Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Chiến tranh nha phiến, nguyên nhân cùng hậu quả (1)

Chiến tranh nha phiến, nguyên nhân cùng hậu quả (1)

- Hồ Bạch Thảo — published 25/05/2013 01:15, cập nhật lần cuối 12/04/2016 22:18
Chương 1 bài biên khảo của Hồ Bạch Thảo theo tinh thần "Biết mình, biết người. Hãy tìm hiểu “người” mình cần phải biết".

Chiến tranh nha phiến,
nguyên nhân cùng hậu quả


HỒ BẠCH THẢO



Chương 1


Trung Anh tranh chấp khuếch đại
trước chiến tranh nha phiến

[1830-1838]



1. Anh quốc thi thố thủ đoạn mới


Trung Quốc và nước Anh tiếp xúc qua 2 thế kỷ, cả hai đều thấy bất mãn. Trung Quốc không muốn thay đổi điều chỉnh, riêng nước Anh thì không còn nhẫn nại thêm nữa, không biến không thể được. Vào đầu thế kỷ thứ 19, cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh quốc dần dần hoàn thành, tăng gia cơ khí hóa sản xuất, cần khuếch trương thị trường và thu giữ nguyên liệu. Ðồng thời giao thông cải tiến không ngừng, hỏa xa bắt đầu dùng, thuyền máy có thể đi xa, hàng hải từ Âu sang Á thời gian rút ngắn lại. Lúc bấy giờ Anh khống chế hàng hải, quân lực ngày một mạnh, sớm chiếm được Ấn Ðộ ; năm 1824 lại chiếm lãnh Tân Gia Ba [Singapore], nơi giữ vị trí chiến lược hàng đầu, khống chế hải đạo trọng yếu từ Ấn Ðộ Dương vào Thái bình Dương. Thực trạng khiến người Anh không bằng lòng cách giao thiệp với Trung Quốc lúc bấy giờ ; cửa ngõ vùng đất rộng nhiều tài nguyên này, cần phải mở ra, cách thức giao dịch phải được cải tiến ; không cần biết Trung Quốc có bằng lòng hay không, cái thế phải hành động như vậy !

Quá khứ nước Anh mậu dịch tại Ðông phương, do công ty Ðông Ấn Ðộ quản lý, lợi ích công ty này độc hưởng. Tuy lúc đầu không có lời dị nghị, nhưng đến thế kỷ thứ 18 xẩy ra đả kích mạnh, các công ty buôn nhỏ như Country Ship [Cảng Cước] phụ họa theo, chủ trương tự do mậu dịch. Các giới công thương thành thị phản đối công ty độc quyền, kinh tế gia lúc bấy giờ cũng đề cao phóng nhiệm. Năm 1813 chính phủ thủ tiêu công ty này chuyên lợi tại Ấn Ðộ, nhưng vẫn bảo lưu độc quyền tại Trung Quốc. Giới công nghiệp tại thành thị nước Anh tiếp tục chỉ trích công ty không đáp ứng được sản phẩm tân công nghệ cần tiêu thụ ; vì mấy năm gần đây buôn bán tại Hoa đình trệ, thương gia Mỹ lại đưa tàu thuyền đến buôn bán cạnh tranh. Cùng đưa ra bằng chứng rằng từ khi công ty này không còn độc quyền tại Ấn Độ, thì mãi lực nơi này tăng lên gấp ba, còn tại Mã Lai tăng lên gấp bốn, để chứng minh cho cái hại của độc quyền. Năm 1832 [Ðạo Quang thứ 14] tân quốc hội Anh thông qua quyết định phế bỏ công ty Ðông Ấn Ðộ chuyên lợi tại Trung Quốc, thần dân Anh quốc được tự do buôn bán tại Thái Bình Dương, Ấn Ðộ Dương ; lập Giám đốc thương vụ tại Quảng Châu [Guangzhou] 1 thay thế cho Ðại ban của công ty, quản lý việc buôn bán giữa Anh, Hoa và có quyền tài phán, thu thuế.

Năm 1833, chính phủ Anh cử viên Tướng lãnh kiêm Nghị viên Thượng nghị viện William John Napier [Luật Lao Ty] làm Giám đốc thương vụ tại Hoa. Quá khứ việc giao thiệp Trung Anh do Ðại ban của công ty chủ trì, mọi việc đều liên quan đến thương vụ ; từ nay trở về sau quy vào chính phủ, do Giám đốc chủ trì ; trừ việc lợi ích thương vụ còn liên quan đến thể diện quốc gia và địa vị viên Giám đốc. Nói tóm lại, việc quan hệ Trung Anh từ nay trở về sau mang tính chính trị, từ cục bộ thương mãi, chuyển sang toàn diện.

Lúc này chính sách của chính phủ Anh vẫn chủ trương điều hợp, hòa hoãn. Quốc vương ban cấp cho William John Napier [Luật Lao Ty] sắc lệnh đòi hỏi giữ thái độ thân thiện, đừng khích động sự căm ghét của người Trung Quốc, dùng phương pháp hiệu lực bảo trì hữu nghị lúc phân xử tranh chấp ; khi cần phải gửi văn thư cho quan phủ thì dùng lời lẽ khiêm cung, không được dùng ngôn từ dọa nạt. Ngoại trừ bất đắc dĩ, không được dùng vũ lực ; nếu như pháp luật Trung Quốc công chính, người Anh đáng tuân thủ. Viên Thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại giao H. J. T. Palmerston [Ba Mạch Tôn] cũng căn dặn tương tự, rằng hãy cẩn thận hành sự, không gây nguy hiểm cho quan hệ hiện tại Hoa Anh, không hành sử quyền tài phán 2 một cách bừa bãi, trừ khi gặp điều biến cố thuyền binh không được vào Hổ Môn [Humenzhen, Quảng Ðông]. Nhưng đồng thời phải giúp người Anh buôn bán, đem hết khả năng khuếch trương mậu dịch ra khỏi đất Quảng Châu [Guangzhou], tìm các địa phương ven biển để hải quân sử dụng ; thiết lập quan hệ với chính phủ Trung Quốc, sau khi đến nơi hãy dùng văn thư liên lạc ngay với Tổng đốc Lưỡng Quảng.

Có thể thấy rằng trách nhiệm của William John Napier [Luật Lao Ty] không đơn thuần về thương mãi, thực kiêm cả chính tri ; nghiễm nhiên là vị quan do chính phủ Anh gửi tới Trung Quốc. Từ nay trở về sau hành sử chức quyền làm sao khiến Trung quốc thừa nhận địa vị ông, mà không xúc phạm chương trình của Trung Quốc ; cải thiện Trung Anh quan hệ, thăng tiến quyền lợi nước Anh ; thực là vấn đề không đơn giản.



2. Quan hệ song phương cùng việc tuân thủ chương trình cũ


Sau khi biết công ty Ðông Ấn Ðộ giải thể, năm 1831 Tổng đốc Lưỡng Quảng Lý Hồng Tân đã hiểu dụ Ðại ban nhắn tin về nước rằng “ Hãy phái Ðại ban mới hiểu việc, đến Quảng Ðông để lo việc mậu dịch ”. Hai năm sau Lô Khôn giữ chức Tổng đốc, cũng có sự yêu cầu tương tự ; vậy William John Napier [Luật Lao Ty] đến nhậm chức cũng liên quan đến các điều yêu cầu nêu trên. Nhưng hai Tổng đốc chỉ mong chính phủ Anh gửi đến một Ðại ban, chứ không phải là một Giám đốc, càng không phải là một quan ngoại giao. Khi đặt chức Giám đốc, chính phủ Anh không báo cho Trung Quốc biết, không phải là sơ suất, mà ý coi thường. Ngày 15/7/1834 William John Napier [Luật Lao Ty] đến Áo Môn [Macau]. Tổng đốc Lô Khôn biết rằng địa vị của viên này không giống như Ðại ban, nên nhờ Hàng thương chuyển cáo “ Nếu như muốn đến tỉnh, hãy cho biết để tâu trước,chờ xin chiếu chỉ.” Còn việc mậu dịch, muốn lập chương trình mới, thì nên bàn với Hàng thương bẩm lên, để lãnh chiếu chỉ thi hành. Viên Tổng đốc không hoàn toàn cự tuyệt William John Napier [Luật Lao Ty] đến Quảng Châu, cũng không tuyệt đối chống lại việc thay đổi chương trình, chỉ muốn thính thị Hoàng đế trước, vì không có quyền tự quyết định.

Trước tiên William John Napier [Luật Lao Ty] tuân theo huấn lệnh của Thủ tướng H. J. T. Palmerston [Ba Mạch Tôn] gửi thư cho Lô Khôn, chức tước đề “ Ðại Anh quốc chính quí Ðại thần, Thủy sư thuyền đốc, Ðặc mệnh tổng quản nhân viên mậu dịch Chánh Giám đốc, thế tập Hầu tước ” trình bày rằng “ Anh quốc ân chúa đặc mệnh ” trị lý thương thuyền Anh tại Trung Hoa, công ty Ðông Ấn Ðộ đã giải thể, muốn đến nha môn hội họp, đem “ sự lý canh cải ” cùng trình bày rõ nhiệm vụ, nhờ “ tâu thay Hoàng thượng biết ”. Ngày 25/7 William John Napier [Luật Lao Ty] đến Di quán tại Quảng Châu ; ngày hôm sau đến tỉnh thành đưa thư, nhưng không có ai chịu nhận.

