiệp chống Tưởng


Trong cuộc chiến tranh chống Tưởng của Phùng Ngọc Tường, Diêm Tích Sơn hành động úp mở, thu hoạch được nhiều. Đường Sinh Trí phản biến, nếu không do Diêm Tích Sơn dẫn đường, tối thiểu Diêm đã dành cho Đường nhiều cơ hội. Diêm chủ trương việc đảng do đảng giải quyết, việc nước do người trong nước giải quyết, vũ lực cần phục tùng theo đa số. Lúc này Tưởng lâm vào hoàn cảnh nguy nan, nên không thể không chiều theo Diêm ; cho Diêm đạt một ít dục vọng để tuân theo Tưởng mang quân đến phía bắc Hà Nam, nhưng bên trong thì Diêm ngầm thông đồng với Đường Sinh Trí. Ngày 3/1/1930 Diêm đến Trịnh Châu [Zhengzhou, Hà Nam] chuẩn bị cử sự, nhưng thế lực của Đường Sinh Trí đã tiêu trầm. Diêm tự biết rằng hành động mấy năm nay, sớm muộn Tưởng Giới Thạch sẽ không dung, nên tích cực chiêu tập quân nhân phản phúc, kết nạp các bè phái đảng viên chống Tưởng. Sau khi đến Trịnh Châu, giao cho Hàn Phúc Củ làm Tổng tư lệnh các quân, buông thả cho Đường Sinh Trí chạy thoát ; cử người đến Thượng Hải liên lạc với Tây Sơn hội nghị phái, Cải tổ phái.


Ngày 9/1/1930 Tưởng Giới Thạch đánh điện bàn với Diêm về thế cục hiện tại ; hai ngày sau Diêm đề nghị rằng việc dùng vũ lực thống nhất khó có khả năng thành công, vậy hai người gánh trách nhiệm, Tưởng và Diêm cùng từ chức, thực hiện theo người xưa “ Lễ nhượng vi quốc ” 1 ; đó là bước đầu Diêm mưu đánh đổ Tưởng. Tưởng đáp rằng cách mệnh cứu quốc là nghĩa vụ, không thể chối từ ; đối với kẻ dựa vào vũ lực làm nguy quốc gia, phải lấy vũ lực chế tài. Diêm trả lời “ Dẹp loạn không bằng dừng mối loạn ” 2, sau khi từ chức thì kẻ phản đối không có mục tiêu công kích, không thể dựa vào để gây chuyện. Tưởng phát biểu việc xuất xử 3 tiến thoái, y theo mệnh lệnh của đảng ; trước mắt có hàng vạn sự khó khăn, quyết tâm không kể thành bại lợi hại, vì đảng dẹp loạn, vì nước trừ gian. Viện trưởng hành chánh Đàm Diên Khải, Viện trưởng lập pháp Hồ Hán Dân, Viện trưởng tư pháp Vương Sùng Huệ cũng trách Diêm hành vi lời nói mâu thuẫn. Sau đó hai bên khẩu chiến qua điện báo kéo dài hơn một tháng ; Tưởng bài xích Diêm lấy danh nghĩa lễ nhượng nhưng thực tế là tranh đoạt ; Diêm bài xích Tưởng đệ tam thứ toàn quốc đại biểu đại hội, là đại hội riêng cho Tưởng ; biên khiển, thảo phạt là mệnh lệnh riêng của Tưởng. Vào ngày 26/2, Tưởng ra thông báo cuối cùng cho Diêm kết thúc biện luận vô ích.


Diêm vốn được khen mưu sâu tính toán cặn kẽ, lần này quá khéo lại thành dở, không thể trở về với vị thế cũ, nên thế phải xông ra. Lý Tông Nhân, Trương Phát Khuê khuyên Diêm ép Tưởng lùi bước, Uông Triệu Minh khuyên dùng vũ lực chế tài Tưởng. Ngày 23/2 Diêm suất lãnh 10 tỉnh, gồm : Hà Bắc, Sơn Tây, Hà Nam, Thiểm Tây, Cam Túc, Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Tây, Phúc Kiến, Sát Cáp Nhĩ, cùng 45 tướng lãnh tuyên bố qua điện, chủ trương do Trung ương uỷ viên các khoá đệ nhất, đệ nhị, đệ tam tổ chức hội nghị lâm thời, thành lập đệ tứ khoá trung ương, hoặc do toàn thể đảng viên tổng đầu phiếu, hoàn thành tổ chức đảng. Ngày 25, Diêm đích thân đến đón Phùng Ngọc Tường, Phùng trong 3 tháng trời bị quản chế tại huyện Ngũ Đài [Wutai, Sơn Tây] quê hương của Diêm, đưa về tỉnh lỵ Thái Nguyên [Taiyuan], rồi mang quân đến Sơn Đông. Lúc này Hàn Phục Củ tại Hà Nam, Trương Học Lương tại miền đông bắc, qua Tưởng vận động đều tỏ thái độ hoà bình, khiến Diêm rất kinh ngạc. Càng làm cho Diêm lo sợ là thái độ của bộ hạ Phùng như bọn Tống Triết Nguyên, thống hận về cuộc chiến chống Tưởng năm ngoái, giữa chừng bị Diêm bán đứng mưu hoà với Tưởng ; cũng vì lý do này nên bọn họ không tham gia cuộc phản biến của Đường Sinh Trí. Sau khi Đường Sinh Trí bại, Tống Triết Nguyên xin Tưởng tiếp tế lương hướng vũ khí, ra sức đánh Sơn Tây ; Tưởng cũng điều binh khiển tướng, chuẩn bị đánh tan vùng đất căn bản của Diêm. Diêm làm kế hoãn binh, gửi điện yêu cầu Tưởng từ chức, cấp tốc rút các quân từ Hà Nam, Sơn Đông trở về giữ vững Sơn Tây. Ngày 7/3 làm cuộc thương lượng cuối cùng với Phùng Ngọc Tường, thề quyết tâm đánh Tưởng, cùng đưa cho Phùng ngân khoản 80 vạn nguyên. Ngày 10/3 Phùng từ Thái Nguyên gấp rút đến Chung Quan [Tongguan, Thiểm Tây], khi Phùng đến nơi, bọn Tống Triết Nguyên đang chuẩn bị đánh Sơn Tây ; Phùng không đếm xỉa đến sự phản đối của bộ hạ, cùng Diêm liên hiệp cử binh. Trong vòng một năm nay, hành động của phe chống Tưởng biến ảo không lường được, hiện tại coi có vẻ nhất trí.




2. Trung nguyên đại chiến [Tưởng, Diêm, Phùng, Quế hệ đại chiến]



Cuộc vận động chống Tưởng Giới Thạch kỳ này to lớn, từ trước tới nay chưa từng có. Nói về lãnh đạo, về mặt quân sự có mặt Tổng tư lệnh 3 tập đoàn ; về đảng vụ, bao quát Cải tổ phái [tả phái], Tây Sơn hội nghị phái [hữu phái]. Về lực lượng quân đội, Diêm, Phùng mỗi phe có 20 vạn quân ; Quế hệ Lý Tông Nhân, Trương Phát Khuê khoảng 7 vạn quân ; ngoài ra còn phụ thêm những bọn như Thạch Hữu Tam, khoảng 20 vạn ; tổng kê lực lượng phe phản Tưởng không dưới 80 vạn. Bàn về khu vực địa lý có 9 tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, Thanh Hải, Ninh Hạ, Tuy Viễn, Sát Cáp Nhĩ, Quảng Tây ; và một bộ phận các tỉnh Hà Nam, An Huy, cùng 2 thành thị Bắc Bình và Thiên Tân.


Phía chính phủ Nam Kinh do Tưởng độc lực đấu tranh, riêng Hồ Hán Dân, Đàm Diên Khải cũng có ảnh hưởng tương đối về quân sự và chính trị. Số quân khả dụng của phe này khoảng hơn 60 vạn ; vùng đất kiểm soát gồm các tỉnh Giang Tô, Giang Tây, Chiết Giang, Hồ Bắc, Sơn Đông, Phúc Kiến, Quảng Đông ; một bộ phận các tỉnh Hà Nam, An Huy, và các thành thị Thượng Hải, Quảng Châu, Hán Khẩu. Còn 4 tỉnh phía đông bắc : Liêu Ninh, Cát Lâm, Hắc Long Giang, Nhiệt Hà và 3 tỉnh tây nam : Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu thì hầu như trung lập, trên danh nghĩa theo trung ương. Các quân do Tưởng trực tiếp thống suất tương đối tinh nhuệ ; trang bị vũ khí tốt, lại có không quân, hải quân ; về phương diện tài chánh thì các tỉnh thuộc lưu vực sông Trường Giang và Quảng Đông giàu có hơn hẳn các tỉnh miền tây bắc. Riêng về nhân tâm thì hơn 10 năm nay nhân dân quá no về chiến hoạ, qua cuộc bắc phạt uy tín của Tưởng đã được xác lập, sau khi khắc phục Bắc Kinh chủ trương tài giảm binh bị, việc này danh chính ngôn thuận, đáng được thi hành. Lai lịch Phùng Ngọc Tường, Diêm Tích sơn trong dĩ vãng nhân dân đều biết ; cho dù họ thi thố như thế nào thì cũng không thoát ra khỏi con đường quân phiệt ; một khi phe này thắng thế, nội bộ sẽ không nhường nhau, lại dẫn đến giành đất cát cứ. Nếu như giữ được lực lượng trung tâm, có một chính phủ trung ương tương đối mạnh, quốc gia xã hội có thể mong yên định, tránh được cảnh giết chóc không ngừng. Tìm người có đủ tư cách để thực hiện những nguyện vọng nêu trên, không thể không nhắm đến việc để Tưởng lãnh đạo chính phủ Nam Kinh ; tài phiệt vùng Chiết Giang, Giang Tô ra sức chi trì cho Tưởng cũng vì lý do này.


Diêm đưa chiêu bài “ Lễ nhượng vi quốc ”, muốn thực hiện cảnh Nghiêu Thuấn 4 thời xưa, tự bản thân cũng biết rằng không thể được. Sau khi Tưởng nhận được điện của Diêm, lập tức điều quân chủ lực tập kết tại các tuyến đường sắt Bình Hán [Bắc Bình – Hán Khẩu], đoạn phía nam ; Tân Phố [Thiên Tân – Phố Khẩu], và phía đông tuyến Lũng Hải [Cam Túc – bến cảng tại Giang Tô]. Vào tháng 2, 3, Tưởng tấn công trước các thành phần cấu kết với Diêm tại vùng phía nam Sơn Đông, phía bắc An Huy, và miền đông Hà Nam để làm vững vùng ngoại vi của Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô]. Diêm cầm quân không vững, lúc tiến lúc thoái, toàn bộ chiến sự thua sút. Trung tuần tháng 3, quân Phùng Ngọc Tường tiến sang phía tây tỉnh Hà Nam và vùng biên giới tỉnh này với Hồ Bắc ; Diêm quân tiến vào phía bắc tỉnh Sơn Đông. Đầu tháng 4, Diêm tại Thái Nguyên tuyên bố nhậm chức Tổng tư lệnh Trung hoa dân quốc hải lục quân, chỉ trích Tưởng chuyên chế độc tài, nắm đảng bộ để ra uy phúc ; quyết hành quân tại trung nguyên để cứu đảng cứu nước ; Phùng Ngọc Tường và Lý Tông Nhân giữ chức Phó tổng tư lệnh. Chính phủ Nam Kinh chính thức hài tội Diêm và ra lệnh tập nã. Ngày 1/5 Tưởng tuyên thệ xuất quân thảo phạt, Phùng Ngọc Tường đến Trịnh Châu chỉ huy quân tiền phương ; Tưởng chạy vạy thị sát các nơi trọng yếu như Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô], Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc], Hà Nam, Sơn Đông, nằm không ấm chiếu, đích thân điều động.


Đây là cuộc nội chiến lớn quy mô hiếm thấy, thường được gọi là “ Trung Nguyên đại chiến ”, xẩy ra trên 3 chiến trường : Hà Nam, Sơn Đông và Hồ Nam ; có thể chia làm 3 giai đoạn :


Giai đoạn một : từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 7, quân chính phủ của Tưởng có phần bất lợi. Tại Hà Nam vào ngày 12/5 quân chính phủ tại tuyến đường sắt Lũng Hải bắt đầu công kích, chiếm được Qui Đức [Shangqiu, Hà Nam], rồi cùng quân Diêm, Phùng giao tranh mạnh tại phía đông Khai Phong [Kaifeng, Hà Nam]. Diêm, Phùng giữ chắc trận địa, riêng quân chính phủ nhìn ngó bồi hổi, từ thế công chuyển sang thế thủ ; quân Diêm thừa cơ tiến công, khiến quân chính phủ phải rút lui. Đầu tháng 7, quân Phùng tập kích ban đêm, đánh tan bộ chỉ huy tại Quy Đức, lại chi viện cho tuyến đường sắt Bình Hán, quân chính phủ cả hai đường đều thất bại.


Tại Sơn Đông quân Diêm Tích Sơn từ đoạn phía bắc đường sắt Tân Phố vượt sông Hoàng Hà tiến vào phía đông tỉnh lỵ Tế Nam [Jinan, Sơn Đông]. Tổng chỉ huy Sơn Đông Hàn Phục Củ mưu bảo vệ thực lực, ngày 25/6 bỏ Tế Nam, rút quân sang Giao Châu loan [Jiaozhou, Sơn Đông] phía đông, quân Diêm tiếp tục chiếm Thái An [Tai’an, Sơn Đông], xâm nhập phía nam tỉnh Sơn Đông.


Tại phương nam, quân phản Tưởng đánh Quảng Đông thất bại ; quân Quảng Đông vào Hồ Nam, Quảng Tây, cùng với quân Vân Nam họp lại đánh. Lúc chiến sự tại Hà Nam xẩy ra, Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy, Trương Phát Khuê thay đổi chiến lược, mang quân chủ lực đánh Hồ Nam để làm thế hô ứng cho Phùng Ngọc Tường, Diêm Tích Sơn. Ngày 5/6 hạ Trường Sa [Changsha, Hồ Nam], 10 ngày sau chiếm Nhạc Dương [Yueyang, Hồ Nam], khiến Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc] chấn động. Quân chính phủ từ Quảng Đông, Giang Tây, Vũ Hán tiếp viện ; quân số Quế hệ và Trương Phát Khuê chỉ có vài vạn, phải rút lui về phương nam ; quân chính phủ chiếm lại Trường Sa và Nhạc Dương.


Giai đoạn hai : từ tháng 7 đến trung tuần tháng 9. Tại Hồ Nam, sau khi chiếm được Trường Sa và Nhạc Dương, đạo quân Quảng Đông của chính phủ chiến thắng lớn tại Hoành Châu [Hengyang, Hồ Nam], quân phản Tưởng tổn thất trầm trọng, phải rút về Quảng Tây.


Tại Sơn Đông sau khi thất thủ Tế Nam, Tưởng cho điều quân từ tuyến đường sắt Lũng Hải sang tuyến Tân Phố, lại điều động thêm quân Quảng Đông mới chiến thắng tại Hồ Nam, hợp lực tấn công. Đầu tháng 8 đại phá quân Diêm Tích Sơn tại vùng phụ cận Thái An, quân Diêm tổn thất 3 vạn, vào ngày 15 phải rút ra khỏi Tế Nam. Còn một nguyên nhân cho việc thua trận, bởi quân Diêm phần lớn dùng bạch phiến, quấn vào giấy để hút; lúc bấy giờ trời mưa liên miên, quân lính ở ngoài trời không thể mồi lửa để hút, nên xuống tinh thần, bạc nhược.


Tại Hà Nam Phùng quân tiếp tục tiến công từ tuyến Lũng Hải, giao tranh ác liệt trong 7 ngày ; rồi được tin quân Diêm tại Sơn Đông thua bại, bèn rút lui. Ngoài ra lúc bấy giờ trời mưa liên miên, nước dâng lên cả thước, nên chiến sự phải tạm đình chỉ. Đầu tháng 9 quân chính phủ bắt đầu tấn công tại tuyến Lũng Hải ; do Phùng quân đóng đồn cố thủ, không dễ gì tấn công, nên quân chính phủ đổi chiến thuật, không đánh vào chỗ kiên cố, thừa sơ hở tiến đến Khai Phong [Kaifeng, Hà Nam], Lạc Dương [Luoyang, Hà Nam].


Về phương diện chính trị phái phản Tưởng triệu tập hội nghị khuếch đại trung ương Quốc dân đảng tại Bắc Bình tuyên bố thành lập Quốc dân đảng chính phủ. Ngày 1/9 suy cử Diêm Tích Sơn chức Chủ tịch và 7 Uỷ viên, trong đó có Uông Tinh Vệ, Phùng Ngọc Tường, Lý Tông Nhân. Ngày 9 nhậm chức, nhưng không đến 10 ngày sau quân Trương Học Lương từ miền đông bắc tiến vào Thiên Tân, Bắc Bình ; Diêm gấp rút trở về Sơn Tây, chính phủ tại Bắc Bình rút theo rồi tan rã.


– Giai đoạn ba bắt đầu từ ngày 18/9, khi Trương Học Lương gửi điện ủng hộ chính phủ Nam Kinh, khiến phe phản Tưởng sụp đổ ; chi tiết được trình bày tại phần dưới.




3. Lực lượng phản Tưởng tan rã



Tư lệnh biên phòng miền đông bắc, Trương Học Lương, là mục tiêu tranh thủ của phe phản Tưởng và chính phủ Nam Kinh. Trương nhân cuộc chiến đường sắt Trung Đông đối với Nga, nên không bằng lòng với Tưởng. Nhưng không có ý gia nhập vào trận tuyến phản Tưởng, vẫn có ý ngồi xem biến cố ; nhưng nếu so sánh thì có khuynh hướng thiên về Nam Kinh. Thứ nhất do vấn đề tranh chấp đường sắt Trung Đông chưa xong, Nhật Bản đang mưu đồ gấp tại đông bắc, cần nhờ chính phủ Nam Kinh thay mặt ứng phó. Thứ hai, Trương đối với Tưởng có phần hâm mộ, nhưng với Diêm, Phùng có mối oán, đặc biệt đối với Phùng. Thứ ba, binh lực và tài lực của Nam Kinh so với phái phản Tưởng hùng hậu hơn ; những hứa hẹn biếu tặng nhiều hơn, ngoài ra nếu phái phản Tưởng thất bại Trương có cơ hội bành trướng thế lực tại phía trong Sơn Hải Quan [Shanhaiguan, Hà Bắc]. Tháng 3/1930 Trương gửi điện đi các nơi chủ trương bỏ tranh chấp ; đối với Diêm, Tưởng coi như nhau, nhưng đồng thời mang quân đến Sơn Hải Quan, Nhiệt Hà [Chengde, Hà Bắc], tỏ vẻ uy hiếp phe phản Tưởng. Phái phản Tưởng suy cử Trương chức Phó tổng tư lệnh hải lục không quân, nhưng Trương không nhận ; Đại biểu chính phủ Nam Kinh và phe phản Tưởng nhiều lần qua lại Thẩm Dương [Shenyang, Liêu Ninh] ra sức du thuyết. Tháng 6, Trương điện cho Diêm, Phùng ; nguyện đứng điều đình, hai bên lui quân, lấy Trịnh Châu [Zhengzhou, Hà Nam] làm khu phi quân sự, công khai chính kiến để cho trung ương chọn thi hành ; cùng tháng, chính phủ Nam Kinh giao cho Trương chức Phó tổng tư lệnh hải lục không quân, hai bên có vẻ thông cảm. Sau khi quân Diêm chiếm được Tế Nam, chính phủ Nam Kinh thúc dục Trương xuất quân, Trương biểu thị chờ cho quân chính phủ lấy lại được Tế Nam, sẽ xem xét. Tháng 7 Trương từ Thẩm Dương đến đảo Hồ Lô [Huludao, Hà Bắc] tiếp kiến đại biểu của Tưởng, nhưng cự tuyệt đại biểu Diêm, Phùng.


Tháng 8, quân chính phủ đại phá Diêm quân, Trương Học Lương từ đảo Hồ Lô tiến vào sông Bắc Đái Hà [Daihezhen, Hà Bắc] phía trong Sơn Hải Quan. Sau đó mấy ngày, quân chính phủ chiếm Tế Nam, Trương trở về Thẩm Dương, ngày 5/9 ra lệnh động viên quân tại Sơn Hải Quan. Diêm biết rằng tình hình đến hồi trầm trọng, đồng ý dành một nửa số thành viên chính phủ Bắc Bình do Trương chi phối để làm điều kiện tán trợ ; hoặc trực tiếp điều đình với Trương ; nếu không sẽ tự nguyện đưa bộ hạ về Sơn Tây, giao Hà Bắc cho Phùng Ngọc Tường, ngầm ý không để cho Trương chiếm Thiên Tân, Bắc Kinh. Ngày 18/9 Trương điện cho các bên bãi binh, yên tĩnh để cho chính phủ Nam Kinh thu xếp. Ngày 19, quân của Trương theo đường sắt Phụng Thiên – Bắc Kinh tiến sang phía tây, ngày 20 các nhân sĩ chống Tưởng tại Bắc Bình kinh hoảng bỏ trốn. Trước khi Trương ra quân, Quân trưởng Vu Học Trung kiến nghị 2 phương án : thứ nhất, từ Nhiệt Hà tiến thẳng đến Trương Gia Khẩu [Zhangiiakou, Hà Bắc], Đại Đồng [Datong, Hà Bắc] ; thứ hai, báo cho Diêm biết trước, mệnh hoà bình nhường Thiên Tân, Bắc Bình. Trương muốn lưu tình, chọn phương án thứ hai, ngày 21 quân Trương vào Thiên Tân, ngày 22 đến Bắc Bình ; quân Diêm rút về Sơn Tây. Chính phủ Nam Kinh tặng Trương 500 vạn nguyên, làm phí tổn điều quân ; lại dùng bộ tướng của Trương giữ chức Tư lệnh vệ nhung Bắc Bình, Thiên Tân, cùng Chủ tịch tỉnh Hà Bắc, riêng Trương giữ chức Phó tổng tư lệnh hải lục không quân, địa vị chỉ dưới Tưởng, đó là những thứ Trương thu hoạch được trong cuộc chiến phản Tưởng.


Trước khi quân đông bắc vào quan ải một ngày, quân chính phủ tại Hà Nam phản công lớn, Diêm Tích Sơn lệnh bộ hạ rút lui. Phùng Ngọc Tường tập kết quân tại Khai Phong, Trịnh Châu, chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn như thú mắc bẫy ; nên nhân tâm dao động tìm cách bỏ đi, có lớp đầu hàng, có lớp rút về phía bắc tỉnh Hà Nam hoặc Thiểm Tây. Đầu tháng 10, quân chính phủ chiếm Khai Phong, Trịnh Châu, rồi chiếm Lạc Dương. Ngày 1/11 chiếm Tây An [Xian, Thiểm Tây], tàn quân của Phùng rút vào tỉnh Sơn Tây.


Diêm Tích Sơn sau khi rút quân ra khỏi Bắc Bình, Thiên Tân, lại nêu lên việc cũ, đề nghị Diêm, Tưởng cả hai đều từ chức. Trong khi triệt binh, có lực lượng của Phùng Ngọc Tường yểm hộ, riêng phía Trương Học Lương cũng không làm quá, nên được an toàn rút quân về Sơn Tây, Tuy Viễn ; chỉ đánh mất vùng đất Hà Bắc, Sát Cáp Nhĩ từng chiếm được hai năm về trước. Duy quân của Phùng Ngọc Tường bị tổn thất lớn, chỉ còn hơn 1/10, không vực dậy nổi. Uông Triệu Minh sau khi đến Thái Nguyên, khẩn cấp hoàn thành bản thảo ước pháp, đề nghi khuếch đại hội nghị ; rồi theo đường Bắc Bình, Thiên Tân đến Hương Cảng. Diêm Tích Sơn tuyên bố từ bỏ quyền lực, nhưng không chịu rời Sơn Tây ; chính phủ Nam Kinh 2, 3 lần bức bách. Trương Học Lương hứa bảo chứng cá nhân Diêm và quân dưới quyền an toàn, nên đầu tháng 12, Diêm rời đến Đại Liên [Dalian, Liêu Ninh] ; 10 vạn quân của Diêm, 3 vạn quân của Phùng do Trương thu nhận.


Quế quân và quân Trương Phát Khuê sau khi từ Hồ Nam trở về Quảng Tây, bị quân Vân Nam và Quảng Đông đánh. Tuy quân Vân Nam bị đánh lui, nhưng toàn cuộc cũng không đảm đương được, do Hoàng Thiệu Hoằng ra hợp tác với quân chính phủ. Tháng 12, Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy rời Quảng Tây, quân phản Tưởng tại đây tan rã.


Nội chiến kỳ này hai bên động viên hơn 140 vạn người, trải qua 8 tháng, chết và bị thương 25 vạn. Người đích thân tham dự cuộc chiến nói rằng “ Khu vực chiến tranh rộng lớn, chiến hoạ mãnh liệt, không những các chiến dịch bắc phạt không thể so sánh nổi, mà từ thời dân quốc đến nay không có cuộc chiến nào dữ dội như vậy. Đây thực là kiếp đoạ đày lớn dân Trung Quốc phải gánh chịu, là mối đau thương của Quốc dân đảng ”. Về sinh mệnh tài sản nhân dân bị tổn thất, không có thống kê rõ ràng ; nhưng căn cứ vào tin tức báo chí có thể thấy được rằng tỉnh Hà Nam thiệt hại nặng nề nhất. Lúc chiến tranh mới xẩy ra, tỉnh Hà Nam có 112 huyện, bị đại hạn 104 huyện, bị thổ phỉ cướp bóc 76 huyện, chiến hoạ 28 huyện, số dân bị tai nạn là 15 triệu người, mỗi ngày chết đói 1000 người. Sau đó một vài tháng tại hoạ tăng lên “ Phía đông tỉnh Hà Nam, chiến trận tung hoành, xương người chết khắp nơi, mùa màng không thu hoạch, nhà cửa sụp đổ ngổn ngang, nhà nhà đều trống, bệnh tật lưu hành, đầy nước mắt thê lương ”. Còn về tài chánh của chính phủ, vào tháng 9/1929 tiền tiêu về quân chính mang nợ 13 800 vạn nguyên. Trong thời kỳ chiến tranh tiền quân dụng mỗi tháng ước 1 500 vạn nguyên, đều dựa vào việc phát hành công trái để giải quyết. Những điều biết được như Biên khiển công trái 5 000 vạn nguyên, công trái về thuốc hút 2 400 vạn nguyên, Thiện hậu khố khoán 5 000 vạn nguyên, Diêm thuế đoản kỳ khố khoán 8 000 vạn nguyên ; thống kê hơn 2 vạn vạn nguyên, phần lớn do ngân hàng Thượng Hải nhận tiêu. Quân dụng của Diêm, Phùng tuy không lớn bằng chính phủ Nam Kinh, nhưng số lượng cũng lớn ; ngoài việc phát hành công trái, dùng phiếu trong thời chiến, còn đến ngân hàng cưỡng bách mượn tiền.




4. Quảng Châu tuyên bố độc lập



Phản độc tài là khẩu hiệu chính chống lại Tưởng Giới Thạch ; Uông Triệu Minh đề xuất khuếch đại hội nghị đặc biệt chú trọng dân chủ pháp trị, lập tức khởi thảo ước pháp. Tưởng cũng muốn chiều theo thời thế, vào ngày 3/10 tại bộ chỉ huy hành quân Hà Nam điện cho trung ương đảng bộ trong vòng 3 tháng triệu tập toàn quốc đại hội lần thứ 4, xác định sẽ triệu tập quốc dân đại hội, tuyên bố nhật kỳ ban bố hiến pháp ; cùng quyết định trước khi hiến pháp ban bố, chế định ước pháp dùng trong thời kỳ huấn chính, chuẩn bị đem chính quyền quốc gia trao lại cho dân, mưu đáp ứng kỳ vọng của nhân dân. Lại xin chính phủ sau khi bình định, đại xá chính trị phạm ; phần tử cộng sản sau khi tự đổi mới thì trong vòng 3 năm được tha. Lại tuyên bố dung nạp ý kiến quốc dân, miễn không trái với nguyên tắc Tam dân chủ nghĩa.


Sau khi khuếch đại hội nghị dời đến Thái Nguyên, trong hoàn cảnh tuyệt vọng, Uông Triệu Minh cấp tốc hoàn thành thảo án ước pháp, ngày 27/12 công bố, cũng được dư luận khen. Ngày 12/11 trong lời phát biểu tuyên ngôn cuối cùng của khuếch đại hội nghị, trình bày 2 điểm quan trọng của ước pháp, buộc chính phủ Nam Kinh thi hành. Thứ nhất về huấn chính từ trước tới nay thiếu xúc tiến cơ bản dân quyền, sinh mệnh, tài sản, tự do của nhân dân không được bảo hộ ; chế độ giữa trung ương và địa phương không được phân chia, nên cả hai bên tranh nhau giành đoạt. Thứ hai, chính phủ không do pháp luật sản sinh, lại không tuần tự thay đổi theo pháp luật, không thể ban bố ước pháp. Nhân dân không thể y theo pháp luật để giám sát chính phủ, thất vọng phẫn khích, đi đến bạo loạn bùng nổ. Nếu muốn vĩnh viễn dẹp tắt nội chiến, cần phải triệu tập quốc dân hội nghị, thông qua ước pháp, nhất quyết thi hành trong phạm vi pháp luật ; “ Nếu ôm dã tâm độc tài, bẻ cong ý nghĩa của huấn chính, miệt thị dư luận, đàn áp dân quyền, trừ bỏ những ý kiến khác mình cho là kế hay, lấy việc dùng binh đến cùng biểu hiệu năng lực, sẽ bị kết tội làm lỡ nước hại dân ”. Lời nói tuy của một bên, nhưng đã bộc bạch được nỗi lòng của dân ; được quần chúng hưởng ứng, nên Tưởng không thể gác bỏ mà không xét đến.


Hồ Hán Dân và Tưởng Giới Thạch là 2 cột trụ của chính phủ trung ương ; Hồ là Quốc dân đảng nguyên lão, lời nói và hành động nghiêm chỉnh, đối với chủ nghĩa, chính cương, pháp kỷ, giữ rất nghiêm nhặt ; Tưởng từng trải không bằng Hồ, nhưng uy quyền đã thành trung tâm lực lượng. Đối với chủ trương ước pháp, Tưởng không bàn trước với Hồ ; lại tự công bố mà không kinh qua trung ương đảng bộ, Hồ cho đó là sai lầm lớn. Hơn nữa trong vòng 5 năm nay, Hồ rất ghét Uông Triệu Minh, chế định ước pháp xuất xứ từ ý kiến của Uông, nên Hồ không chịu theo. Ngoài ra thủ lãnh thứ 3 tương đối ôn hoà là Đàm Diên Khải mất vào tháng 9 năm đó [1930], nên Hồ, Tưởng không có người đứng giữa hoà giải. Vào tháng 11, trung ương chấp hành uỷ viên cử hành toàn thể hội nghị, do Hồ cương quyết phản đối nên chỉ thông qua triệu tập quốc dân hội nghị, mà không bàn đến ước pháp. Tưởng là nguyên nhung trải qua trăm trận, lại là Chủ tịch chính phủ, bị Hồ chèn ép, không thể thực hành chủ trương đã tuyên bố, thanh vọng không khỏi bị tổn thất. Hồ tính tự thị, cố chấp vào ý kiến mình, dĩ vãng đã có kiến giải khác với Tưởng ; những người không ưa Hồ lại tìm cách vu hãm, nên hai người xung đột không thể tránh khỏi.


Ngày 24/2/1931, Tưởng, Hồ lại thương lượng vấn đề ước pháp ; Hồ cho rằng ước pháp không bổ ích cho thực tế, nên yêu cầu hoãn ; lời nói hết sức nghiêm khắc, khiến Tưởng không thề nhẫn nại thêm. Ngày 28 Tưởng trách Hồ phản đối chính phủ, cấu kết với kẻ đối địch chính trị ; vận động quân đội, phá hoại hành chính, cản trở ước pháp. Hồ không chịu nhường, đưa lời bác xích, lời lẽ khích ngang ; nên bị giam cấm tại ngoại ô phía đông thành phố Nam Kinh. Ngày 2/3 Quốc dân đảng trung ương chấp nhận Hồ từ chức ; Quốc dân chính phủ trong ngày tổ chức hiến pháp uỷ viên hội, lúc bấy giờ chiến tranh phản Tưởng mới kết thúc được 4 tháng.


Sau khi Tôn Trung Sơn mất, quyền thế của Tưởng lần lượt thăng cao ; Hứa Sùng Trí, Uông Triệu Minh tiếp tục bị đẩy đi, những người tại Quảng Đông từng nắm địa vị ưu việt trong đảng đều cảm thấy bất bình, đợi đến lúc Hồ Hán Dân bị giam cấm thì trở nên quyết liệt. Ngày 5/3 đương cục Quảng Châu quân sự Trần Tế Đường xin Tưởng ái hộ Hồ, để tránh mối lo nội bộ. Lúc bấy giờ người đứng đầu văn quan tại Quảng Châu, Cố Ứng Phần, gửi điện xin từ chức ; Viện trưởng Tư Pháp Vương Sùng Huệ, Bộ trưởng đường sắt Tôn Khoa, lưu tại Thượng Hải không trở về Nam Kinh, nhắm kháng nghị Tưởng ; Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy trở về Quảng Tây để liên hợp với Quảng Đông. Ngày 30/4 bọn Giám sát uỷ viên trung ương Đặng Trạch Như, Lâm Sâm gửi điện đàn hặc Tưởng, Uông Triệu Minh, cùng tướng lãnh Quảng Tây hưởng ứng. Về phía Nam Kinh các viên chức lão thành cùng tướng lãnh hăng hái biện bác ; lại một cuộc điện báo chiến xẩy ra. Ngày 27/5 các Trung ương uỷ viên chống Tưởng tại Quảng Châu triệu tập bất thường hội nghị, giống như khuyếch đại hội nghị tại Bắc Bình, tự lập chính phủ ; trong 17 uỷ viên có 11 người gốc Quảng Đông như Đường Thiệu Nghi, Uông Triệu Minh, Tôn Khoa, Trâu Lỗ vv… ngoài ra còn có bọn Lý Tông Nhân, Đường Sinh Trí ; như vậy phái phản Tưởng lại một lần nữa liên hợp, nhưng thanh thế không bằng năm trước.


Trong khi Quảng Châu và Nam Kinh đang công kích lẫn nhau, vào tháng 5 quốc dân hội nghị tại Nam Kinh cử hành, thông qua thời kỳ huấn chính của ước pháp, khuyến cáo quân dân Quảng Đông ủng hộ hoà bình. Lúc bấy giờ tại vùng Giang Tây thế lực đảng cộng sản bành trướng, quân chính phủ bất lợi ; Tưởng một mặt khuyên các tướng sĩ dẹp bỏ nội chiến, một mặt tiễu diệt Cộng sản. Tháng 6, Nam Kinh lại suy cử Hồ Hán Dân, Lý Tế Thâm vào Quốc dân chính phủ Uỷ viên, dùng để làm yên lòng Quảng Châu, mong thời cuộc sẽ gặp cơ may, nào ngờ tại miền Hoa bắc chém giết lại nổi lên.


Thạch Hữu Tam có quân vài vạn, phản trắc sớm Tần, tối Sở ; một lần biến, lại tiếp gây biến. Lúc này Thạch bàn cứ tại phía nam Thạch Hào Trang [Shijiazhuang, Hà Bắc], cùng với Quảng Đông tương thông, lại được quân Nhật, Quan Đông sách động ; tháng 7 mang quân bắc tiến, mưu đoạt Bắc Bình. Tháng 8 chính phủ Quảng Châu ra lệnh đánh Tưởng, máy bay Nhật Bản đưa Diêm Tích Sơn trở về Sơn Tây ; nhưng quân Thạch Hữu Tam bị quân đông bắc của Trương Học Lương đánh tan. Quân Quảng Đông, Quảng Tây vẫn tiến lên Hồ Nam, Giang Tây ; Tưởng quyết định nghênh địch. Nhân Thẩm Dương [Shanyang, Liêu Ninh] bị quân Nhật tập kích, trước mắt chiến tranh khắp nơi, nên Tưởng không thể không tiến hành hoà giải.




Hồ Bạch Thảo








1 Lễ nhượng vi quốc : điển lấy từ thiên Lý Nhân, Luận Ngữ ; ý chỉ dùng lễ khiêm nhượng để cai trị quốc gia.


2 Dẹp loạn không bằng dừng mối loạn : do thành ngữ “ Kham loạn bất như chỉ loạn ”.


3 Xuất xử : xuất chính và xử sĩ ; tức ra làm quan hoặc làm kẻ sĩ ở ẩn.


4 Nghiêu Thuấn : Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là hai vị vua anh minh thời Trung Quốc xưa.


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss