Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc / Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc (3 và hết)

Các cuộc nội chiến tiếp tục tại Trung Quốc (3 và hết)

Vũ lực Trung cộng phát triển [1928-1931]



Các cuộc nội chiến
tiếp tục tại Trung Quốc


Hồ Bạch Thảo


Chương ba

Vũ lực Trung cộng phát triển
[1928-1931]


mao

Mao Trạch Đông [1893-1976]


Lúc bắt đầu bắc phạt vào năm 1926, do Quốc dân đảng và Trung cộng nắm tay tiến hành, rồi giữa đường chia rẽ, bắt đầu xẩy ra cuộc đấu tranh giữa Trung cộng và Quốc dân đảng. Quốc dân đảng từ khi có được chính phủ, nội bộ xoay vần chiến loạn không ngớt ; cuối cùng hai phe Trung cộng và Quốc dân đảng đánh nhau. Một trong những nguyên nhân chính để Trung cộng phát triển là Quốc dân đảng tranh giành nội bộ và khiên chế lẫn nhau. Lúc đầu Quốc dân đảng xem sự phản kháng của Trung cộng như ngứa ghẻ bên ngoài, nhưng chỉ trong vòng 2 năm sau bệnh trầm trọng trong tim phổi ; lực lượng Hồng quân Trung cộng phát triển tại vùng đất quan trọng thuộc nam bắc sông Trường Giang [Changjiang]. Chính phủ Nam Kinh từng chiến bại mấy chục vạn liên quân của Diêm Tích Sơn, Phùng Ngọc Tường ; nhưng đối với vài vạn Hồng quân, thì không giải quyết được, cuối cùng hết cách ứng phó.




1. Sáng kiến lập căn cứ Xô viết của Hồng quân



Vùng núi Tĩnh Cương [Jinggangshan, Giang Tây], thuộc huyện Ninh Cương, Giang Tây là căn cứ địa đầu tiên của Hồng quân. Núi này thuộc vùng biên giới hai tỉnh Giang Tây, Hồ Nam, thuộc đoạn giữa của sơn mạch La Tiêu ; đỉnh núi cao, cây cối rậm rạp, nam bắc 300 lý, đông tây 110 lý, trên là đất bằng. Các thủ lãnh Hồng Giang hội 1 Vương Tá trú trên đỉnh núi, Viên Văn Tài trú dưới núi, đồ dảng khoảng 500 người. Sau cuộc bạo động trong dịp thu hoạch mùa thu tại tỉnh Hồ Nam thất bại, Mao Trạch Đông mang bộ hạ khoảng 700 người đến đó cùng với người của Hồng Giang hội kết hợp, thành lập đoàn công nông. Trong quân thành lập tổ chức đảng, chấn chỉnh quân kỷ, thi hành hiệp hội nông dân, xích vệ đội, phát động cải cách ruộng đất, xét theo nhân khẩu chia ruộng ; khiến nhân dân vì bảo vệ lợi ích bản thân mà chiến đấu, đó là cái gọi là “ Chiến tranh nhân dân ” của Mao. Tháng 2/1928, 4 huyện Giang Tây và 2 huyện Hồ Nam đều nằm trong phạm vi ; tháng 3 thành lập Hồ Nam, Giang Tây chính phủ Xô Viết ; tháng 5 thành lập Hồ Nam, Giang Tây Cộng sản uỷ viên hội.


Sau khi quân của Diệp Đình, Hạ Long, Chu Đức bị thất bại tại Triều Châu [Chaozhou, Quảng Đông], Sán Đầu [Shantou, Quảng Đông] ; Chu Đức mang hơn 1000 quân đi về phía tây ; tháng 2/1927 được Quân trưởng Quân dân cách mệnh quân, Phạm Thạch Sinh, tại Thiều Quan [Shaoguan] phía bắc Quảng Đông thu dùng. Tháng 1/1928, do nhà đương cục Quảng Châu không dung, bèn đưa bộ hạ đến Hồ Nam, tự xưng là Hồng Đệ tứ quân, chiếm lãnh 3 huyện, binh lực tăng thêm. Sở dĩ đơn vị này mang tên Đệ tứ quân, vì trong thời gian Quốc Cộng hợp tác bắc phạt, Đệ tứ quân, trong đó có một số thành phần Cộng sản tham gia, lập được thành tích ; nên Chu Đức dùng tên Đệ tứ quân để lấy tiếng, chứ thực sự lực lượng Cộng sản lúc bấy giờ chưa đủ để thành lập quân. Mao Trạch Đông nhận được tin tức, cho người đến hội họp. Tháng 5, quân Chu Đức bị quân chính phủ đánh thua, bèn theo Mao đến núi Tĩnh Cương ; Hồng đệ tứ quân tăng quân số được 5 000, Chu giữ chức Quân trưởng, Mao làm Uỷ viên chính trị. Rồi hoạch định chiến thuật du kích “ Địch tiến ngã thoái, địch thoái ngã tiến, địch trú ngã nhiễu, địch bì ngã đả ” (Địch tiến ta lùi, địch lùi ta tiến, địch trú quân ta quấy nhiễu, địch mệt ta đánh) ; cùng đặt ra 3 kỷ luật quan trọng “ 1.Tuyệt đối phục tòng mệnh lệnh ; 2. Bất thủ nhân dân nhất châm, nhất tuyến ; 3.Trù khoản yếu quy công ” (1. Phục tùng mệnh lệnh một cách tuyệt đối ; 2. Không lấy của dân một cái kim, sợi chỉ ; 3.Ngân khoản thu được phải nạp vào của công). Chiến lược và chính sách của họ là cương quyết tác chiến, tạo chính quyền trung tâm tại Tĩnh Cương, phản đối tư tưởng rút lui, làm cách mệnh cải cách ruộng đất sâu trong vùng ; dùng đảng bộ trong quân đội giúp đỡ đảng bộ địa phương, quân đội vũ trang giúp đỡ địa phương vũ trang phát triển. Đối với thế lực tương đối mạnh của tỉnh Hồ Nam thì giữ thế thủ ; đối với thế lực yếu của Giang Tây thì dùng thế công ; sáng kiến cách cát cứ mới, tiến theo kiểu làn sóng biển, không vội vã mạo hiểm. Mao nhận định nhân lực, vật lực Trung Quốc rộng lớn tại nông thôn chứ không phải tại thành thị, bởi vậy cần chú ý phát triển Hồng quân và căn cứ địa cách mệnh tại nông thôn.


Khi Mao Trạch Đông đến Tĩnh Cương không lâu, xảy ra cuộc chiến giữa quân Nam Kinh dưới quyền Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy, Trình Tiềm với phe Vũ Hán Đường Sinh Trí ; bấy giờ lực lượng Mao Trạch Đông còn nhỏ, chưa được chú ý. Lúc Chu Đức mới vào tỉnh Hồ Nam đã bị quân Đường Sinh Trí đánh bại ; sau khi Bạch Sùng Hy tiến vào Hồ Nam, hoạt động của Chu Đức dần dần bị lưu ý. Lúc chiến sự tại Hồ Nam kết thúc, lực lượng Chu Đức đến Tĩnh Cương ; tỉnh Hồ Nam hẹn với Giang Tây vây đánh. Giang Tây phái 2 sư đoàn gốc Vân Nam kỷ luật kém ; đơn vị này mới đầu hàng quân Bắc phạt, gồm 9 000 người, làm lực lượng tiến công. Ngày 6/8 bị Hồng quân đánh bại, tổn thất hơn 1 000 ; quân Hồ Nam không tiến, lại rút lui, đó là thắng lợi thứ nhất của Hồng quân. Tháng 7, hai tỉnh làm cuộc tấn công thứ hai ; tuy thu phục được Vĩnh Tân [Yongxin, Giang Tây] nhưng lại bị Hồng quân bao vây phong toả, rồi quân Giang Tây nội bộ đánh nhau, tổn thất so với lần trước lớn hơn ; Chu Đức lại đánh vào Hồ Nam nhưng bị thua, bèn rút lui về Tĩnh Cương. Tháng 9, Hồng quân đánh lui cuộc tiến công lần thứ ba của tỉnh Giang Tây ; lúc này Mao Trạch Đông giữ chức Tổng thư ký uỷ viên hội Hồng quân, một mình nắm giữ quyền lớn.


Vào tháng 7/1928, Đệ ngũ Sư đoàn trưởng Bành Đức Hoài trú quân tại Bình Giang [Pingjiang, Hồ Nam], cùng Doanh trưởng Hoàng Công Lược phản biến. Thành lập Đệ ngũ quân Hồng quân, rồi kéo quân đến Tu Thuỷ [Xiushui, Giang Tây], Đồng Cổ [Tonggu, Giang Tây], Vạn Tải [Wanzai, Giang Tây] ; tháng 11 đến Tĩnh Cương. Tháng 12, quân Hồ Nam, Giang Tây tấn công lần thứ tư, với 3 vạn quân, dùng chiến lược vây chặt. Hồng quân tiếp tế khó khăn, bèn để Đệ ngũ quân của Bành Đức Hoài, Hoàng Công Lược giữ căn cứ Tĩnh Cương ; riêng Chu Đức, Bành Đức Hoài mang Đệ tứ quân phá vòng vây, tìm căn cứ địa mới. Đầu tháng 1/1929 Sư trưởng Hồ Nam Hà Kiến cùng Quế hệ tại Vũ Hán hợp mưu chiếm Hồ Nam, âm thầm đem quân Hồ Nam rút đi ; Mao Trạch Đông, Chu Đức thừa cơ mang quân từ Tĩnh Cương xuống phía nam tỉnh Giang Tây, đánh bại quân truy kích tại Đại Bách [Dabai, Thuỵ Kim, Giang Tây], ra vào phía đông nam Giang Tây, binh lực hơn 1 vạn. Tháng 3, tiến vào Phúc Kiến, đánh phá Đinh Châu [Tingzhouzhen], tiêu diệt quân trú phòng một lữ. Đinh Châu là thành lớn tại phía tây Phúc Kiến, Hồng quân tịch thu được 2 000 khẩu súng trường, 10 khẩu súng máy, một số lớn vật tư, rồi quay trở về phía nam Giang Tây. Lực lượng Đệ ngũ quân của Bành Đức Hoài tại Tĩnh Cương bị quân chính phủ bức bách, vào tháng 2 phá vòng vây, chạy sang phía đông hội họp với Đệ tứ quân. Mao Trạch Đông cho rằng Quốc dân đảng đang say đấu tranh nội bộ, bèn ra lệnh cho Đệ ngũ quân quay trở về phía tây tỉnh Giang Tây, riêng Đệ tứ quân vào tháng 5 trở lại Phúc Kiến, đánh phá các vùng như Long Nham [Longyan], thành lập căn cứ địa tại phía tây tỉnh Phúc Kiến. Chu Đức chủ trương tiếp tục tấn công, so với Mao Trạch Đông ý kiến khác nhau ; tháng 10, Chu Đức mang quân đánh phía đông Quảng Đông bất lợi, lại phải trở về Giang Tây ; tháng 12, Đệ tứ quân lần thứ ba xâm nhập Phúc Kiến. Mao Trạch Đông tại Thượng Hàng [Shanghang, Phúc Kiến] triệu tập hội nghị, phê bình Chu Đức hành động sai lầm ; từ nay trở về sau đáng gia tăng tuyên truyền, tổ chức, vũ trang, giúp đỡ quần chúng ; thành lập chính quyền, lấy quần chúng làm chiến tranh nhân dân, thực hành quân dân nhất trí, quan binh nhất trí. Đầu năm 1930, khoảng 10 huyện thuộc phía tây Phúc Kiến, nam Giang Tây đều nằm trong phạm vi thế lực của Hồng Quân. Tháng 3 thành lập chính phủ Xô Viết tỉnh Giang Tây, và phía tây Phúc Kiến ; lại biên chế thêm Đệ tam quân do Hoàng Công Lược làm Quân trưởng.


Sau khi Đệ ngũ quân của Bành Đức Hoài trở về phía tây tỉnh Giang Tây, bèn chiếm lại Tĩnh Cương, giết đồ đảng Hồng giang, Vương Tá, Viên văn Tài ; cùng hoạt động tại vùng tây nam, tây bắc tỉnh Giang Tây và phía đông nam tỉnh Hồ Bắc, lập các khu vực Xô Viết tại biên giới Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, biên chế thêm Đệ bát và Đệ thập lục quân.


Tháng 9/1927, Phương Chí Mẫn, người từng tham gia cuộc bạo động Cộng sản tại Nam Xương khởi sự tại đông bắc Giang Tây. Từ năm 1928-1929 thế lực dần dần lan đến vùng biên giới An Huy, Chiết Giang, Phúc Kiến. Năm 1930 thành lập Hồng quân Đệ thập quân, cùng chính quyền Xô viết tại vùng biên khu Chiết Giang, An Huy, Giang Tây.


Thế lực đứng vào hàng thứ, phải kể đến Hồng quân tại Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy. Tháng 10/1927 khởi sự tại Ma Thành [Macheng, Hồ Bắc] miền biên giới đông bắc tỉnh Hồ Bắc ; từ năm 1928-1929 tiến vào miền nam tỉnh Hà Nam, dùng núi Đại Biệt Sơn [Dabieshan] làm căn cứ địa. Năm 1929 thừa lúc chiến tranh giữa Vũ Hán và Nam Kinh, Hồng quân phát triển nhanh. Trung ương đảng Trung cộng sai Từ Hướng Tiền đến lãnh đạo, lại còn thêm chi nhánh tại Lục An [Lu’an, An Huy] vùng biên giới Hà Nam, An Huy. Năm 1930 hợp lại thành biên khu Hồ Nam, Hà Nam, An Huy, cùng thành lập Đệ nhất quân Hồng quân do Hứa Kế Thận làm Quân trưởng, Từ Hướng Tiền, Thái Thân Hi làm Sư trưởng.


Hồng quân còn có căn cứ địa khác tại phía tây Hồ Nam, Hồ Bắc. Hạ Long sau khi thất bại tại Triều Châu [Chaozhou], Sán Đầu [Shantou] tỉnh Quảng Đông, bèn trở về đất cũ phía tây Hồ Nam ; cùng Chu Dật Quần tổ chức Hồng quân Đệ nhị quân. Năm 1929 lên phía tây tỉnh Hồ Bắc, cùng với Lữ đoàn trường Quảng Kế Huân, thuộc quân Tứ Xuyên làm phản, phát triển vùng Hồng Hồ [Honghu, Hồ Bắc], thành lập Hồng quân Đệ lục quân, xây dựng chính quyền Xô viết vùng biên khu Hồ Bắc, Hồ Nam.


Năm 1929 Chủ tịch tỉnh Quảng Tây Du Tác Bách dùng nhiều đảng viên Trung cộng. Sau khi Du chống lại Tưởng Giới Thạch không thành công, các lãnh tụ Cộng sản dưới quyền như Đặng Tiểu Bình, Trương Vân Dật phân ra lập căn cứ tại vùng Bách Sắc [Baise] thuộc Hữu Giang, và Long Châu [Longzhou] thuộc Tả Giang, tỉnh Quảng Tây. Vào năm 1929-1930 thành lập Hồng quân Đệ thất quân, Đệ bát quân và chính quyền Xô viết. Chẳng bao lâu Đệ bát quân thất bại, Đệ thất quân di chuyển đến Hồ Nam ; các khu Xô viết tại Tả Giang, Hữu Giang do đó bị tiêu diệt.


Ngoài ra tại các vùng bắc bộ, trung bộ tỉnh Thiểm Tây với các lãnh tụ như Lưu Chí Đan, Cao Cương ; tại Đông Giang [Dongjiang] tỉnh Quảng Đông, đảo Hải Nam đều có Hồng quân nhưng lực lượng giới hạn.


Cho đến đầu năm 1930, lực lượng Hồng quân có đến trên 6 vạn người, 2/3 được trang bị súng, khu vực hoạt động trên 120 huyện, sơ bộ thiết lập chính quyền Xô viết. Hồng quân và chính quyền Xô viết tồn tại và phát triển được, nguyên nhân trọng yếu là chính sách cải cách ruộng đất. Nông dân Trung Quốc ước chiếm 85 % nhân khẩu, nhưng số người có ruộng cày không đến 40 %. Trên 60 % đất đai nằm trong tay địa chủ, phú nông, trung nông ; đối với các tỉnh phía nam còn nhiều hơn. Chính phủ Xô viết thành lập, thực hành tịch thu đất đai, phân phối lại ; nhất thời thoả mãn nguyện vọng của dân nghèo, đối với Hồng quân không những cảm ơn, lại còn lo cho bị bại. Còn một nguyên nhân trọng yếu khác, do Quốc dân đảng nội chiến ; từ năm 1929-1930 do nội chiến ác liệt, cũng là thời gian Hồng quân phát triển cấp tốc. Mao Trạch Đông từng nói rằng “ Hồng quân ở trong hoàn cảnh bốn bề bị bao vây, chính quyền đỏ có thể tồn tại và phát triển do những nguyên nhân đặc thù, trong đó nguyên nhân thứ nhất là Quốc dân đảng không ngừng chiến tranh và trường kỳ chia rẽ ”. Chỉ cần kế tục chiến tranh và chia rẽ, Hồng quân có thể mỗi ngày một phát triển ; thêm vào đó quân chính phủ lúc tiến công, thì nhìn ngó dựa dẫm suy uỷ, lại không chọn dùng quân tinh nhuệ, nên đi đến chỗ thất bại ; việc vây đánh sào huyệt Hồng quân tại Tĩnh Cương là một bằng chứng. Nếu không có nội chiến, quân chính phủ lại hiệp đồng nhất trí, Hồng quân không thể đứng vững lâu dài, chứ đừng nói đến việc phát triễn. Nếu Hồng quân không thể tồn tại, tiền đồ của Trung cộng gia tăng khó khăn ; lời nói của Mao Trạch Đông “ chính quyền thành lập tại đầu mũi súng , không thể hoàn toàn phủ nhận.




2. Hồng quân chuyển sang thế công



Bạo động Nam Xương [Namchang, Giang Tây], bạo động dịp thu hoạch mùa thu tại Hồ Nam, Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông] bạo động, đều lần lượt thất bại ; lãnh đạo trung ương Trung cộng Cù Thu Bạch thất thế. Tháng 7/1928 Trung cộng toàn quốc hội nghị lần thứ 6, tổ chức tại Mạc Tư Khoa, dưới sự chỉ đạo của Cộng sản quốc tế, thanh trừng Trần Độc Tú hữu khuynh cơ hội chủ nghĩa, phê bình Cù Thu Bạch tả khuynh manh động, hoặc mạo hiểm chủ nghĩa ; quyết định tiếp tục phấn đấu lật đổ đế quốc thống trị, cùng chính phủ quân phiệt Quốc dân đảng ; thông qua việc thiết lập chính quyền Xô Viết, cùng quân cách mệnh công nông ; lập tức tịch thu đất đai địa chủ trao cho nông dân không có ruộng, hoặc ít ruộng, mong thắng lợi trong một hoặc vài tỉnh ; khuynh hướng chọn lựa vẫn theo tả khuynh. Từ đó Hướng Trung Phát làm Tổng thư ký trung ương chính trị cục, nhưng chỉ trên danh nghĩa, thực quyền trao cho Bộ trưởng tuyên truyền Lý Lập Tam, Bộ trưởng tổ chức và quân sự Chu Ân Lai ; Mao Trạch Đông bị bài xích. Vào mùa hè thu năm 1929, Trung Quốc và Nga Xô tranh chấp đường sắt Trung Đông 2 ; Trung cộng trung ương hiệu triệu phản đối tiến công Xô Nga, phản đối quân phiệt chiến tranh, cùng đề xuất khẩu hiệu “ Vũ trang bảo vệ Liên Xô ”. Trần Độc Tú cho là không đúng, bị khai trừ đảng tịch, kết tội “ Cách mệnh thủ tiêu phái ” 3 ; Trần cũng chính thức phản đối Stalin và Trung cộng trung ương, ủng hộ Trotsky [Thác Lạc Thứ Cơ], nên bị coi là phái Trotsky. Tháng 5/1931, phái Trần triệu tập trung ương, chủ trương hoạt động công khai hợp pháp ; đối với phe Trung cộng hoàn toàn mất địa vị và quyền lợi.


Tháng 10/1929, cuộc chiến tranh bảo vệ đảng bạo phát, tranh chấp đường sắt Trung Đông chưa kết thúc ; Cộng sản quốc tế chỉ thị Trung cộng chuẩn bị quần chúng thực hành cách mệnh, kiến lập độc tài Xô viết, khai triển giai cấp đấu tranh. Tháng 2/1930, chính phủ Nam Kinh và Diêm Tích Sơn trở nên quyết liệt, nhân dịp tạo thành cao trào cách mệnh Cộng sản. Hồng quân cần tập trung lực lượng, tích cực tấn công, đoạt thắng lợi tại một tỉnh, hoặc vài tỉnh, đặc biệt là Vũ Hán, hoặc tỉnh lân cận.


Lúc bấy giờ chính phủ Nam Kinh điều binh lực khả dụng lên phía bắc, nên không ít những huyện thành tại Hồ Bắc, Giang Tây bị Trung cộng chiếm lãnh ; Nam Xương, Vũ Hán chấn động. Ngày 2/4 Trung cộng trung ương mệnh Hồng quân Giang Tây phát triển tại hạ du sông Cống Giang [Ganjiang], đánh chiếm Cửu Giang và phối hợp với cánh Hồng quân tiến đánh Vũ Hán. Ngày 20/5 Lý Lập Tam tại Thượng Hải triệu tập hội nghị đại biểu khu vực Xô viết toàn quốc, chế định pháp lệnh căn bản chính phủ Xô viết, định kỳ cử hành đại hội lần thứ nhất đại biểu Xô viết toàn quốc, thông qua khuyếch đại Hồng quân cùng chính quyền Xô viết, chiếm đoạt những đô thị lớn như Nam Xương, Trường Sa, Vũ Hán.


Ngày 11/6, trung ương Trung cộng chính trị cục thông qua nghị quyết “ Tân cách mệnh cao trào, cùng chiếm một tỉnh hoặc vài tỉnh thu thắng lợi đầu tiên ”. Nhận định rằng toàn thế giới tư bản chủ nghĩa gặp khủng hoảng nghiêm trọng, uy tín đảng Cộng sản trong quần chúng ngày một tăng, cuộc vận động cách mạng tại đất thực dân ngày một dương cao, tình thế quốc tế có lợi cho sự phát triển cách mệnh tại Trung Quốc. Còn một phương diện khác, chiến tranh quân phiệt tại Trung Quốc khuếch đại, bạo động tại nông thôn phát triển rộng rãi, binh sĩ và quần chúng dao động biến cố gia tăng, cần một khu vực chính trị trung tâm mạnh bạo phát động lực lượng công nhân đấu tranh, sẽ cấp tốc biến thành cao trào cách mệnh, đi đến chỗ tổ chức đồng minh bãi công, địa phương bạo động, cùng Hồng quân phối hợp tiến công ; hướng chủ yếu tại thành thị, cùng khu vực giao thông phát triển, biến du kích chiến thành trận địa chiến. Đó là tóm tắt cái gọi là lộ tuyến của Lý Lập Tam.


Hồng quân quyết định đánh chiếm thành thị, dùng trận địa chiến, được biên chế như sau :


– Đệ nhất quân đoàn do Chu Đức Tổng chỉ huy, Mao Trạch Đông làm Uỷ viên chính trị, tức Hồng quân thuộc phía tây Phúc Kiến và phía nam Giang Tây, lực lượng khoảng 2 vạn ; gồm : Đệ tam quân, Hoàng Công Lược chỉ huy ; Đệ tứ quân, Lâm Bưu ; Đệ thập nhị quân, La Bính Huy. Hội đồng với Đệ thập quân, khoảng 5 000, thuộc miền đông bắc Giang tây, do Phương Chí Mẫn chỉ huy ; nhiệm vụ đánh chiếm Nam Xương [Nanchang], thủ phủ tỉnh Giang Tây và Cửu Giang [Jiujiang, Giang Tây].


– Đệ tam quân đoàn do Bành Đức Hoài Tổng chỉ huy, Đằng Đại Viễn làm Uỷ viên chính trị, tức Hồng quân thuộc các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, lực lượng 2 vạn ; gồm Đệ ngũ quân do Bành Đức Hoài kiêm chỉ huy ; Đệ bát quân, Hà Trường Công chỉ huy ; Đệ thập lục quân, Khổng Hà Sủng ; nhiệm vụ tiến công Trường Sa [Changsha, Hồ Nam] ; lại có Đệ thất quân do Trương Vân Dật chỉ huy, gồm 7 000 quân, từ Quảng Tây lên tương trợ.


– Đệ nhị quân đoàn do Hạ Long Tổng chỉ huy, Đặng Trung Hạ làm Uỷ viên chính trị, dùng lực lượng Hồng quân tại Hồ Nam, phía tây Hồ Bắc ; gồm Đệ nhị quân do Hạ Long kiêm ; Đệ lục quân, Đoàn Đức Xương chỉ huy. Hợp đồng với Đệ nhất quân gồm bộ hạ của Hứa Kế Thận từ các tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy ; tất cả 2 vạn quân, tấn công Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc].


Bắt đầu vào tháng 7/1930, Đệ nhất quân Hồng quân tiến đánh phía bắc Vũ Hán, cắt đường sắt Bình Hán [Bắc Bình – Hán Khẩu] ; Đệ nhị quân đoàn tiến công phía tây Vũ Hán khiến Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc] giới nghiêm. Đệ nhất quân đoàn liên tiếp đánh chiếm vùng hạ lưu Cống Giang, ngày 10/7 đánh Nam Xương không hạ được, rút sang phía tây bắc Giang Tây. Riêng Đệ thập quân đánh Cửu Giang thất lợi bèn rút lui. Chiến dịch Trường Sa là cao trào tiến công của Hồng quân, Đệ tam quân đoàn thừa dịp Tương quân đánh nhau với Quế quân và quân Trương Phát Khuê, ngày 3/7 chiếm Nhạc Dương [Yueyang, Hồ Nam], phá Tương quân tại Bình Giang [Pingjiang], Lưu Dương [Liuyang] thuộc miền đông bắc tỉnh Hồ Nam. Vào ngày 27/7 chiếm Trường Sa, ngày 5/8 rút ra ; đây là thời điểm đầu tiên Hồng quân chiếm cứ một tỉnh thành, tuy thời gian chỉ tạm thời nhưng cũng làm chấn động trong và ngoài nước. Đệ nhất quân đoàn từ Giang Tây đến viện trợ, cùng Đệ tam quân đoàn hợp biên thành Phương diện quân, do Chu Đức Tổng chỉ huy, Mao Trạch Đông làm Uỷ viên tổng chính trị kiêm Thư ký tiền địch uỷ viên hội, ra sức phản công. Từ ngày 15/8 đến ngày 13/9, đánh hăng trong 20 ngày, có 2 lần tiến được gần Trường Sa nhưng đều bị đẩy lui ; bèn trở về Giang Tây, đánh chiếm các thành Viên Châu [Yuanzhou], Cát An [Ji’an] ; Đệ nhất quân cũng chiếm được vài huyện tại phía đông Hồ Bắc, nam Hà Nam, đông An Huy. Quân đoàn 2 chiếm được hầu hết các huyện tại lưu vực Hồng Hồ và lưu vực phía bắc Động Đình Hồ; nhưng không chiếm được các thành thị lớn như Vũ Hán, Cửu Giang, Nam Xương.


Nội bộ Trung cộng không nhất trì tán thành lộ tuyến của Lý Lập Tam, bảo rằng không hợp theo chỉ thị của quốc tế Cộng sản. Lý ngang nhiên không chịu xét lại, bảo rằng “ Trung với quốc tế Cộng sản, tuân theo kỷ luật Quốc tế cộng sản là một việc ; trung với cách mệnh Trung Quốc lại là một sự kiện, chờ chiếm được Vũ Hán sẽ cùng quốc tế Cộng sản trò chuyện cũng không vội ”. Lại bảo “ Cộng sản quốc tế không biết tình hình thực sự xảy ra, không biết rõ xu thế cách mệnh Trung Quốc phát triển ”. Chờ đến khi quân sự mạo hiểm của Lý Lập Tam thất bại, như việc các thành lớn không chiếm được, Đệ thất quân từ Quảng Tây lên miền bắc bị chết quá nửa, các căn cứ địa tại Quảng Tây bị tiêu diệt ; phái phản đối bèn ra sức công kích. Tháng 9 Trung cộng trung ương uỷ viên hội cử hành toàn thể hội nghị ; Chu Ân Lai từ Mạc Tư Khoa mới trở về, dùng chính sách điều giải bảo rằng Lý Lập Tam lộ tuyến nhất trí với quốc tế Cộng sản lộ tuyến, nhưng tại trình độ và tốc độ quá sức đối với lực lượng cách mệnh Trung Quốc hiện tại. Cộng sản quốc tế triệu Lý Lập Tam đến Mạc Tư Khoa [mãi đến năm 1945 mới cho trở về Trung Quốc], phái Pavelmif [Mễ Phu] đến Thượng Hải lãnh đạo. Tháng 1/1931, Trung cộng triệu tập trung ương hội nghị, bỏ lộ tuyến Lý Lập Tam, cải tổ trung ương Trung cộng. Pavelmif, nguyên Hiệu trưởng trường đại học Tôn Dật Tiên tại Mạc Tư Khoa, nên trong dịp cải tổ sử dụng những sinh viên trường này mà Hiệu trưởng biết tiếng, như Trần Thiệu Vũ làm Uỷ viên trung ương thường vụ, Thẩm Trạch Dân Bộ trưởng tuyên truyền, Trương Văn Thiên Bộ trưởng nông dân vv...




3. Tình hình Hồng quân tại Giang Tây trước khi bị vây đuổi



Trong thời gian Trung nguyên đại chiến với phe Diêm Tích Sơn, Phùng Ngọc Tường và Quế hệ, số quân chính phủ lưu trú tại Giang Tây khoảng 3 vạn ; tại phía đông tỉnh Hồ Bắc, nam Hà Nam, đông An Huy khoảng 2 vạn ; tại biên giới Hồ Nam, Hồ Bắc khoảng 2 vạn, tại Phúc Kiến 2 vạn ; tất cả đều là loại quân thứ yếu, chiến đấu kém, nhiệm vụ của họ là phòng ngự Hồng quân. Lưu trú tại Hồ Nam 6 vạn quân, nhiệm vụ chính là phòng ngự Quế quân từ Quảng Tây, kết quả Trường Sa [Changsha] bị hãm bởi Quế quân và quân Trương Phát Khuê, rồi lại bị hãm bởi Hồng quân ; Nam Xương cũng bị Hồng quân uy hiếp, tình hình hấp hối khó giữ, chính phủ biết rằng Hồng quân không thể coi nhẹ. Sau khi Trung nguyên đại chiến chấm dứt, vào ngày 10/10/1930 Tưởng Giới Thạch tuyên bố từ nay trở về sau có 5 phương châm chính trị, đệ nhất hạng là “ Tiễu thanh Cộng phỉ ”, do vậy đại quân lục tục hướng về nam. Chiến tranh lưu vực sông Hoàng Hà vừa chấm dứt, chiến tranh lưu vực sông Trường Giang lại xảy ra ; Giang Tây, cùng biên khu Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy chủ yếu là chiến trường.


Thống soái chiến trường Giang Tây là Tư lệnh hành doanh Nam Xương, kiêm Chủ tịch tỉnh Lỗ Điều Bình, binh lực khoảng 10 vạn. Vốn không nhận thức được tính chất cùng chiến lược chiến thuật của Hồng quân, Lỗ chia quân làm 3 cánh, tiến đánh. Ngày 17/11 trung ương uỷ viên Quốc dân đảng quyết nghị tiễu Cộng, coi việc diệt trừ Cộng sản là cấp vụ, phải hoàn thành từ 3 đến 6 tháng. Lúc bấy giờ Hồng quân mới xảy ra nội biến, đơn vị Đệ nhị thập quân mới được biên chế dưới quyền chỉ huy của Bành Đức Hoài vào tháng 6/1930, làm cuộc biến vào ngày 7/12 tại Cát An, chống lại Mao Trạch Đông, ủng hộ Chu Đức, Bành Đức Hoài ; sau 10 ngày bị dẹp, Mao Trạch Đông làm cuộc thanh trừng lớn, kết tội là A-B đoàn [Anti-Bolshevik đoàn] ; riêng Bành cũng không dung nhóm gây biến này, vẫn ủng hộ Mao Trạch Đông. Trước tình hình nguy ngập, Hồng quân cho tập trung quân, chọn nơi thuận lợi về địa hình đánh mạnh vào quân chính phủ. Về phía chính phủ điều quân bằng hai hướng chính, phía tây từ Hồ Nam và tây bắc Giang Tây, phía đông từ Phúc Kiến ; mục tiêu là căn cứ địa Trung cộng tại vùng núi rừng của tỉnh Giang Tây như Ninh Đô [Ningdu], Vu Đô [Yudu], Thạch Thành [Shicheng], Thuỵ Kim [Ruijin], Hội Xương [Huichang]. Quân Hồ Nam đông tiến là nỗ lực chính, binh lực khoảng 3 vạn, tiếp tục chiếm các thành như Cát An [Ji’an]. Ngày 9/12 Tưởng Giới Thạch triệu tập quân sự hội nghị tại Nam Xương, treo giải thưởng bắt sống Chu Đức, Mao Trạch Đông, Bành Đức Hoài, hẹn trong vòng 3 tháng tảo thanh căn cứ địa Cộng sản. Lúc bấy giờ 4 quân dưới quyền Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Hoàng Công Lược, La Bỉnh Huy ước 4 vạn, tập trung tại Long Cương [Longgangxiang] nằm giữa Cát An và Hưng Quốc [Xingguo] ; ngày 30/12 phục kích quân tiền tiêu của tỉnh Hồ Nam gồm sư đoàn 18 và 2 lữ đoàn, hơn 8 000 người, bắt sống viên Tổng chỉ huy Trương Huy Toản. Ba ngày sau lại thắng quân chính phủ tại hương Đông Thiều [Dongshaoxiang], huyện Ninh Đô ; cả hai lần tịch thu được 1 vạn khẩu súng. Đạo quân phía tây của chính phủ phải rút lui, phần còn lại của đạo quân phía đông chưa kịp tham gia cuộc chiến, nhưng cuộc vây đánh lần thứ nhất đành phải kết thúc.


Hồng quân chiến thắng, thứ nhất do huấn luyện chính trị hữu hiệu, quan binh đồng lòng ; thứ hai, tổ chức dân chúng nghiêm mật, cùng Hồng quân hợp tác ; thứ ba, quân chính phủ đến đánh liên quan đến sự mất còn của Hồng quân, nên quyết chiến, tìm đường sống trong cái chết ; thứ tư, chiến lược chiến thuật linh hoạt chủ động, tập trung binh lực đúng lúc, lấy đông đánh ít ; thứ năm, Hồng quân biết lợi dụng địa hình phức tạp để tranh thắng. Tiến tiễu lần thứ nhất thất bại, Tưởng tiếp tục tăng quân, nhắm tranh thủ dân tâm, nghiêm cấm cường hào có hành động xấu.


Phía Hồng quân tích cực sưu tầm lương thực, động viên quần chúng, tập trung binh lực, dưỡng sức chờ đánh quân mệt mỏi. Tháng 4/1931, cuộc vây đánh lần thứ 2 bắt đầu, Bộ trưởng quân chính Hà Ứng Khâm giữ chức Tổng tư lệnh, binh lực 20 vạn, tham gia chiến đấu khoảng một nửa, áp dụng chiến thuật “ Ổn trát, ổn đả, bộ bộ vi doanh 稳扎稳打步步为营  ” [Tiến từ từ, đánh đúng mục tiêu, từng bước lập doanh trại] ; đột phá sào huyệt Hồng quân tại các vùng như Ninh Đô [Ningdu, Giang Tây]. Vào ngày 16 đến ngày 19/5, 6 vạn Hồng quân đánh bại quân chính phủ đạo phía tây 2 lần, mỗi đơn vị khoảng 1 vạn quân. Ngày 20 đánh bại 2 vạn quân trung lộ ; ngày 27 và 30 liên tiếp đánh bại 3 vạn quân đông lộ. Tổng kết quân chính phủ 5 lần đánh 5 lần bại, tổn thất 2 vạn quân ; cuộc vây đánh lần thứ hai kết thúc.


Nguyên nhân Hồng quân thắng lợi lần thứ hai, so với lần thứ nhất tương đồng ; riêng quân chính phủ Nam Kinh thua, có những yếu tố đặc biệt. Thứ nhất, quân tăng điều phần lớn từ phương bắc đến, những đơn vị này không quen thuỷ thổ phương nam, lại thấy lần trước thua, trong lòng không khỏi e dè sợ sệt. Thứ hai, tây lộ, trung lộ phần lớn là quân phương bắc mới thu phục, có ý nghĩ tiêu cực rằng chính phủ muốn hai bên cùng bại để tiêu trừ cả hai, nên tìm cách né tránh. Thứ ba, chỉ huy chưa thống nhất, hành động không hiệp đồng, một đạo quân bị đánh, đơn vị kế cận rút lui, không đến cứu. Thứ tư, cuộc phản kháng tại Quảng Châu đang dấy lên, khiến cánh phải của tây lộ lo đề phòng quân Quảng Châu tiến lên phía bắc, nên không có lòng dạ tham chiến. Hồng quân đông tây rong ruổi, không được nghỉ ngơi, nên tuy thắng lợi nhưng không truy kích tiếp.


Sau khi cuộc vây tiễu lần thứ hai kết thúc, chính phủ tại Quảng Châu thành lập, chuẩn bị cuộc chiến với Nam Kinh. Tưởng Giới Thạch lại tái tuyên bố đánh dẹp Trung cộng, đưa bộ tư lệnh hành quân đến Nam Xương, dùng Cố vấn Đức, đổi tên “ Tiễu nghịch quân ” thành “ Tiễu Xích quân 剿赤军 ” (Dẹp giặc Đỏ), sử dùng toàn lực. Ngày 25/6 mệnh Hà Ứng Khâm giữ chức Tổng tư lệnh tiền địch tiễu Xích quân kiêm Tổng tư lệnh Tả dực tập đoàn quân, Trần Minh Khu làm Tổng tư lệnh Hữu dực tập đoàn quân, lại còn có riêng Tổng chỉ huy quân đoàn, Tổng chỉ huy lộ truy kích quân. Đặt hành doanh đảng vụ uỷ viên hội tại Nam Xương, Tưởng Giới Thạch kiêm Uỷ viên trưởng, đặt pháp luật quy định Chủ tịch huyện bỏ thành bị xử tử. Tháng 7, đệ tam thứ vây tiễu bắt đầu, binh lực khoảng 32 vạn, tham gia chiến đấu 13 vạn, một nửa số là quân trung ương, lại dùng cả không quân, Tưởng đích thân đốc chiến ; trong vòng hơn 10 ngày, liên tiếp tấn công, khắc phục được những thành quan trọng, xâm nhập vùng đất của chính quyền Xô viết. Chiến lược của Hồng quân so với những lần trước tương đồng, tập kết tại các vùng Ninh Đô, Hưng Quốc; chủ trương “ Tỵ địch chủ lực, đả kỳ hư nhược 避敌主力, 打其虚弱 ” (Tránh chủ lực của địch, đánh quân hư nhược). Vào các ngày 8và 9/8, lần lượt mỗi ngày đánh tan 1 sư đoàn thuộc đạo quân phía tây ; ngày 11 tiêu diệt 1 sư đoàn đạo quân phía đông, tổng cộng thu được trên 1 vạn khẩu súng. Lúc bấy giờ quân Quảng Đông, Quảng Tây của chính phủ Quảng Châu di chuyển lên đánh Hồ Nam, Tưởng Giới Thạch phải dời hành doanh đến Vũ Hán. Ngày 9/9 điều quân từ Giang Tây sang phía tây, Hồng quân theo gót truy kích, bị cánh hữu dực của đạo quân phía tây dưới quyền Thái Đình Giai đánh bại, tổn thất tương đối lớn, đây là thắng lợi duy nhất của quân chính phủ, kể từ buổi bắt đầu vây tiễu. Lúc bấy giờ Tưởng chỉ lưu ý đến quân Quảng Đông, Quảng Tây, lơ là dẹp Hồng quân. Đến ngày 18/9, quân Nhật đánh úp Thẩm Dương, càng không có cách tấn công tiếp, cuộc vây tiễu lần thứ ba hoàn toàn đình chỉ. Về phía Hồng quân vùng vẫy nam bắc đông tây không quá 200 dặm miền núi, đánh lâu mệt sức, nên không thể thừa thắng truy kích ; với nhân lực vật lực hạn chế, nếu như tiếp tục cuộc chiến, khó mà biết phe nào thắng ở phút cuối.


Lúc quân chính phủ vây đánh tại Giang Tây, đối với vùng biên khu Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy cũng tiến hành tấn công ; lực lượng gồm quân Phùng Ngọc Tường đầu hàng cải biên, cùng quân thuộc loại hạng hai, nhưng trải qua mấy lần thua bại. Đầu năm 1931 Hồng quân thành lập Đệ tứ quân đoàn, tại vùng phía tây đường sắt Bình-Hán [Bắc Bình – Hán Khẩu] ; giao tranh nơi giáp giới hai tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam, mấy ngàn quân chính phủ bị bắt, phía đông lại bị bại tại tây An Huy. Tháng 6 triệu tập đệ nhất thứ đại hội khu Xô viết, thành lập Quân sự uỷ viên hội và Đảng vụ uỷ viên hội ; Trương Quốc Đảo giữ chức Chủ tịch, Thẩm Trạch Dân, Thư ký ; Từ Hướng Tiền, Tổng chỉ huy Hồng quân Đệ tứ quân đoàn, Trần Xương Hạo làm Uỷ viên chính trị. Sau tháng 8, đánh chiếm 4 huyện tại biên giới Hà Nam, Hồ Bắc ; đại bại quân chính phủ tại Thương Thành [Shangcheng, Hà Nam]. Ngày 17/11 cử hành đệ nhị thứ khu Xô viết đại hội, đổi Đệ tứ quân đoàn thành Đệ tứ phương diện quân, binh lực khoảng 3 vạn; quân địa phương xích vệ 4 khoảng 25 vạn.


Trong các khu Xô viết, Giang Tây lớn nhất, công lao của Mao Trạch Đông không thể phủ nhận ; nhưng những điều Mao thi thố, thì Cộng sản quốc tế và trung ương không cho là đúng, tướng lãnh Hồng quân cũng bất mãn việc Mao chuyên quyền. Năm 1929 trung ương Trung cộng từng khuyên Mao và Chu Đức rời khỏi Giang Tây, chia nhỏ Hồng quân, để giảm khinh quân chính phủ công kích, nhưng Mao không nghe. Năm 1930 liên hợp khu vực Xô viết hội nghị toàn quốc khai mạc, hai lần mời Mao ra, cùng mệnh Hồng quân hợp biên, thống nhất hành động, để trung ương Trung cộng tiết chế, nhưng Mao lại cự tuyệt. Đối với Lý Lập Tam lộ tuyến, Mao tuy chấp hành, nhưng có phần miễn cưỡng. Toàn quốc Xô viết khu vực liên hiệp hội nghị quyết định vào ngày 11/12/1930 triệu tập toàn quốc Xô viết đại biểu đại hội lần thứ nhất, thành lập chính phủ Xô viết toàn quốc ; nhưng do lộ tuyến Lý Lập Tam thất bại, Tưởng Giới Thạch bắt đầu vây tiễu, nên không thể cử hành đúng ngày. Sau khi Trần Thiệu Vũ thay thế Lý Lập Tam, áp dụng cái gọi là Quốc tế lộ tuyến, tức lộ tuyến thiên tả. Sau khi phái Hạng Anh đến Giang Tây, với tư cách Thư ký trung ương cục, ngày 15/1/1931 ra thông cáo, minh định lộ tuyến và chủ yếu công tác : 1. Cương quyết chấp hành cải cách ruộng đất. 2. Thành lập cơ quan Xô viết các cấp, thành chính quyền công nông chân chính. 3. Đảng tăng cường lãnh đạo Hồng quân, lập tức thành lập trung ương cách mệnh uỷ viên hội. 4. Phát triển rộng lớn tổ chức quần chúng. 5. Tăng gia công tác vũ trang, đấu tranh phản đối phú nông. 6. Cần phát triển Xô viết đến khu vực thành thị như Nam Xương, Vũ Hán, Trường Sa ; tranh thủ thắng lợi kiểm soát một tỉnh, hoặc vài tỉnh. Cuối cùng phát động một trăm vạn quần chúng công nông và Hồng quân, sau khi đánh bại quân địch tiến công, cử hành đại hội đại biểu Xô viết toàn quốc, thành lập Trung ương lâm thời chính trị cục.


Vào ngày 21/1/1931, nhắm đối kháng cuộc vây tiễu lần thứ hai của chính phủ Nam Kinh, Trung cộng trung ương tại Thượ ng Hải ra quyết nghị, trong đó có lệnh cấp tốc triệu tập toàn quốc Xô viết đại biểu đại hội lần thứ nhất. Cho đến sau khi Hồng quân đánh bại cuộc vây tiễu lần thứ hai, ngày 9/5 Trung cộng trung ương chỉ thị nhiệm vụ khẩn cấp trước mắt vẫn là thực hiện toàn quốc Xô viết đại biểu đại hội, để đối kháng với Quốc dân hội nghị tại Nam Kinh. Tháng 6 lại định rằng muộn nhất trước ngày 1/8 sẽ triệu tập toàn quốc Xô viết đại biểu đại hội, chính thức thành lập chính phủ lâm thời nước cộng hoà Trung Hoa Xô viết ; tháng 7, Cộng sản quốc tế cũng có chỉ thị như vậy. Do việc vây tiễu lần thứ 3 cấp bách, toàn quốc Xô viết đại biểu đại hội không thể cử hành đúng ký ; ngày 1/9 Trung cộng trung ương chính trị cục gửi thư cho khu Xô viết cùng Đệ nhất phương diện Hồng quân, ngoài việc khen thành tích chiến đấu chống lại cuộc vây tiễu kỳ 3, còn nêu lên không ít khuyết điểm khiến không đạt được thành công cao độ ; nhân đề cập mấy vấn đề : thứ nhất, tiến hành giai cấp đấu tranh, củng cố căn cứ địa, không chỉ dựa trước mắt vào Hồng quân, cần tổ chức quần chúng lực lượng, chiếm lãnh một hoặc hai thành phố tương đối lớn ; thứ hai, triệt để tiêu diệt tàn dư địa chủ ; thứ ba, ra sức cải tạo và khuếch đại Hồng quân, đả phá du kích chủ nghĩa, truyền thống hoạt động cấp tiểu đoàn, nhắm biên chế Hồng quân thích hợp với tác chiến đại quy mô ; thứ tư, cương quyết chấp hành phát triển đảng, tăng gia công tác đảng bộ địa phương ; thứ năm, thành lập chính phủ Xô viết trung ương, định vào dịp kỷ niệm Cách mệnh tháng 10 Cộng sản Nga 5, triệu tập toàn quốc đại biểu Xô viết đại hội. Qua các sự kiện nêu trên thấy được Trung cộng trung ương đòi hỏi cấp thiết thành lập chính phủ Xô viết toàn nước và thấy được phái quốc tế không bằng lòng cách lãnh đạo của Mao Trạch Đông.


Sau khi cuộc chiến chống vây tiễu lần thứ 3 kết thúc thắng lợi, Trung cộng trung ương cho rằng đã đến lúc thành lập chính phủ Trung Hoa Xô viết cộng hoà quốc. Tháng 9/1931, Chủ tịch quân sự uỷ viên Chu Ân Lai đến Giang Tây, kế tiếp giữ chức Thư ký trung ương cục. Ngày 7/11, nhân kỷ niệm cách mệnh tháng 10 như dự định, khai mạc đại hội đại biểu Trung Hoa công nông binh Xô viết toàn quốc lần thứ nhất tại Thuỵ Kim [Ruijin, Giang Tây]. Trải qua hơn 20 ngày thảo luận, thông qua Trung Hoa Xô viết cộng hoà quốc hiến pháp, luật ruộng đất ; chính sách về công nhân, kinh tế, Hồng quân. Quy định Xô viết đại hội toàn quốc là cơ quan chính quyền tối cao, dưới quyền là Trung ương chấp hành uỷ viên hội, dưới nữa là Nhân dân uỷ viên hội, tức cơ quan hành chánh trung ương ; Chủ tịch là Mao Trạch Đông, Phó chủ tịch Hạng Anh, Trương Quốc Đảo ; Chu Đức giữ chức Tổng tư lệnh Hồng quân ; Mao được gọi là Mao Chủ tịch bắt đầu từ đó. Đại hội tuyên bố Trung Hoa Xô viết cộng hoà quốc là đồng minh của các nước Xô viết Cộng sản, hiệu triệu quần chúng lao động toàn quốc kế tục lật đổ sự thống trị của Quốc dân đảng, liên hợp quần chúng bị áp bức trên thế giới lật đổ chủ nghĩa đế quốc, khu trục Nhật bản ra khỏi Trung Quốc. Mao Trạch Đông tuy được suy cử làm Chủ tịch trung ương chấp hành uỷ viên, cùng Nhân dân uỷ viên ; nhưng mọi việc đều bị khống chế bởi phái quốc tế trong trung ương đảng Trung cộng. Lúc bấy giờ tại Trung Quốc có 3 chính phủ : Nam Kinh, Quảng Châu, và Thuỵ Kim ; còn miền Đông Tam tỉnh tại đông bắc, Nhật Bản đã chiếm hơn 2 tháng.


Hồ Bạch Thảo










1 Hồng Giang hội : chi nhánh của Ca Lão hội, chủ yếu phân bố tại các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến.


2 Đường sắt Trung Đông tức “ Trung Đông thiết lộ ” là tiếng gọi tắt của “ Trung Quốc đông Thanh thiết lộ ” do Nga Hoàng xây từ 1896-1903, trung tâm là Cáp Nhĩ Tân [Harbin, Hắc Long Giang], tây đến Mãn Châu Lý [Manzhouli, Nội Mông], nam đến cảng Đại Liên [Dalian, Liêu Ninh]. Sau cuộc chiến tranh Nga Nhật, đoạn phía nam từ Trường Xuân [Changchun, Cát Lâm] đến Đại Liên bị Nhật chiếm.


3 Cách mệnh thủ tiêu phái : chỉ Trần Độc Tú hoàn toàn phủ nhận lý luận Cộng sản quốc tế cùng tư tưởng Stalin áp dụng vào Trung Quốc.


4 Xích vệ : tên gọi dân quân du kích địa phương của Trung cộng.


5 Cách mệnh tháng 10 : tức cách mệnh xã hội chủ nghĩa tại Nga, vào ngày 7/11 Dương lịch (lúc đó còn là tháng 10 theo lịch Chính thống giáo).


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss