Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Cách mệnh Tân Hợi / Cách mệnh Tân Hợi (3 và hết)

Cách mệnh Tân Hợi (3 và hết)

Chính phủ dân quốc đản sinh [1911– 1912]


 

Cách mệnh Tân Hợi

 

Hồ Bạch Thảo



Chương 3

Chính phủ dân quốc đản sinh
[1911– 1912]

 

 

 tv

Tôn Văn [1866– 1925]
Nguồn : Wikipedia

 


 

1. Chính phủ lâm thời của Tôn Trung Sơn tại Nam Kinh


Sau khi cách mệnh chiếm được hơn một nửa nước, điều tất yếu phải thiết lập chính phủ trung ương. Hồ Bắc, Vân Nam đề xướng đại biểu đến Vũ Xương trù tính kế hoạch ; riêng Chiết Giang, Giang Tô muốn hội tại Thượng Hải, mời Tôn Trung Sơn về nước tổ chức. Vào ngày 15/11 đại biểu các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến quyết định thành lập hội liên hiệp đại biểu đô đốc phủ các tỉnh, thừa nhận quân Hồ Bắc là quân chính phủ trung ương Trung Hoa dân quốc. Do Vũ Xương ra sức tranh giành, một bộ phận đại biểu đến Hồ Bắc phó hội, một bộ phận lưu tại Thượng Hải. Lúc đại biểu đến Hồ Bắc thì Hán Khẩu đã thất thủ, Vũ Xương bị uy hiếp, bèn tổ chức hội nghị tại tô giới Hán Khẩu. Ngày 2/12 nghị quyết nếu như Viên Thế Khải đổi chính thể, được cử làm Đại tổng thống lâm thời. Ngày 3, thông qua trung ương lâm thời đại cương lập các tổ chức lâm thời Tổng thống, Quốc vụ viện ; ngày hôm sau được tin khắc phục Nam Kinh, bèn dùng Nam Kinh làm trụ sở chính phủ trung ương.

Đồng thời đại biểu lưu tại Thượng Hải cũng có quyết định cử Hoàng Hưng làm Nguyên soái, Lê Nguyên Hồng làm Phó nguyên soái, phụ trách trù hoạch chính phủ ; mặt nổi muốn sớm thống nhất, nhưng thực chất không muốn cho phe Vũ Hán lãnh đạo, đây là chủ trương của Trần Kỳ Mỹ, Tống Giáo Nhân. Đại biểu tại Hồ Bắc, cùng Lê Nguyên Hồng, phái lập hiến, Quang phục hội đều phản đối ; các tướng lãnh khắc phục Nam Kinh thanh ngôn không muốn cho Hoàng Hưng, bại tướng tại Hán Khẩu chỉ huy, nên Hoàng cũng quyết từ không nhận. Vào ngày 17, toàn thể đại biểu tập hợp tại Nam Kinh cải định Lê Nguyên Hồng làm Đại nguyên soái, Hoàng Hưng làm Phó nguyên soái ; tuy Lê nhấp nhận nhưng Hoàng không nhận. Đại biểu trăn trở khó khăn, vẫn chưa lập được chính phủ lâm thời.

Lúc Vũ Xương nổi dậy, Tôn Trung Sơn đang tại Mỹ quyên tiền Hoa kiều cho cách mệnh. Ngày 12/10 bất ngờ nhận được tin tức ; Tôn nhận thấy sự thành bại sau này quan hệ đến liệt cường rất lớn, đặc biệt là thái độ của Anh và Nhật. Hoa trung, Hoa nam thuộc phạm vi thế lực của Anh, Nhật Bản là đồng minh thân cận, nên hành động của nước Anh có ảnh hưởng đến toàn cuộc ; bởi vậy ưu tiên đến Luân Đôn để cố gắng làm cho chính quyền và dân nước này hiểu rõ cách mệnh Trung Quốc. Lúc bấy giờ triều đình nhà Thanh ngỏ lời mượn tiền ngân hàng 4 nước Anh, Pháp, Mỹ, Đức ; Công sứ John Jordan đang áp lực Thanh đình trao quyền cho Viên Thế Khải nên yêu cầu chính phủ Luân Đôn cự tuyệt. Trung tuần tháng 10, đại diện ngân hàng 4 nước họp tại Ba Lê, quyết định tạm ngưng đàm phán với Trung Quốc. Hạ tuần tháng 10, Tôn đến Luân Đôn, kế tục nỗ lực, cùng xin nước Anh ngăn ngừa Nhật Bản viện trợ cho triều Thanh. Ngày 30 chuyển sang Ba Lê, du thuyết mấy nơi, rồi trở về nước.

Ngày 21/12 đến Hương Cảng, Đô đốc Quảng Đông Hồ Hán Dân đến đón, bảo rằng lòng dạ Viên Thế Khải khó mà biết được, Tôn một khi đến Nam Kinh, Thượng Hải, sẽ được các nơi suy tôn; tuy nhiên binh không có đủ để dùng, ý kiến phân vân, mệnh lệnh khó thi hành, chi bằng tạm lưu tại Quảng Châu, chỉnh lý quân ngũ, rồi cất tiếng trống thẳng tiến, mới có cơ thành công. Tôn không cho là phải, bảo rằng Nam Kinh, Thượng Hải là tiền phương ; đáng dấn thân vào, để coi sóc 4 phía, nhắm tránh chia rẽ nội bộ ; nếu không thì miền đông nam không giữ được, mà Quảng Đông cũng khó chi trì một mình.