Trước khi William John Napier [Luật Lao Ty] đến Áo Môn, đã tiếp được thông báo của Lô Khôn đợi tâu lên triều đình, nhưng y không chịu đợi mà đến ngay, thực sai thể chế. Lô Khôn viện lý “ Ðại thần Thiên triều không được tự tiện thông thư tín với nước Di bên ngoài ” để từ chối. William John Napier [Luật Lao Ty] tuyên bố rằng y là Giám đốc nước Anh, không thể sánh với Ðại ban, từ nay trở về sau mọi việc đều gửi văn thư thẳng đến nha môn, không qua Hàng thương làm trung gian như trước, y cũng không xưng “ kính bẩm ”, chỉ gửi văn thư hàng ngang mà thôi. Ðó là lập trường tranh chấp của hai bên.

Tổng đốc Lô Khôn không muốn vấn đề trở nên bế tắc, tìm cách mở đường ; nhưng thái độ William John Napier [Luật Lao Ty] kiên quyết, không đếm xỉa ; rồi báo cáo cho Luân Ðôn xin dùng vũ lực áp bách. Ngày 26/8 phát bố cáo chỉ trích Lô Khôn “ cố chấp bất minh ”, bảo thương gia nước Anh đừng lo việc đóng cửa thuyền, vì trước đó 10 ngày Trung Anh mậu dịch đã bị đình chỉ. Lúc này Lô Khôn đả kích William John Napier [Luật Lao Ty] mưu chống đối, không tuân pháp độ ; nếu không trừng xử nặng, lấy gì để giữ quốc thể và làm cho các Di nhiếp phục.” Ngày 2/9 ra bố cáo chỉ trích Luật Lao Ty “ hỗn láo tự cao ” “ ngu muội vô tri, khó có thể hiểu dụ bằng lý lẽ ”; rồi chính thức ra lệnh đóng thuyền, đuổi người buôn bán, Thông sự, người phục dịch ra khỏi Di quán. William John Napier [Luật Lao Ty] lập tức điều binh thuyền tiến vào cửa khẩu, oanh kích pháo đài H Môn [Humenzhen, Quảng Ðông] ; lại ra bố cáo lần thứ hai tố cáo Lô Khôn bất nghĩa, bạo ngược, dẫn tới chiến tranh “ Ðại Hoàng đế nước Anh quyền năng cao cả, bản đồ gồm cả bốn biển, khắp nơi đều nhiếp phục, đất đai rộng lớn, của cải giàu có, nước Ðại Thanh không thể so sánh được. Với binh lính dõng mạnh, họp thành đại quân, đánh đâu thắng đó ; lại có thủy sư thuyền lớn, trang bị 120 đại pháo, tuần tiễu các biển ; còn riêng Trung Quốc thì không dám đến biển nào cả ! Các viên Tổng đốc Ðại thần hãy tự hỏi Vương nước ta lại còn phải cung thuận ai nữa ? ”

Sự việc đã đến như vậy, Lô Khôn tuy không muốn gây hấn nhưng không thể không điều binh tăng phòng ; ngay lúc quân Anh tiến đến Hoàng Phố [Huangpu, Quảng Ðông] vào ngày 11/9, bèn bảo Hàng thương chuyển lời cho thương gia Anh bình tĩnh bàn luận. Ðối với William John Napier [Luật Lao Ty] tuy vẫn dùng lời trách, nhưng ngữ khí của viên Tổng đốc cũng có phần hòa bình ; bảo rằng Trung Quốc từ trước tới nay “ lấy tình lý khuất phục người, không chuộng võ lực ” hiện tại William John Napier [Luật Lao Ty] đột ngột dùng binh lực xông vào trong sông, phóng hỏa cự địch, làm tổn thương binh lính cư dân, e không phải là ý kiến của thương gia Anh ; hy vọng William John Napier [Luật Lao Ty] sửa sai lầm tự đổi mới, tuân thủ theo cựu chế. Thương gia Anh cũng không muốn buôn bán đình trệ, cùng với Hàng thương điều giải. Ngày 21/9 William John Napier [Luật Lao Ty] cùng binh thuyền rút ra khỏi Hoàng Phố ; Lô Khôn lấy lại được một phần thể diện, bèn cho phép khôi phục mậu dịch, vụ tranh chấp tạm thời chấm dứt. William John Napier [Luật Lao Ty] cho các thương gia biết rằng, tương lai sẽ có một ngày dùng vũ lực rửa mối hận, để Trung Quốc biết tôn trọng quan chức nước Anh.

Lô Khôn và William John Napier [Luật Lao Ty] không phải hoàn toàn sai trái, do bởi hai bên bối cảnh lịch sử và lập trường bất đồng. Lô Khôn không hiểu về nước Anh, William John Napier [Luật Lao Ty] không hiểu về Trung Quốc, mỗi người cố chấp ý kiến mình. Lô Khôn muốn duy trì hiện trạng, tuyệt không có lòng sinh sự ; William John Napier [Luật Lao Ty] muốn cải biến hiện trạng, từ cặp mắt của Lô Khôn thì cho rằng William John Napier [Luật Lao Ty] muốn khiêu khích.

Sau khi Quảng Châu đóng thuyền ngừng buôn bán, vua Ðạo Quang từng dụ Lô Khôn “ nếu không thương tổn đại thể, không nên quá hà khắc ”, khi binh thuyền Anh tiến vào sông gần tỉnh lỵ, cũng dụ không nên quá căng thẳng rồi gây nên biên hấn. Sau khi binh thuyền của William John Napier [Luật Lao Ty] rút đi, Lô Khôn xin trừ bỏ hải quan tệ đoan, Ðạo Quang cũng ra lệnh chỉnh đốn mậu dịch, cấm tuyệt hà khắc sách nhiễu, khiến lòng người Di vui vẻ theo. Tuy chưa có sự thay đổi căn bản, nhưng cũng thấy được vài biện pháp của Trung Quốc về mối quan hệ Trung Anh.

William John Napier [Luật Lao Ty] bị bệnh nặng tại Quảng Châu, về đến Áo Môn không dậy được, nên viên phó Giám đốc John F. Davis [Ðức Tí Thời] lên thay ; chuyển sang thái độ tiêu cực để chờ quyết định của chính phủ. Lúc bấy giờ nội các Anh cải tổ, chủ trương hòa hiệp trong việc giao dịch với Trung Quốc. Nhưng các công ty buôn nhỏ tại Quảng Châu không đồng ý, họ liên danh đệ đơn xin đưa Toàn quyền đại biểu đến, mang pháo hạm uy hiếp, đòi cách chức Lô Khôn, bồi thường tổn thất, mở rộng cảng khẩu. Năm 1835, John F. Davis [Ðức Tí Thời] thôi chức, George Robinson [La Tân Thần] thay thế ; thái độ cũng giống như viên tiền nhiệm, nên thương gia Anh không phục. Năm 1836, H. J. T. Palmerston [Ba Mạch Tôn] lại giữ chức Bộ trưởng ngoại giao, viên phó Giám đốc Charles Elliot [Nghĩa Luật] xin tích cực hành động, được giao cho giữ chức Giám đốc, hay còn gọi là Lãnh sự.

Charles Elliot [Nghĩa Luật] xin đến tỉnh thành để quản lý thương nhân và nhân viên tàu thuyền, Tổng đốc Ðặng Ðình Trinh tâu lên và được chấp thuận “ y theo chương trình của Ðại ban trước kia, đến tỉnh lo liệu ”. Năm 1839, Tư lệnh hạm đội Ðông Ấn Ðộ Sir F. Maitland [Mã Tha Luân] đến Quảng Ðông, Charles Elliot lại đến Quảng Châu đệ thư cho Ðặng Ðình Trinh, yêu cầu cùng với Mã Tha Luân đến ; thư bị trả lại, hành động thử thách của Charles Elliot bị thất bại. Lúc bấy giờ việc giao thiệp chính trị giữa hai nước Anh, Hoa dằng co nhau ; còn về mặt kinh tế, tranh chấp về nha phiến cũng không dễ giải quyết.



3. Nhập siêu do bởi nha phiến


Nha phiến truyền từ ngoại vực đến, đời Ðường vào Trung Quốc, thời Minh gọi là a phù dung ; các nước tại Nam Dương dùng làm đồ tiến cống, thị trường cũng buôn bán, giá tương đương vàng. Người Bồ Ðào Nha chở từ Ấn Ðộ đến Quảng Ðông, mãi lực tăng dần. Vào thế kỷ thứ 16, hải quan bắt đầu đánh thuế, xếp vào loại y dược ; đem trộn chung với một loại yên thảo sản xuất từ Phi Luật Tân, dùng để hút. Thời Thanh sơ chế biến càng tinh vi “ Nấu cho thành cao, cắt tre thành ống điếu, ghé vào đèn hít khói này ; trong vòng mấy năm lan ra các tỉnh, thậm chí mở quán bán hàng.” Thời Ung Chính [1729] cho là loại dâm đãng hại người, ra lệnh cấm chỉ ; nhưng chỉ cấm loại trộn với yên thảo, chứ không cấm tinh chất. Lúc bấy giờ mỗi năm nhập khẩu 200 rương, mỗi rương 100 cân ; ngoài người Bồ ra, người Anh cũng buôn bán.

Anh nhập khẩu Trung Quốc các hàng len, thiếc, đồng, đồng hồ, pha lê ; cùng các hàng vải đến từ Ấn Ðộ. Trung Quốc xuất khẩu qua thương gia Anh các hàng trà, tơ lụa, điều, vải bố, đồ sứ. Lúc đầu mỗi năm xuất khẩu trà khoảng 30 vạn cân, cuối thế kỷ thứ 18 lên đến 1.800 vạn cân, đến thế kỷ thứ 19 đạt 2.000 vạn cân ; chiếm trên 90 % hàng xuất khẩu. Trong một xã hội nông nghiệp tự túc, trai cày ruộng gái dệt vải như Trung Quốc, hàng của nước Anh thiếu thị trường nhập khẩu ; nên thương gia Anh phải dùng bạc nén [ngân lượng] để mua trà, cứ 100 cân gíá 19 lượng. Số bạc nén thương gia Anh bán hàng tại Trung Quốc, chỉ bằng 1/10 số cần mua. Lúc này tại Âu châu chủ nghĩa trọng thương thịnh hành, quý trọng hiện kim, người Anh cảm thấy việc buôn bán tại Trung Quốc tổn thất cho quốc gia rất nhiều ; nên khi phát hiện được nha phiến tiêu thụ mạnh, bèn chú tâm buôn thứ hàng này. Năm 1773, công ty Ðông Ấn Ðộ có được độc quyền mua nha phiến tại Ấn Ðộ, bèn khuyến kích trồng thêm, khống chế vận tải tiêu thụ. Trung Quốc mỗi năm nhập khẩu từ 4.000 rương lên đến 6.000 rương ; mỗi rương giá từ 140 lạng bạc, lên đến 350 lượng ; mở đầu thấy được áp lực của việc buôn nha phiến.

Năm 1796 Trung Quốc đình chỉ đánh thuế nha phiến, coi như hàng cấm. Sau đó 4 năm Tổng đốc Lưỡng Quảng vạch rõ rằng nha phiến “ đối với Di nước ngoài là đất bùn, nhưng đối với ta là hàng hóa bạc nén ”, khiến cho dân nội địa trở thành thất nghiệp ; ông là người đầu tiên luận nha phiến về khía cạnh kinh tế dân sinh. Chiếu ban xuống cấm bán thuốc phiện, từ đó công ty Ðông Ấn Ðộ không chở, toàn bộ giao cho thương nhân Cảng Cước [Country Ship], số bán tăng chứ không giảm. Từ năm 1809 đến 1817 có 5 lần cấm, chủ trương chặn nguồn đến. Thuyền nước ngoài tiến đến cửa khẩu, do Hàng thương cam kết bảo chứng rằng không chở nha phiến, nếu tra ra thuyền bị đuổi về, không chuẩn cho buôn bán ; quan viên tra nã bất lực phân biệt xét xử, những người buôn bán riêng với người nước ngoài bị trừng trị nặng. Nhưng rồi trở thành vô hiệu, gian dân và quan địa phương cấu kết chia lời, thương thuyền Cảng Cước chuyển vận số lượng lớn, giao dịch buôn bán ngay tại Áo Môn, Hoàng Phố. Năm 1813, công ty Ðông Ấn thủ tiêu quyền lực mậu dịch tại Ấn Ðộ, thương nhân Cảng Cước trở nên năng nổ, chuyển vận nha phiến càng nhiều, buôn bán càng thêm thịnh vượng.

Trung Quốc cũng là nước chú trọng đến hiện kim ; từ năm 1780-1818, mấy lần ban chiếu cấm chỉ bạc nén tuổn ra nước ngoài, do nhập đồng hồ, pha lê ; nhưng đương cục tại Quảng Ðông thì biết rằng do bởi nha phiến. Ðầu thế kỷ thứ 19, mậu dịch chính quy tại Trung Quốc phần lớn xuất siêu. Năm 1812, hàng nhập khẩu hóa gíá 1.270 vạn lượng, xuất khẩu ước 1.510 vạn lượng ; năm 1813, nhập khẩu 1.260 vạn lượng, xuất khẩu ước 1.290 vạn lượng ; số liệu này căn cứ vào sổ bạ của Hàng thương tại Quảng Châu. Nhưng nha phiến là vật cấm, không ghi vào sổ bạ ; nếu đem tất cả nha phiến nhập vào, thì số nhập siêu rất lớn. Năm 1818, số hàng nhập khẩu là 1.880 vạn lượng, xuất khẩu khoảng 1400 vạn lượng ; nếu kể thêm 300 vạn lượng nha phiến bán vào, cộng lại số nhập siêu của Trung Quốc lên tới trên 700 vạn lượng !

Ðời Gia Khánh cấm thuốc phiện bị thất bại. Ðầu thời Ðạo Quang, vấn đề này được nhà đương cục quan tâm. Năm 1821[Ðạo Quang thứ 1] Tổng đốc Lưỡng Quảng Nguyễn Nguyên xin thân minh lệnh cấm, đặt nặng trách nhiệm cho các Hàng thương, đem viên tổng Hàng thương giàu có Ngũ Quách Nguyên ra xét xử. Từ đó thuyền nước ngoài tại biển chuyển nha phiến qua phà lênh đênh ngoài cửa khẩu Hổ Môn, đợi thuyển con từ nội địa ra ngầm lấy nha phiến rồi tẩu tán đi các nơi. Bọn này có vũ khí, nếu gặp thuyền quân can thiệp thì chống cự, nếu thỏa thuận được thì hối lộ, thông đồng gây mối tệ. Thời mà thuyền ngoại quốc lênh đênh ngoài cửa khẩu, sử gọi là “ linh đinh tẩu tư ” , nói nôm na là lênh đênh tư lợi tuồn hàng cấm. Ngoài Quảng Ðông ra, miền duyên hải Phúc Kiến [Fujian] lên đến phía bắc, bọn buôn thuốc phiện qua lại như thường, phía bắc đến Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc], Phụng Thiên [Fengtian, tỉnh Liêu Ninh] ; các hải khẩu đều có các cơ sở chuyển vận nha phiến vào nội địa. Số lượng nha phiến tiêu thụ vẫn tiếp tục tăng : từ năm 1821-1828, trung bình mỗi năm hơn 9.000 rương ; 1828-1835, 1 vạn 8.000 rương ; 1835-1838, hơn 3 vạn 9.000 rương. Mỗi rương giá bình quân 400 lượng. Ðầu thế kỷ thứ 19, người Mỹ mua thuốc phiện từ Thổ Nhĩ Kỷ chuyển đến Quảng Châu, mỗi năm cũng đến trên 1.000 rương.

Dưới thời Thanh, dân chúng mua bán bằng tiền đồng, nhưng quốc gia thu, chi lấy bạc nén làm chuẩn. Nhân dân nạp thuế đều căn cứ vào giá bạc nén cao hạ, dùng tiền nạp. Bởi vậy giá bạc nén cao, hạ ; đều ảnh hưởng đến tiền đồng. Sản lượng kim loại bạc của Trung Quốc không nhiều, những người giàu có thường hay tích trữ bạc, phụ nữ cũng hay dùng bạc để chế nữ trang, cung không đáp ứng với cầu, giá bạc nén càng ngày càng tăng. Giá bạc nén càng lên, giá tiền càng xuống, khiến vật giá tăng cao, nhân dân phải dùng nhiều tiền đồng nạp thuế. Số nha phiến nhập khẩu càng tăng, số bạc nén tuồn ra ngoài càng lớn, chẳng khác gì lửa cháy đổ thêm dầu, giá bạc nén tăng vọt. Thời kỳ “ linh đinh tẩu tư ” cung cấp bằng chứng rõ ràng : cuối thế kỷ thứ 18, 1 lượng bạc đổi được 7 hoặc 8 trăm tiền đồng ; đầu thế kỷ thứ 19, đổi được trên dưới 1.000 tiền đồng ; từ 1821-1838, từ 1.200, 1.300 đến trên 1.600 tiền đồng ; trong vòng 40 năm giá bạc nén tăng lên gấp đôi. Nhà nông không có đủ tiền để nạp thuế đúng hạn, tài chính thiếu thốn, nhà đương cục buộc phải chú ý đến bạc nén tuồn ra do buôn lậu nha phiến.



4. Vấn đề cấm nha phiến


Ðộng cơ chủ yếu thời Gia Khánh cấm thuốc phiện bởi “ làm hỏng tính tình, hại sự sống ”, còn bạc nén mất do buôn lậu là thứ yếu. Thời đầu Ðạo Quang cho hai thứ đều quan trọng ; cách đối phó không ngoài ngăn chặn nguồn từ ngoại lai, đàn áp cấm chỉ tiêu thụ tại nội địa, kết quả đều vô hiệu như cũ. Nguồn đến càng rộng, tiêu thụ càng lớn, bạc lượng thiếu hụt giá càng cao, quốc kế dân sinh càng khó khăn, phong tục càng đồi bại ; “ Trên thì quan phủ, khoa bảng thân sĩ ; dưới đến công, thương, con hát, tôi đòi ; cho đến phụ nữ, tăng ni, đạo sĩ, đều hút thuốc phiện ” “ Một khi đã nghiền, thì một giờ không bỏ được, gia đình trung lưu thường bị phá sản ; thứ khói thuốc này quấy nhiễu trăm mạch, đưa đến bệnh hoạn, lâu rồi tinh thần đại hao, không thể cứu trị. Lệnh cấm qua quan chức thi hành, nhưng các quan văn võ nha môn trên dưới không ai mà không hút, Tổng đốc, Tuần phủ hầu như một nửa nghiền, Vương Công Ðại thần cũng không thiếu “ chẳng lẽ bọn này chịu lấy đá đè lên chân mình ”. Ðiều mà triều đình lo lắng nhất là binh biền nghiện thuốc phiện, phần lớn hình hài tiều tụy ; các tỉnh đều như vậy, nhưng Quảng Ðông [Guangdong], Quý Châu [Guizhou] lại càng nhiều. Năm 1832 Quảng Ðông loạn lâu không bình định được, nguyên nhân đều do đó mà ra. Còn nha phiến ngoại quốc, mỗi năm phải đổi đến 1.000 vạn lượng bạc, khiến gíá bạc càng cao, tiền đồng càng hạ, dân chúng càng khó khăn, thực quan hệ đến quốc kế dân sinh, không thể xem thường được.

Từ năm 1821 đến 1835, các nơi trong nước bàn luận đến họa thuốc phiện, mất bạc nén ; rồi triều đình ban bố pháp lệnh, không dưới vài chục văn bản. Nội dung không ngoài việc tróc nã các thuyền ngoại quốc và gian dân ngầm buôn bán, đuổi những phà chuyển hàng ngoài biền, bắt những thuyền nhỏ len lỏi trong sông, cấm dân trồng và hút nha phiến, trừng trị các quan lại thiếu trách nhiệm và nghiện hút ; không chuẩn cho thương nhân ngoại quốc thu lậu ngân lượng, chỉ lấy hàng đổi hàng, không cho lấy bạc nén đổi tiền đồng, hoặc lấy tiền ngoại quốc đổi bạc nén, cùng chương trình tra cấm nha phiến. Nhưng nói chung, tất cả đều thất bại.

Sau năm 1831, mỗi năm nhập khẩu nha phiến đến 2 vạn rương, người Anh lấy bạc nén từ Quảng Châu đến 400 vạn lượng ; những điều cấm đoán chỉ ghi trên giấy tờ, cái họa về nha phiến và tiêu mất bạc nén thực không có phương cứu vãn. Năm 1835, các nhân sĩ tại Quảng Châu chủ trương bỏ lệnh cấm, nhưng chỉ hứa lấy hàng đổi hàng, không được mua bán bằng bạc nén ; cùng cho dân chúng trồng thứ này, một khi sản xuất trong nước nhiều, thuốc từ bên ngoài không đến nữa, thì bạc nén không còn xuất lậu ra ngoài. Tổng đốc Lưỡng Quảng Lô Khôn căn cứ vào đó tâu lên, và cho rằng điều nói ra không phải là không có kiến thức. Nửa năm sau, có vị Ngự sử kiến nghị hoàn toàn bỏ việc cấm thuốc phiện, bọn quan lại không dựa được vào đó để sách nhiễu ; huống việc hút thuốc phần nhiều là bọn nhàn đãng, tự hại sinh mệnh của mình, mối nghiệt do tự chuốc lấy ; nhưng quân binh thì không được hút. Thái thường thị Hứa Nãi Tế, từng giữ chức Án sát sứ Quảng Ðông, có khuynh hướng bỏ lệnh cấm ; bèn tổng hợp các lý do nêu trên cùng phát huy thêm, rồi chính thức tâu lên. Chiếu chỉ mệnh quan lại tỉnh Quảng Ðông bàn rồi phúc tấu, Tổng đốc Ðặng Ðình Trinh cho rằng nhân thời thế mà thích nghi, tỏ ý tán thành. Việc bỏ lệnh cấm thuốc phiện có vẻ sắp thi hành, dân buôn và kẻ nghiện thuốc không ai là không cổ vũ, Lãnh sự Anh cũng hưng phấn, cho nhập khẩu nha phiến từ 2 vạn rương đến 3 vạn rương, rồi năm sau [1837] lên đến 4 vạn rương.

Những người chủ trương nghiêm cấm như Nội các học sĩ Chu Tôn, Cấp sự trung Hứa Cầu, Ngự sử Viên Ngọc Lân, nhận ra việc bỏ cấm thuốc phiện quyết không nên thi hành, biện pháp đề ra có nhiều sự trở ngại. Thứ nhất chỉ cấm quan chức sĩ binh hút thuốc, không cấm dân thường ; nhưng người dân hôm nay có thể ngày mai là quan binh, làm sao có thể dự liệu được ? Thứ hai, đã biết rõ nha phiến là độc, lại cho phép lưu hành, còn bắt đóng thuế, không có chính thể như vậy ! Thứ ba, bạc nén tuồn ra nước ngoài là điều đáng lo, cần nhận rõ rằng “ cấm được nha phiến, tự nhiên chặn được bạc nén tuồn ra ”. Thứ tư, vấn đề xuất, nhập giữa Trung Quốc và nước ngoài gần tương đương, nếu nhập thêm mỗi năm 2.000 vạn lượng bạc nha phiến, Trung Quốc còn có hàng hóa nào khác để đổi ? Thứ năm, trồng nha phiến lợi gấp bội ngũ cốc, nếu không cấm thì “ đất đai màu mỡ, tận biến thành cánh đồng nha phiến ! ” Ðiều thứ sáu rất trọng yếu : bạc nén mất quan hệ còn nhỏ, nha phiến tổn thương người tác hại lớn hơn, nếu bỏ lệnh cấm nha phiến, tức “ tuyệt nhân mệnh lại tổn thương nguyên khí.” “ Từ xưa tới nay việc khống chế Di, phải sẵn sàng bên trong mới định bên ngoài ; trị nội bộ trước, trị người sau ; cần nghiêm định điều lệ trừng trị nghiêm khắc bọn gian dân buôn bán, Hàng thương cấu kết, bao che tại các cửa khẩu ; bọn hộ tống thuyền con, binh dịch nhận hối lộ. Sau đó câu lưu bọn người Di gian giảo, hẹn ngày đuổi những phà lênh đênh khỏi biển ; cùng lệnh báo tin về nước rằng Trung Quốc cấm chỉ, chớ có ngầm buôn bán. Phàm việc “ ra tay quyết đoán, kiên trì tín cẩn, cấm điều gì cũng xong.” Ðạo Quang là ông vua tiếc của, cần kiệm ; đã từng nghiện thuốc phiện, sau giác ngộ từ bỏ, nói rằng “ Vật này không cấm tuyệt, khiến lưu hành trong nội địa, không những tan nhà, mà còn tan cả nước.” Do vậy thái độ tỏ ra kiên định, mấy lần dụ Ðặng Ðình Trinh nghiêm tra bạc nén tuồn ra khỏi nước, xua đuổi phà nước Anh, truy nã bọn bao che buôn bán thuốc phiện lậu. Lãnh sự Anh Charles Elliot [Nghĩa Luật] đối với đòi hỏi của Tổng đốc Ðặng Ðình Trinh, tìm cách lựa lời từ chối. Phà vẫn lênh đênh ngoài mặt biển như cũ, tên bán thuốc phiện nỗi tiếng William Jardine [Tra Ðồn] vẫn nấn ná tại Quảng Châu. Charles Elliot [Nghĩa Luật] lại gửi thư cho Luân Ðôn, xin phái chuyên Sứ cùng binh thuyền đến Bắc Kinh đòi hỏi đánh thuế, bỏ cấm thuốc phiện. Rồi Tư lệnh hạm đội Ðông Ấn Ðộ đến Quảng Ðông để bảo hộ mậu dịch và đó cũng là dấu hiệu trước rằng nước Anh sẽ hành động.

Lời bàn về việc bỏ cấm thuốc phiện tuy không thi hành, nhưng nha phiến tuồn vào, không có cách gì ngăn chặn, giá bạc nén tăng lên không ngừng. Ðã không trị được người, đành y theo chủ trương của Hứa Cầu, chấn chỉnh dân trong nước. Vào tháng 6 năm 1838 [tháng 6 Ðạo Quang thứ 18] Hồng lô tự khanh Hoàng Tước Tư tâu xin trị nặng người hút thuốc phiện ; điểm chính lập luận cũng đề cập đến việc bạc nén thất thoát : Trong vòng 2,3 năm nay giá bạc một lượng từ 1.200, 1.300 tiền đồng lên đến hơn 1.600, tức tăng lên 30 % ; không phải hụt bạc từ trong nước, mà do tuồn ra nước ngoài “ Hụt bạc nén nhiều, do buôn thuốc phiện mạnh, mà buôn mạnh do dân hút nhiều. Nếu không hút, thì không buôn, tức thuốc phiện từ nước Di không đến ”. Bởi vậy trị nặng người hút, là trị từ gốc ; hạn trong vòng 1 năm phải hết nghiện, quá 1 năm trị tử tội “ như vậy số bạc lậu ra ngoài sẽ tắc, giá không còn cao lên ”. Chiếu dụ các Tổng đốc Tuần phủ bàn rồi tâu lên, tuy đều cho rằng nha phiến nên cấm, nhưng thiểu số ủng hộ biện pháp mạnh của Hoàng Tước Từ, riêng trong thiểu số đó, có Tổng đốc Hồ Quảng Lâm Tắc Từ.

(còn nữa)


Hồ Bạch Thảo





1 Giúp xác định vị trí trên Google maps, các địa danh Trung Quốc được ghi thêm phiên âm Pin Yin, như Quảng Châu với âm [Guangzhou]. Ðộc gỉả chỉ cần chép Guangzhou vào ô chữ nhật trên Google map, rồi gõ vào bên phải, thì vị trí Quảng Châu sẽ hiện trên bản đồ.


2 Lãnh sự tài phán quyền [consular jurisdiction] quyền này ban cho người ngoại quốc tại quốc gia phạm tội, không do quốc gia đó xử, mà do Lãnh sự phán xử.


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us