Ngày 25/12 Tôn Trung Sơn đến Thượng Hải ; Hoàng Hưng, Trần Kỳ Mỹ, Tống Giáo Nhân quyết định tổ chức chính phủ trung ương. Ngày 29, Đại biểu 17 tỉnh cử Tôn Trung Sơn làm Tổng thống lâm thời, cùng đặt cơ quan lâm thời Tham nghị viện. Trong buổi nhậm chức, Tôn Trung Sơn tuyên bố “ Lật đổ chính phủ Mãn Thanh chuyên chế, củng cố Trung Hoa Dân Quốc, mưu đồ dân sinh hạnh phúc, là ý kiến chung của quốc dân, Văn quyết tuân theo, tận trung với nước, vì quần chúng phục vụ. Đến lúc chính phủ chuyên chế bị lật đổ, trong nước không có biến loạn, chính phủ Dân quốc đứng cùng thế giới, được liệt quốc công nhận, lúc đó Văn đáng bỏ chức Tổng thống. Xin lấy những điều này thề với quốc dân. Trung Hoa Dân Quốc ngày thứ nhất, năm thứ nhất. Tôn Văn ”.

Ngày 31/12 qua đề nghị của Tôn Trung Sơn, bắt đầu sử dụng Dương lịch, lấy Trung Hoa dân quốc làm kỷ nguyên. Trung ương lâm thời chính phủ trước đó theo Tổng thống chế, hiện tại cải thành nội các chế, tăng đặt thêm Phó tổng thống ; vào ngày 1/1/1912 Tôn Trung Sơn nhậm chức tại Nam Kinh. Ngày hôm sau, do Tôn Trung Sơn yêu cầu, Tham nghị viện lại đổi Nội các chế sang Tổng thống chế. Ngày 3/1 Lê Nguyên Hồng được tuyển làm Phó tổng thống, Hoàng Hưng giữ chức Tổng trưởng lục quân, Hoàng Trọng Anh Tổng trưởng hải quân, Vương Sủng Huệ Tổng trưởng ngoại giao, Ngũ Đình Phương Tổng trưởng tư pháp, Trần Cẩm Đào Tổng trưởng tài chánh, Trình Đức Toàn Tổng trưởng nội các, Thái Nguyên Bồi Tổng trưởng giáo dục, Trương Tái Tổng trưởng thực nghiệp, Thang Thọ Tiềm Tổng trưởng giao thông. Trong đó lục quân, ngoại giao, giáo dục thuộc Đồng minh hội ; nội vụ, thực nghiệp, giao thông thuộc phái lập hiến ; hải quân, tư pháp, tài chánh không thuộc đảng phái nào ; thực tế chỉ có 2 Tổng trưởng thuộc Đồng minh hội làm việc tại Nam Kinh, số còn lại phần lớn lưu ngụ tại Thượng Hải. Đây là nội các hỗn hợp, không thể coi là mạnh và hoàn hảo ; Đô đốc tại các tỉnh cũng không triệt để tuân lệnh trung ương. Ngoài ra thành phần cách mệnh tại Thượng Hải và Vũ Xương sớm có sự cách biệt ; Thượng Hải tự cho là chính thống, Vũ Xương đứng đầu khởi nghĩa công cao, nhưng thành phần nội các không có Tổng trưởng gốc Hồ Bắc 1, nên không khỏi bất bình, gặp việc thì có ý kiến khác.

Tôn Trung Sơn sở dĩ không muốn lưu lại Quảng Châu còn do một nguyên nhân khác “ Nếu Tôn không đến Thượng Hải, Ninh Ba thì mọi việc chủ trì đối nội, đối ngoại không có ai có thể thay thế lo được ”. Về đối nội Tôn chủ trương đem chức Tổng thống nhường cho Viên, mượn tay Viên lật đổ Thanh đình, sớm thực hiện cộng hoà ; Tôn muốn thay đổi cục diện Trung Quốc, không nhắm giành chính quyền. Về đối ngoại, tại Ba Lê Tôn từng tuyên bố với ký giả rằng sau khi chính quyền dân quốc thành lập sẽ bàn với các nước định lại quan thuế, thủ tiêu lãnh sự tài phán 2, thu hồi tô giới. Đến lúc giữ chức Tổng thống, ngày 5/1/1912 chính thức phát hành Cáo hữu bang thư 3 nguyện cùng các nước bình đẳng giao thiệp, mong cầu hoà bình ; các điều ước trước kia triều Thanh ký kết vẫn tiếp tục hữu hiệu cho đến lúc hết hạn ; tiền nợ của chính phủ Thanh chiếu theo cũ trả xong ; quyền lợi các nước hoặc cá nhân, chiếu theo cũ tôn trọng. Hy vọng giữ tình hữu nghị, mong được các nước thừa nhận, để thành tựu thi hành chính phủ dân quốc. Các nước phần lớn không chịu để ý đến, không tỏ thái độ một cách rõ ràng. Nói tóm lại đối với vấn đề đối nội, đối ngoại, Tôn giữ thái độ thoả hiệp ; muốn tranh thủ cả Viên Thế Khải cùng liệt cường.

Chính phủ lâm thời tại Nam Kinh tồn tại trong vòng 3 tháng, phần lớn bận giao thiệp với Viên Thế Khải, sau đó lưu ý đến việc cải cách trong nước. Những việc thi hành tương đối có ý nghĩa gồm :

– Đề xướng quan niệm bình đẳng, đối với cơ quan công quyền không còn lối xưng hô “ Đại nhân ” hoặc “ Cha già ” như đối với quan lại thời trước ; chỉ xưng “ Ông ” hoặc “ Tiên sinh ” mà thôi.

Bảo hộ nhân quyền cấm tra tấn nhục hình, tù tội căn cứ vào bằng chứng mà xét xử. Cấm buôn bán người, người dân có công quyền, tư quyền.

Tôn trọng ngôn luận, xuất bản tự do.

Đàn ông không kết bím, đàn bà bỏ bó chân.

Đề xướng nữ quyền ; cách mệnh dấy lên thanh niên phụ nữ đua nhau hưởng ứng, có các hội đoàn nữ giới ; phụ nữ tham gia công tác dân quân, cứu thương, kinh tài vv…

Tuy nhất thời chưa thi hành được một cách quán triệt, nhưng xã hội đã chuyển biến, các tư tưởng tự do bình đẳng từng bước phổ cập.

 

2. Thanh triều cáo chung


Đối với việc chọn Tổng thống tại Nam Kinh, Viên Thế Khải hết sức bất mãn ; lại không vui về việc hoà nghị tại Thượng Hải quyết định phương thức triệu tập quốc dân hội nghị. Điều đầu tiên ngoài tầm tay của Viên, nên hướng sang điều thứ hai, không công nhận quyết nghị tại Thượng Hải. Nhưng Viên cũng không tỏ ra quyết liệt, vẫn dùng chính sách vừa cứng vừa mềm để đạt mục đích cuối cùng. Thứ nhất, chuẩn cho Đường Thiệu Nghi từ chức, tiếp tục hoà nghị, thương thảo thẳng với Ngũ Đình Phương qua điện ; tuy nhiên thực tế Đường vẫn tiếp tục tiếp xúc với Ngũ tại Thượng Hải. Thứ hai dùng phái quân nhân để gây áp lực, Phùng Quốc Chương thanh ngôn rằng thề quyết phản đối cộng hoà. Thứ ba, cấu kết với ngoại bang mong nhờ tương trợ.

Trong ngày Tôn Trung Sơn được tuyển làm Tổng thống lâm thời, lập tức điện cho Viên ; bảo rằng tạm thời đảm nhận, giữ hư vị đợi Viên, mong Viên sớm định đại kế. Viên nói thể chế quốc gia đợi quyết định chung, không muốn tham dự vào việc của chính phủ lâm thời. Tôn lại điện tiếp rằng, nếu không cực nhọc vì chiến tranh mà đạt được chính thể cộng hoà thì ghế Tổng thống vào tay Viên. Viên lại quay sang chất vấn Ngũ Đình Phương về dụng ý việc cử Tổng thống lâm thời, danh sách đại biểu quốc dân hội nghị và địa điểm khai hội. Ngũ cho biết việc cử Tổng thống lâm thời và quốc dân hội nghị không tương quan. Đường bèn hỏi thẳng Ngũ Đình Phương rằng lấy gì bảo đảm việc đem chức Tổng thống nhường cho Viên. Tôn phúc đáp một cách rõ ràng rằng nếu như vua nhà Thanh thoái vị, sẽ suy cử Viên giữ chức Tổng thống. Ý tưởng của Tôn muốn thực hiện thể chế cộng hoà một cách hoà bình ; riêng Viên chờ cho chức Tổng thống vào tay mới quyết định theo cộng hoà.

Sau khi cuộc nghị hoà tại Thượng Hải bị đình đốn, Công sứ các nước trách cứ yêu cầu của Nam Kinh không hợp tình lý ; nếu cuộc nghị hoà nhân đó mà bị phá, quy lỗi vào Nam Kinh ; riêng đối Viên thì cho là công bình chính trực, có tài năng, đáng làm đại biểu nước. Báo chí Anh, Mỹ chỉ trích Nam Kinh chuyên quyền hoành hành, thiếu kinh nghiệm quản lý quốc gia và khôi phục hoà bình ; Pháp lại yêu cầu các nước đề nghị Viên lên làm Tổng thống. Nam Kinh tự xác lập địa vị, lại hô hào các nước thừa nhận chính phủ dân quốc, không bằng lòng giao nhận riêng chính quyền với nhà Thanh, Viên không được tự lập chính phủ lâm thời. Sau khi các nước thừa nhận chính phủ dân quốc, Tôn bắt đầu từ chức, rồi cử Viên Thế Khải làm Tổng thống. Trình tự đòi hỏi theo 5 điều sau đây :

Vua nhà Thanh thoái vị, chính quyền triệt tiêu, không được giao riêng cho ai.

Tại Bắc Kinh không được thiết lập chính phủ lâm thời.

Sau khi nhận được điện thoái vị của Bắc Kinh, yêu cầu các nước thừa nhận Trung Hoa dân quốc.

Chờ các nước hồi âm, Tôn Văn hướng Tham nghị viện từ chức.

Tham nghị viện công cử Viên Thế Khải làm Tổng thống.

Viên sợ rằng huỷ bỏ triều Thanh rồi, mà Tôn không chịu từ chức, thì toàn quốc chỉ có một chính phủ Nam Kinh, như vậy Viên sẽ trở thành thuộc hạ của chính phủ này. Ngũ Đình Phương cho rằng tình hình quốc tế bất lợi, khuyên Tôn đừng kiên trì đòi các nước thừa nhận. Ngày 22/1 Tôn đề xuất giải pháp uyển chuyển, không kiên trì đòi các nước thừa nhận, nhưng khi vua Thanh thoái vị sẽ báo tin cho Công sứ các nước biết, Viên tuyên bố tuyệt đối tán thành cộng hoà ; Tôn tiếp nhận thông tri của các Công sứ sẽ thi hành từ chức, suy cử Viên kế nhiệm, Viên tuyên thệ tuân thủ hiến pháp Tham nghị viện đã định ; nếu như những điều này không thi hành, chứng minh Viên không muốn giải quyết hoà bình, sẽ chịu trách nhiệm về chiến tranh xẩy ra. Ngày 27 lại báo tin cho các Công sứ rằng Tôn đã nhượng bộ để thành lập cộng hoà. Lúc này Mông Cổ, Tây Tạng do sự xui dục của các nước Nga, Anh, thực hiện độc lập ; Nhật bản chủ xướng can thiệp tại Hoa, chuẩn bị cùng Nga phân chia Đông Tam Tỉnh. Nếu như Tôn giằng co với Viên không giải quyết, Trung Quốc trường kỳ tranh nhiễu, binh liên họa kết, tiền đồ thật đáng lo.

Nhược điểm trong nội bộ Nam Kinh khiến Tôn Trung Sơn không thể không nhượng bộ. Quá nữa tỉnh Sơn Tây nằm trong tay quân Viên Thế Khải, Thiểm Tây tình thế nguy cấp, vùng đất quan trọng tại phía bắc tỉnh An Huy cũng không giữ được. Quân cách mệnh lâm thời chiêu mộ nên không tránh khỏi ô hợp, tài chính thì rất khó khăn, các tỉnh giao nạp rất ít, riêng công trái chưa thu được, mượn tiền không được, lương thực thiếu. Ngoài ra nội bộ ý kiến bất nhất, Vũ Xương ly tâm, Viên Thế Khải lại tìm cách phân hoá. Phái lập hiến tại Giang Tô, Chiết Giang tích cực mưu hoà, mong cùng Viên thoả hiệp. Lại còn phái vô chính phủ phát sinh, nếu chiến tranh xảy ra phái này cực lực phản đối. Hội viên Đồng minh hội không hiểu rõ toàn bộ chủ nghĩa cách mệnh, chỉ nghĩ đến việc lật đổ nhà Thanh mà thôi, cán bộ sao lãng vấn đề dân chủ, dân quyền. Hiện tại tập trung toàn lực đấu tranh cho hiến pháp, quốc hội, nội các ; Tôn Trung Sơn biểu thị không tranh quyền lợi, chỉ mong sớm thực hiện cộng hoà.

Tôn Trung Sơn đem chức Tổng thống nhượng cho Viên Thế Khải với điều kiện đầu tiên là Thanh triều thoái vị. Viên muốn Thanh triều thoái vị cũng không quá khó khăn, nhưng không muốn mang tiếng ác. Viên nói với Công sứ ngoại quốc rằng Viên không muốn tiếp thụ điều kiện của Tôn vì không muốn bội bạc ơn nghĩa Thanh triều, coi khinh cô nhi [Phổ Nghi], quả phụ [Long Dụ], chỉ cầu chu toàn cho bản thân. Chẳng qua Viên muốn khéo léo vận động, để đạt thành công. Trước hết tìm cách thuyết phục Dịch Khuông, Na Đồng, cùng viên Thái giám thân cận của Long Dụ Thái hậu là Trương Lan Đức rằng thế cuộc đã mất, thoái vị sẽ được hưởng nhiều ưu đãi. Lại do bọn Phùng Quốc Chương đòi Tôn thất đại thần quyên hiến tiền bạc. Viên lại bảo Long Dụ Thái hậu rằng muốn chinh phạt phương nam phải có kinh phí, nếu không thì xin từ chức. Long Dụ rất sợ hãi, ôn tồn lưu giữ, rồi phát trong kho triều đình số tiền 8 vạn lượng, lại ra lệnh thân quý Đại thần đem tiền giúp quân, nhưng rất ít người đáp ứng. Viên còn có thủ đoạn khác là mượn người ngoại quốc uy hiếp, bảo rằng Ngoại Mông Cổ đã thoát ly Trung Quốc, Đông Tam Tỉnh sắp cùng chung số phận, phía nam tự thi hành quốc dân hội nghị, các nước tất sẽ thừa nhận ; các cửa khẩu tô giới thỉnh cầu nước họ cưỡng ép Thanh triều rời ngôi.

Ngày 12/1 hội nghị Vương, Công ; Dịch Khuông chủ trương y theo điều kiện ưu đãi trao chính quyền ; Tái Trạch, Tái Tuần, Thiện Kỳ, cùng Cung thân vương Phổ Vĩ phản đối, quyết tổ chức Tông xã đảng 4 chống lại phương nam. Ngày 16 Viên trình bày Long Dụ Thái hậu tình hình nguy cấp, nội bộ ức vạn khó khăn, binh lực không thể bình định ; đối ngoại lân bang mạnh như cọp dòm ngó, triều đình không có chỗ dung thân. Quân cách mệnh chỉ đòi hỏi dân chủ, ngoại quốc cũng đòi cải cách chính trị, nếu sự việc trì trệ họ không khỏi không can thiệp. Lại nêu cách mệnh Pháp, nếu như vua Louis 16 sớm thuận theo lòng dân thì con cháu không đến nỗi lâm vào tai hoạ ; Long Dụ nghe qua không khỏi chảy nước mắt. Ngày 17, 18 Ngự tiền hội nghị không đi đến kết luận ; Sứ thần Trung Quốc tại Nga, Lục Chinh Tường cũng gửi điện đến nơi, xin “ chấp nhận cộng hoà ” ; nhưng hữu hiệu hơn cả là áp lực của quân đội và ngoại giao. Viên Khắc Định sớm liên lạc với các tướng lãnh Bắc dương ; Trương Tái xin Viên Thế Khải ngỏ ý với Đoàn Kỳ Thuỵ kết ước với Lê Nguyên Hồng tu chính quốc dân hội nghị, nếu Thanh triều không chấp nhận thi hành, quân nhân sẽ không chiến đấu. Viên liên hệ mật thiết với Công sứ các nước, ngày 22/1 thông tri cho Công sứ Anh John Jordan về hoàn cảnh cư xử khó khăn, định từ chức ra khỏi kinh đô ; cùng ngày John Jordan cùng các Công sứ Pháp, Nga, Nhật 5 thanh minh đồng ý Thanh triều thoái vị. Vào các ngày 23 và ngày 25, Đoàn Kỳ Thuỵ hai lần gửi điện cho nội các ; điện thứ nhất xưng lòng quân dao động, tư tưởng cộng hoà không thể ngăn được, điện thứ hai xưng các Hoàng thân ngăn trở cộng hoà khiến các tướng lãnh bất bình. Phía cách mệnh thì cho rằng Viên cản trở việc thoái vị, nên ngày 26/1 mưu giết bằng tạc đạn, lúc Viên trên đường đến gặp Long Dụ Thái hậu, nhưng chỉ vài cận vệ bị giết, riêng Viên thoát được. Hoàng thân Mãn Thanh cũng cho rằng Viên cấu kết với cách mệnh nên tìm cơ hội giết, bằng cách nhử mồi phong tước, chờ khi Viên vào cung tạ ơn thì ra tay. Tuy nhiên bị Viên và đám thân cận khám phá ra, Viên hận bảo rằng “ Ta kiệt lực để bảo vệ Hoàng thất, mà còn đối với ta như vậy, nước sắp mất, không cứu được. Các ông muốn như vậy, thì được như vậy ”.

Ngày 26/1 bọn Đoàn Kỳ Thuỵ gồm 47 Tướng lãnh cùng gửi công hàm chung bằng điện yêu cầu ban chỉ dụ lập chính quyền cộng hoà, tái triệu tập quốc dân hội nghị. Cùng ngày một kiện tướng Tông xã đảng là Quân tư sứ Lương Bật bị cách mệnh ném tạc đạn chết, khiến phe Hoàng thân phản đối thoái vị sợ mất mật, Thiện Kỳ chạy trốn đến Đại Liên [Dalian, Liêu Ninh], Phổ Vĩ trốn Thanh Đảo [Quingdao, Sơn Đông]. Long Dụ Thái hậu khẩn thiết nhờ Dân chính đại thần Triệu Bỉnh Quân, Ngoại vụ đại thần Hồ Duy Đức, Bưu điện đại thần Lương Sĩ Di cầu cứu Viên Thế Khải nhờ bảo vệ tính mạng bà cùng vua Tuyên Thống, quyết định phong Viên tước hầu ngay. Viên mấy lần từ chối không chịu nhận, bảo rằng nhân tâm chia lìa, quân sự khó khăn, ngoại giao gai góc, xin thu hồi tước phong. Phùng Quốc Chương lại từ chức Tổng thống quân cấm vệ, không còn chịu trách nhiệm trị an tại kinh sư. Ngày 29, 30 hội nghị Ngự tiền ; không còn ai dám phản đối việc thoái vị. Ngày 3/2 mệnh Viên Thế Khải toàn quyền bàn bạc với Nam Kinh về điều kiện ưu đãi Hoàng gia. Ngày 5/2 Đoàn Kỳ Thuỵ lại tiếp tục trách Vương, Công làm bại hoại đại cuộc, ngăn trở chính thể cộng hoà, bèn mang toàn quân vào kinh để tranh luận lợi hại, tình trạng nằm vào thế quân đến dưới thành.

Phương án ưu đãi triều Thanh được Viên Thế Khải và cách mệnh lưu tâm, trong hoà nghị Thượng Hải Đường Thiệu Nghi đề xuất nguyên tắc, rồi Uông Triệu Minh soạn điều khoản cụ thể, Viên tâu lên và bố cáo cho các Hoàng thân. Ngày 10/2 qua lâm thời Tham nghị viện thông qua, gồm các điểm quan trọng như vua Thanh từ chức, danh hiệu vẫn còn, Trung Hoa dân quốc đãi theo lễ vua ngoại quốc, hàng năm cấp 400 vạn nguyên, tạm cư trong cung cấm, Thanh cùng Mông, Hồi, Tạng vẫn theo như cũ thế tập. Thoả hiệp này có những yếu tố khác lạ, trong nước Trung Quốc ngoài chính quyền riêng còn có vua ngoại quốc, chính phủ dân quốc bình đẳng lại có một giai cấp có quyền lợi riêng.

Vào ngày 12/2/1912 [tức 25/12 năm Phổ Nghi thứ 3], Long Dụ Thái hậu tuyên bố chiếu chỉ từ chức của vua Phổ Nghi, mệnh Viên Thế Khải toàn quyền tổ chức lâm thời cộng hoà chính phủ, cùng với dân quân hiệp thương thống nhất, nguyên văn như sau : 前因民軍起義,各省響應,九夏 沸騰,生靈塗炭。特命袁世凱遣員與民軍代表討論大局,議開國會、公決政體。兩月以來,尚無確當辦法。南北暌隔,彼此相持。商輟於塗,士露於野。國體一日不 決,民生一日不安。今全國人民心理,多傾向共和。南中各省,既倡義 於前,北方將領,亦主張於後。人心所向,天命可知。予亦何忍因一姓之尊榮,拂兆民之好惡。是用外觀大勢,內審輿情,特率皇帝將統治權公諸全國,定為立憲共和國體。近慰海內厭亂望治之心,遠協古聖天下為公之義。袁世凱前經資政院選為總理大 臣,當茲新舊代謝之際,宜為南北統一之方。即由袁世凱以全權組織臨時共和政府,與民軍協商統一辦法。總期人民安堵,海宇乂安,仍合滿、蒙、漢、回、藏五族 完全領土為一大中華民國。予與皇帝得以退處安閒,優遊歲月,受國民之優禮,親見郅治之告成,豈不懿歟!

[Trước đây do dân quân khởi nghĩa, các tỉnh hưởng ứng, chín cõi Trung Hoa sôi sục, nhân dân đồ thán ; đặc mệnh Viên Thế Khải sai người cùng đại biểu dân quân thảo luận đại cuộc, bàn việc mở quốc hội, quyết định chính thể. Trong vòng 2 tháng nay, chưa có được biện pháp xác đáng ; nam bắc chia cách, hai phe tương trì, buôn bán tắc nghẽn trên đường, quân lính phơi mình nơi cỏ nội ; quốc dân chính thể một ngày chưa quyết, dân sinh một ngày chưa yên. Nay tâm lý nhân dân toàn quốc, phần lớn khuynh hướng cộng hoà ; các tỉnh tại nam, trung đã xướng nghĩa trước, tướng lãnh tại bắc phương lại chủ trương sau đó, căn cứ nhân tâm biết rõ mệnh trời. Ta đâu nỡ để cho một họ được tôn vinh, khiến hàng triệu nhân dân chán ghét, nên đối ngoại xem đại thể, đối nội xét tình hình, đặc cách mang đại quyền thống trị của Hoàng đế công bố cho toàn quốc, định lập hiến chính thể cộng hoà ; nhắm an ủi tấm lòng yêu hoà bình ghét loạn của người trong nước và cũng hợp với ý nghĩa “vi công” 6 của thánh triết xa xưa. Viên Thế Khải trải qua Tư chính viện, được tuyển làm Tổng lý đại thần, vào lúc mới cũ giao thời, nên tìm phương cách thống nhất, tức do Viên Thế Khải toàn quyền tổ chức chính phủ Cộng hoà lâm thời, cùng quân dân hiệp thương biện pháp ; để mong cho nhân dân yên ổn, đất nước thái bình ; lãnh thổ 5 dân tộc Mãn, Mông, Hán, Hồi, Tạng làm thành đại Trung Hoa dân quốc. Ta cùng đại Hoàng đế thoái chức an nhàn, vui cùng tuế nguyệt, nhận ưu lễ của quốc dân, đích thân xem cảnh thịnh trị thành công, há chẳng tốt đẹp hơn sao !].

Sau đó giao cho Ngoại vụ thông báo các sứ quán ngoại quốc ; các Vương, Công Hoàng thân cũng trốn vào khu sứ quán, Dịch Khuông trốn tại tô giới Thiên Tân. Chiếu thoái vị soạn từ Nam Kinh, do Trương Tái chấp bút ; căn cứ vào nét chữ trong đó có câu “ Viên Thế Khải toàn quyền tổ chức chính phủ cộng hoà lâm thời ”, do Viên Thế Khải thêm vào trước khi trao cho Long Dụ, để chứng tỏ Viên có quyền tự lập chính phủ. Cho dù ra sao, thì chế độ quân chủ triều Thanh cũng đã cáo chung.

 

3. Chính phủ lâm thời của Viên Thế Khải


Tuy Phổ Nghi đã thoái vị xong, Viên Thế Khải vẫn lo rằng Tôn Văn không chịu từ chức. Đầu tháng 2, do Đoàn Kỳ Thuỵ điện cho Tôn Văn và Lê Nguyên Hồng chủ trương thủ tiêu cả hai chính phủ bắc, Nam ; rồi suy cử Tổng thống. Lê Nguyên Hồng vốn bất mãn với chính phủ Nam Kinh, muốn xử tốt với Viên để củng cố địa vị, nên bằng lòng ngay. Trước khi Chiếu thoái vị ban bố 1 ngày, Viên đánh điện cho Nam Kinh bảo rằng cộng hoà là chính thể tốt thích hợp, ngày vua Thanh thoái vị, tức không còn chính thể quân chủ trên đất Trung Quốc; như vậy đã làm theo lời Tôn yêu cầu, Tôn đáng phải thi hành điều đã đồng ý, từ chức để Viên giữ chức Tổng thống. Sau khi Chiếu thoái vị ban bố 1 ngày, Viên tuyên cáo “ Ứng mệnh tổ chức chính phủ ” , tự xưng “ Thủ lãnh ” thực sự thành lập chính quyền. Cùng ngày, Tôn Trung Sơn hướng lâm thời Tham nghị viện từ chức, nhường chức Tổng thống cho Viên ; chỉ yêu cầu Viên không đáng để triều Thanh uỷ nhiệm, cứ tự tổ chức chính phủ. Viên bảo rằng quân Bắc dương và đại biểu Mông Cổ đã suy cử Viên làm Tổng thống, nên việc “ triều Thanh uỷ nhiệm ” không cần tranh luận thêm ; sự việc biểu thị rằng Viên đã thành Tổng thống, không cần phương nam nhường, Tôn cũng bỏ qua không đi sâu vào việc này. Ngày 15/2 lâm thời Tham nghi viện tuyển Viên làm lâm thời Tổng thống nhiệm kỳ 2, và cử Lê Nguyên Hồng làm Phó tổng thống ; kèm với lời chúc mừng như sau :

查世界历史选举大总统满场一致者,只华盛顿一人,(袁)公为再见。同人深幸公为世界之第二华盛顿,我中华民国之第一华盛顿[Tra lịch sử thế giới về bầu cử Tổng thống, chỉ có Washington là người độc nhất được mọi phiếu bầu nhất trí, ông là người thứ hai có vinh dự đó. Người đồng chí hướng hân hạnh biết ông là Washington thứ 2 của thế giới, và là Washington thứ nhất của Trung Hoa dân quốc].

Viên không đợi nhận mệnh, cải xưng “ Lâm thời đại Tổng thống ” để biểu thị chức vụ này do Thanh triều uỷ nhiệm, bắc phương suy tôn ; lại được lâm thời Tham nghị viện thừa nhận.

Trong thời gian hoà đàm Tôn Trung Sơn đề xuất điều kiện chính phủ lâm thời đặt tại Nam Kinh, lúc gửi thư cho Tham nghị viện xin từ chức lại đề cập thêm và nói rõ rằng ngày Tổng thống tân nhiệm đến Nam Kinh, Tôn mới giải chức. Điều này nhắm mục đích để Viên rời căn cứ địa Bắc Kinh, ra khỏi thế lực khu vực sứ quán, khiến quân trú phòng của liệt cường tại Bắc Kinh và cửa khẩu mất tác dụng. Viên cho rằng thành kiến bắc nam sâu sắc, không muốn đem thân vào Nam Kinh để phe cách mệnh khống chế ; nên mượn cớ trật tự phương bắc không dễ duy trì, nhân tâm tại Đông Tam Tỉnh chưa nhất trí để từ chối không xuống phương nam. Tham nghị viện một thời đồng ý chính phủ thiết lập tại Bắc Kinh, nhân Tôn và Hoàng Hưng cương quyết từ chối, nên biểu quyết lại, đòi chính phủ phải đặt tại Nam Kinh. Nhưng có những người không đồng ý với Tôn, Hoàng ; như Chương Bỉnh Lân, và các Đô đốc thuộc các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, Hồ Nam, Vân Nam đều chủ trương lập thủ đô tại Bắc Kinh. Viên được thế thêm cường ngạnh, thanh xưng bỏ bắc đi xuống miền nam trở ngại vô cùng, ý kiến quân dân bắc phương rầm rộ, mối lo bên trong rất nhiều ; ngoại giao đoàn cũng mấy lần tuyên bố chính phủ không thể rời Bắc Kinh ; Viên doạ rằng nếu như không thể xuống phương nam nên không thống nhất được, thì Viên tình nguyện không nhận chức Tổng thống.

Nam Kinh kiên trì không đổi ý, phái Thái Nguyên Bồi, Uông Triệu Minh, Tống Giáo Nhân làm chuyên sứ đón Viên, để Viên không còn cách gì từ chối. Khi phái đoàn đến Bắc Kinh được 2 ngày, vào ngày 29/2 binh biến tiếp tục xẩy ra tại vùng phụ cận Bắc Kinh như Thiên Tân, Bảo Định, Thông Châu ; Công sứ các nước điều quân đến Thiên Tân, Bắc Kinh. Lê Nguyên Hồng gửi điện yêu cầu sớm định quốc đô, thành lập chính phủ để ngăn ngừa người nước ngoài can thiệp, và quyết không dời đô xuống phương nam. Đoàn Kỳ Thuỵ, Phùng Quốc Chương cũng ra sức nói chính phủ phải đặt tại Bắc Kinh, Viên không thể xuống Nam Kinh nhận chức. Thái Nguyên Bồi cũng nhận xét rằng sau cơn binh biến thái độ ngoại quốc hết sức ngang tàng ; nếu binh biến còn xẩy ra nữa ngoại quốc sẽ tự do hành động, xét cục diện nên đặt chính phủ thống nhất tại Bắc Kinh. Nam Kinh đề nghị mang quân lên phía bắc giúp Viên duy trì trật tự, Viên hết sức phản đối ; Tham nghị viện cuối cùng hứa Viên tại Bắc Kinh nhậm chức. Phải chăng binh biến do nhận được chỉ thị ngầm của Viên, khó mà khẳng định được ; tuy nhiên sau khi sự việc xẩy ra không đem ra phân xử. Từ đó trở về sau, binh biến là việc thường xẩy ra dưới thời dân quốc.

Một điều khác Tôn yêu cầu Viên là phải tuân thủ hiến pháp. Trước đó chế định lâm thời ước pháp ; vào ngày 7/3 lâm thời Tham nghị viện bắt đầu thảo luận, đến ngày 21/3 công bố. Quy định chủ quyền quốc dân thuộc toàn thể nhân dân ; Tham nghị viện, Tổng thống, Quốc vụ viên hành sử quyền thống trị. Nhân dân nhất luật bình đẳng, không phân biệt chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, đều tại pháp luật hưởng tự do bản thân, nhà cửa, tài sản, doanh nghiệp, ngôn luận, xuất bản, tập hội, thư tín bí mật, cư trú, di chuyển, tín ngưỡng. Có quyền lợi thỉnh nguyện, trình bày, tố tụng, khảo thí, tuyển cử, được tuyển cử ; cùng nghĩa vụ nạp thuế, tòng quân. Quyền lập pháp do Tham nghị viện hành sử, Tổng thống, Phó tổng thống do Tham nghị viện tuyển cử. Tổng thống nắm chính vụ, thống suất hải, lục quân, chỉ định viên chức văn võ ; nhưng về việc quy định các ngạch viên chức, chỉ định Quốc vụ viên, Đại sứ, cùng tuyên chiến, nghị hoà, lập điều ước, thì phải được Tham nghị viện đồng ý. Tổng thống công bố pháp luật cùng mệnh lệnh, đều thông qua Quốc vụ viên cùng ký. Ước pháp thi hành trong hạn 10 tháng, sau đó triệu tập quốc hội, chế định hiến pháp.

Qua những điều khoản của ước pháp, về mặt nhân quyền, so với các quốc gia dân chủ trên thế giới đại khái tương tự, riêng Trung Quốc là điều mới, từ trước tới nay chưa từng có. Đối với quyền lực quốc hội thì ra sức đề cao, quyền lực Tổng thống thì hạn chế nhiều cách, cũng gần như nội các chế. Viên hiểu rằng đây là công cụ do Đồng minh hội đặt ra để ràng buộc mình, nên không chịu cúi đầu tuân theo. Từ đó trở về sau, Viên và Đồng minh hội xung đột phần lớn đều do từ ước pháp.

Đồng minh hội đưa chức Tổng thống nhường Viên, hy vọng tổ chức nội các, bỏ danh để chiếm thực ; nhưng đó không phải là điều Viên muốn. Phương án chiết trung, để Đường Thiệu Nghi gia nhập Đồng minh hội và giữ chức Tổng lý nội các. Đường đối với Viên có hơn 20 năm cùng làm việc mật thiết ; đối với Tôn cùng là dân Quảng Đông, lại là người xúc tiến thành lập cộng hoà, nên có thể đứng vào thế chiết trung, xúc tiến Viên cùng Đồng minh hội hợp tác. Ngày 3/3 Viên cử Đường làm quốc vụ Tổng lý, phái Viên có Triệu Bỉnh Quân, Đoàn Kỳ Thuỵ, Lưu Quan Hùng chia giữ các chức Tổng trưởng nội vụ, lục quân, hải quân; phái lập hiến Hùng Hy Linh giữ chức Tổng trưởng tài chánh ; Đồng minh hội có Vương Sủng Huệ, Thái Nguyên Bồi, Tống Giáo Nhân, Trần Kỳ Mỹ phân giữ các chức Tổng trưởng tư pháp, giáo dục, nông lâm, công thương ; riêng Tổng trưởng ngoại giao do nhân vật mềm dẻo Lục Chinh Tường đảm nhận. Vào ngày 1/4 Tôn Trung Sơn từ chức Tổng thống lâm thời. Hoàng Hưng đảm nhiệm Nam Kinh lưu thủ, nắm các quân phía nam. Ngày 2/4 Tham nghị viện chính thức nghị quyết đặt chính phủ lâm thời tại Bắc Kinh.

Hồ Bạch Thảo


(Tham khảo từ : Cận Đại Trung Quốc Sử Cương của Quách Đình Dĩ, Thanh Thực Lục, Thanh Sử Cảo, Wikipedia Anh văn và Trung văn, Bản đồ Google)

 




1  Thành phần nội các có 3 Tổng trưởng gốc Quảng Đông, 2 thuộc Chiết Giang, 1 thuộc Giang Tô, 1 Tứ Xuyên, 1 Hồ Nam, 1 Phúc Kiến; riêng tỉnh Hồ Bắc có một số Thứ trưởng nhưng không có Tổng trưởng.

2  Lãnh sự tài phán quyền [consular jurisdiction] : quyền này ban cho người ngoại quốc tại quốc gia phạm tội, không do quốc gia đó xử, mà do Lãnh sự phán xử.

3  Cáo hữu bang thư : thư gửi các nước thân hữu.

4  Tông xã đảng : đảng do quí tộc Mãn Thanh lập, chống cách mệnh Tân Hợi.

5  Nhật Bản thấy xu thế chung không để cho triều Thanh tồn tại nên đồng ý ; riêng nước Mỹ không muốn can thiệp vào nội bộ Trung Quốc nên không tham gia.

6  Vi công : do điển cố từ Luận Ngữ, thiên Lễ Vận, “ Thiên hạ vi công ” tức thiên hạ là của chung



Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss