Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Chiến tranh nha phiến, nguyên nhân cùng hậu quả (3)

Chiến tranh nha phiến, nguyên nhân cùng hậu quả (3)

Chương 3 : Chính sách pháo hạm của nước Anh




Chiến tranh nha phiến,
nguyên nhân cùng hậu quả






HỒ BẠCH THẢO




Chương 3

Chính sách pháo hạm của nước Anh
[1840-1842]


1. Quyết định dùng binh :


Từ trước tại nước Anh đã có tranh luận dùng vũ lực để mở cửa Trung Quốc, nhưng không tiện hành động vì vấn đề nha phiến. Trong lúc Trung Quốc khẩn trương cấm nha phiến, chính phủ Anh cũng chưa có quyết sách rõ ràng ; một mặt cảnh cáo thương gia Anh, nếu bị tổn thất về nha phiến thì tự lo lấy ; một mặt mệnh Charles Elliot [Nghĩa Luật] không can thiệp vào sự kinh doanh của thương gia. Vào năm 1839, sau khi nạp nha phiến, Charles Elliot mấy lần gửi báo cáo cho Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng H. J. T. Palmerston [Ba Mạch Tôn] kiến nghị cấp tốc hành động, cùng xin Tổng đốc Ấn Ðộ phái quân hạm đến. Vào đầu tháng 8, thương gia tại Luân Ðôn hội họp thảo luận các vấn đề đối với Trung Hoa, cùng với hiệp hội Ấn Ðộ và Trung Quốc [thành lập năm 1836] nhấn mạnh các điều : mậu dịch nha phiến có lợi cho nước Anh cần phát triển thương vụ, cưỡng bách Trung Quốc bồi thường số nha phiến bị thu, mở rộng các cảng khẩu tại duyên hải và sông Trường Giang, thương nhân Trung, Anh trực tiếp giao dịch, người Anh được mang quyến thuộc đến cư trú ; nếu như Trung Quốc không chịu mở cảng khẩu thì cắt nhượng các đảo. Lại cho rằng lúc này là thời cơ thích hợp đánh Trung Quốc, vũ lực có thể thu hiệu quả ngoài mong ước. Dư luận nước Anh rúng động vì nghe những tin tức thổi phồng như quan dân nước Anh tại Trung Quốc bị bạo lực hiếp chế, mất tự do, đoạn tuyệt ăn uống cơ hồ bị chết đói, lại uy hiếp đòi xử tử ; cả nước Anh đều bị ô nhục. Lại bảo Trung Quốc không muốn nhập khẩu nha phiến vì muốn tự trồng lấy ; Lâm Tắc Từ và các quan viên khác kinh doanh về việc này.


Hạ tuần tháng 9, H. J. T. Palmerston nhận được báo cáo của Charles Elliot thỉnh cầu cần thiết phải dùng binh ; William Jardine [Tra Ðồn], đầu sỏ buôn nha phiến từ Quảng Ðông trở về nước ra sức vận động, cùng cung cấp nguồn tình báo dùng để đánh Trung Quốc. Thương gia tại các thành thị lớn cũng rầm rộ gửi thư cho chính phủ yêu cầu có biện pháp hữu hiệu để bảo hộ quyền lợi thương gia tại Trung Quốc. Ngày 18/10 H. J. T. Palmerston thông tri cho Charles Elliot biết Anh sẽ mang quân đến. William Jardine đề ra phương án cụ thể nên phái bao nhiêu quân hạm, quân lính 7000 người ; chiếm lĩnh Hương Cảng, Hạ Môn [Xiamen,Phúc Kiến], Ðan Sơn [Zhoushan, Chiết Giang] ; phong tỏa các cảng khẩu trọng yếu, cưỡng bách Trung Quốc tạ tội, bồi thường tiền nha phiến bị thiêu hủy, đính lập điều ước ; ngoài Quảng Châu, mở thêm các cửa khẩu tại Ninh Ba [Ningbo, Chiết Giang], Thượng Hải [Shanghai, Giang Tô], Giao Châu [Jiaozhow, Sơn Ðông]. Tháng giêng năm 1840, Nữ hoàng Victoria [Duy Ða Lợi Á] diễn thuyết tại quốc hội nội dung mật thiết lưu ý đến quyền lợi người Anh tại Trung Quốc cùng sự tôn nghiêm của quốc gia ; lúc này tin tức về việc người Anh phải rời Áo Môn [Macau], cùng giao tranh tại Xuyên Tỵ đến nơi, chính phủ quyết định gửi hạm đội Ấn Ðộ đến tăng viện. Tháng 2 tổ chức quân viễn chinh Ðông phương, dùng Ðề đốc hải quân tại Hảo Vọng Giác [Cape of Good Hope] là George Elliot [Ý Luật], anh của Charles Elliot, làm Thống soái hải quân kiêm Chánh toàn quyền ; riêng Charles Elliot làm Phó toàn quyền.


Phương án của chính phủ Anh đối với Trung Quốc có thể thấy trong văn kiện vào tháng 2/1840 do H. J. T. Palmerston gửi chiếu hội cho Tể tướng Trung Quốc, cùng huấn lệnh ban cho hai viên chánh, phó Toàn quyền :


Mở đầu chiếu hội trách Trung Quốc hành động không đúng, gây nên những lý do phải dùng binh : Thứ nhất quan lại Quảng Châu cấm nha phiến, tàn hại người Anh, lăng nhục Lãnh sự. Thứ hai quan lại Quảng Châu [Guangzhou] từ trước tới nay bao che nha phiến, chính phủ Bắc Kinh [Beijing] biết nhưng không hỏi, nếu như muốn cấm phải trị tội quan lại trước. Nay đổ tội cho người nước ngoài, mà không thông tri cho chính phủ Anh biết trước ; nên cần phải bồi thường số nha phiến bị tịch thu, rửa hờn cho Lãnh sự bị nhục, từ nay trở về sau quan lại Anh và Trung Quóc giao dịch phải theo nghi lễ văn minh bình đẳng. Thứ ba nhường các hải đảo. Thứ tư, bồi thường số tiền Hàng thương thiếu. Ðể sớm đạt được các hạng nêu trên, quyết định huy động hải lục quân ra sức truy đánh, phong tỏa cửa biển, lưu giữ thuyền bè, chiếm lĩnh đất đại, cho đến lúc giải quyết xong thì dừng ; nếu không thì chiến tranh không ngừng. Nước Anh đã phái Toàn quyền đến cửa khẩu Bạch Hà [Baihekou,Thiên Tân] gửi chiếu hội, hy vọng Trung Quốc sẽ gửi Khâm sai đại thần đến đàm phán. Còn lần này dụng binh, quân phí đều do Trung Quốc bồi thường.


Huấn lệnh cho Toàn quyền có những điểm quan trọng như chiếm cứ Ðan Sơn, rồi tiến đến cửa khẩu Bạch Hà gửi chiếu hội, trường hợp không mãn ý sẽ tiếp tục hành động. Nếu Trung Quốc thỏa thuận đính lập điều ước, sẽ trả hải đảo theo yêu cầu. Ðiều ước chấp nhận an toàn sinh mệnh tài sản người Anh, được tự do cư trú giao dịch tại cửa khẩu không bị Công hàng hạn chế, tôn trọng Lãnh sự, định rõ qui tắc thuế ; nếu người Anh mang vật cấm hoặc buôn lậu có thể tịch thu, nhưng không được xâm phạm thân thể, Lãnh sự có quyền thẩm xét. Bến cảng có thể tùy nghi dùng Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu [Fuzhou, Phúc Kiến] , Ninh Ba, Thượng Hải.


Khi H. J. T. Palmerston đến quốc hội báo cáo mục đích dùng binh tại Hoa, cùng đề án về quân phí, các Nghị sĩ ủng hộ chính phủ phụ họa rằng Trung Quốc làm ô nhục quốc kỳ nước Anh, xâm hại thương vụ, cướp đoạt tài sản gây nguy khốn cho tính mệnh dân Anh, đáng trừng trị thêm. Phái phản đối đả kích chính phủ không sớm ngăn ngừa buôn bán nha phiến, quốc kỳ đáng bảo hộ cho điều công chính vinh dự, không thể bảo hộ vật độc hại. Nhưng vào ngày đầu tháng 4, quốc hội Anh đa số đã chấp thuận chính sách của chính phủ ; nhưng chính phủ Anh cũng không chính thức tuyên chiến, cho rằng hành động quân sự là báo phục [reprisal], không phải là chiến tranh.




2. Chiến tranh sơ khởi


Tháng 6/1840 quân Anh từ Hảo Vọng Giác [Cape of good hope], mang 16 chiếc Quân hạm Ấn Ðộ, 4 thuyền máy vũ trang, 28 thuyền vận tải, 4.000 quân thủy bộ đến vùng biển Quảng Ðông. Chiến lược của quân Anh là gây áp lực tại phương bắc, khiến cho Thanh đình mau bị khuất phục ; cho nên không đánh Quảng Châu, chỉ phong tỏa mà thôi. Khi qua Hạ Môn [ Xiamen,Phúc Kiến] có sự xung đột, một số pháo đài phòng thủ bị hủy, quân lính thương vong trên 20 người, riêng quân Anh cũng bị tổn thất. Vào tháng 7, chiến hạm Anh đến Ðịnh Hải [Dinghai, Chiết Giang] phụ cận Ðan Sơn, hẹn cho quan địa phương trong 1 giờ phải giao nạp thành trì và pháo đài. Ngày thứ 2 đánh chiếm Ðịnh Hải, cướp bóc rất nhiều, khiến dân cừu địch, trật tự không dễ duy trì, việc cấp dưỡng cho quân Anh gặp khó khăn, không ít bị nhiễm bệnh hoặc tử vong.


Lúc mới bắt đầu cấm thuốc phiện, rất ít người dự liệu sẽ dẫn đến chiến tranh. Lâm Tắc Từ càng không lưu tâm gây hấn, thủy chung không chọn thế công. Bạn của Lâm là Cung Tự Trân, tuy nói rằng bọn Di nhân nguồn lợi bị đoạn tuyệt, sẽ làm việc ngang ngạnh, cần phải dùng vũ lực để thắng ; chỉ khuyên Lâm tu chỉnh võ bị, không để cho Di vào biên cảnh, nhưng cũng đừng ra biển giao chiến. Sau khi chiến hạm Anh xuất hiện tại biển Quảng Ðông, Lâm sợ chúng theo gió nam xâm phạm phía bắc ; lập tức báo cho các tỉnh đề phòng. Ngoại trừ Ðặng Ðình Trinh mới được điều nhiệm chức Tổng đốc Mân Chiết có quân phòng ; các tỉnh khác cho rằng sự việc xẩy ra tại Quảng Ðông nên không lưu ý. Thực ra nếu có chuẩn bị cũng chẳng làm gì được, vì tại Trung Quốc lúc bấy giờ binh bị phế bỏ, không có tinh thần và kỷ luật, vũ khí thì chỉ có cung, tên, đao, kích, súng điểu thương, ống phóng v.v…về thủy quân, người Anh bảo rằng “chỉ cần hai chiến hạm, cũng có thể đánh tan”.


Lâm tuy không có ý chiến tranh, nhưng tình thế dẫn đến, cuối cùng cũng không tránh được và dự liệu quân Anh “nếu không gây hấn tại Quảng Ðông, thì sẽ đánh tỉnh khác” ; nếu có sự thất bại thì sẽ đổ tội rằng Lâm “đã gây Di hấn”. Ðến khi Ðịnh Hải bị hãm, thì đúng như dự liệu ; cả triều đình chấn hãi, không chỉ riêng người không chịu cấm thuốc phiện như Mục Chương A chỉ trích! Lúc đầu vua Ðạo Quang nghiêm trừng Tuần phủ Chiết Giang và Ðề đốc, vẫn ra lệnh duyên hải đánh dẹp ; nhưng 10 ngày sau lệnh cho viên Tổng đốc Lưỡng Giang vừa nhận chức Khâm sai đại thần Y Lý Bố mật tra tình hình quân Anh gây hấn ; riêng sai Tổng đốc Trực Lệ Kỳ Thiện tùy cơ biện lý, nếu như thuyền Anh đến cửa khẩu Thiên Tân [TianJin, Hà Bắc] thì đừng khai pháo ngay, hãy đưa văn thư họ giao trình lên ; rõ ràng chính sách đã cải biến.


Quân Anh dùng Ðịnh Hải làm cơ sở, để kế tục tiến về phía bắc xuất hiện vùng cửa khẩu Bạch Hà [Ðại Cô, Thiên Tân], nơi mà Kỳ Thiện phải đương đầu. Kỳ Thiện vốn mâu thuẫn với Lâm Tắc Từ, và được Mục Chương A hỗ trợ. Gần đây thanh vọng Lâm càng lớn, Kỳ Thiện càng ghen tức ; về lợi hại thiết thân do bởi mâu thuẫn kẻ Mãn người Hán. Với kinh nghiệm trên 20 năm Tổng đốc, Tuần phủ ; Kỳ Thiện biết rõ một khi Ðịnh Hải [Dinghai, Chiết Giang] giữ không được, nhược điểm của Trung Quốc đã thấy rõ. Nay những viên quan lớn tại Chiết Giang đã bị tội, nếu một ngày Thiên Tân, cửa ngõ của kinh sư không giữ được, thì Kỳ Thiện sẽ bị trừng phạt như thế nào? Dụ của vua cho tùy cơ biện lý, y tự biết phải hành động ra sao.


Charles Elliot [Nghĩa Luật] và viên Tư lệnh G. Bremer [Bá Mạch] gửi văn thư bài xích Lâm Tắc Từ, Ðặng Ðình Trinh “hành động vô đạo” “coi thường dụ của vua”. Trong chiếu hội của Ngoại trưởng H. J. T. Palmerston [Ba Mạch Tôn] cũng đề cập “ nhân quan hiến làm hại nhân dân bản quốc, cùng tổn thương uy nghi của đại Anh quốc, nên Anh quốc mang thủy lục quân đến Trung Quốc để rửa nhục minh oan.” Kỳ Thiện vin vào để nhận định rằng nước Anh chỉ bất mãn Lâm Tắc Từ, Ðặng Ðình Trinh ; xu thế hai bên không thể cùng tồn tại. Ngoài việc chuyển chiếu hội về triều, y còn đề cao nước Anh binh thuyền lớn, đại pháo nhiều “ nếu năm nay đánh lui được, thì năm sau chúng lại đến, một lần biên hấn mở ra, thì binh đao không kết thúc.”


Tâm lý vua Ðạo Quang đã bị giao động, hiện tại hạm đội Anh đến gần kinh kỳ, uy lực mạnh như vậy, đại họa trong gang tấc ; nhưng đối với riêng nhà vua thì lời lẽ họ vẫn tỏ ra cung kính, đề cập rằng nước Anh động binh vì giận ghét quan hiến tại Quảng Châu. Bèn dựa theo lời lẽ của họ, như thuận theo nước đẩy thuyền đi, sai Kỳ Thiện báo cho người Anh rằng Lâm Tắc Từ “ bị người lừa dối, thi hành không đúng, điều yêu cầu rửa nhục minh oan, đại Hoàng đế đã nghe, cần phải điều tra cho rõ, để trị nặng tội này ” ; riêng phái Khâm sai đại thần đến Quảng Ðông để làm rõ sự oan ức ; mệnh thuyền hạm trở về phía nam, để chờ xử lý. Riêng đối với những điều khoản đòi hỏi trong chiếu hội thì chưa ưng thuận, có thể còn muốn nấn ná chờ thương lượng thêm.


Kỳ Thiện căn cứ vào đó, để hội đàm với Charles Elliot tại Ðại Cô. Charles Elliot “thô lỗ, cường ngạnh” kiên trì đòi hỏi, nếu không được thì sẽ đánh. Kỳ Thiện ẩn nhẫn cho rằng về những điều như văn thư bình hành, cắt nhượng hải đảo xin để bàn tiếp sau ; còn về việc bắt nạp thuốc phiện, do Lâm Tắc Từ, Trịnh Ðình Trinh làm, triều đình không thể bồi thường. Rồi Kỳ Thiện lại trực tiếp báo cho Thống soái George Elliot [Ý Luật] rằng tương lai Khâm sai đại thần sẽ đến Quảng Ðông điều tra kỹ về việc bắt nạp nha phiến, sẽ có cách xử lý thỏa đáng. George Elliot, Charles Elliot cho rằng trên nguyên tắc đã đáp ứng yêu cầu của nước Anh, hơn nữa phía bắc khí hậu lạnh không tiện dừng lâu, quan quân tại Ðịnh Hải lắm bệnh, ngoại cảnh gian nan ; bèn chấp thuận trở về Quảng Ðông, trả lại Ðịnh Hải cho Trung Quốc, để đợi tiếp tục nghị bàn. Trung tuần tháng 9 hạm đội Anh rời Ðại Cô [Taku, Thiên Tân] hướng về phía nam. Tháng 11 George Elliot bị bệnh, giao nhiệm vụ cho Charles Elliot rồi trở về Luân Ðôn dưỡng bệnh.


Kỳ Thiện được giao chức Khâm sai đại thần, đến kinh đô trực tiếp tâu trình ; riêng Lâm Tắc Từ, Ðặng Ðình Trinh bị cách chức nghị xử. Khâm sai đại thần Y Lý Bố phụ trách quân vụ tại tỉnh Chiết Giang trước đó đã nói rằng chiến hạm Anh to lớn chắc dày, không thể chống cự ; lại nhân đã nghị hòa xong tại Thiên Tân, nên vào đầu tháng 11 cùng Charles Elliot bàn định xong việc đình chiến. Lâm Tắc Từ sau khi bị tội, vẫn ra sức tâu nha phiến đáng nghiêm trừng, người Anh dục vọng không chán, việc phòng biển không thể xem thường, cần phải tạo thuyền chế pháo ; lúc này vua Ðạo Quang tâm lòng nặng với hòa hoãn, nên chê rằng “lời tâu hồ đồ”.




3. Hòa đàm không kết quả


Kiến thức về quốc tế của Lâm Tắc Từ cố nhiên khiếm khuyết, nhưng Kỳ Thiện lại còn kém hơn. Ðiều hiểu biết về nước Anh của Kỳ Thiện, chỉ dựa vào lời thuật lại của viên Thiên tổng Bạch Hàm Chương, viên này hai lần lên chiến hạm Pháp tại cửa biển Ðại Cô ; kế đó là Bao Bằng, một kẻ từng buôn thuốc phiện với người Anh, được viên Tuần phủ Sơn Ðông [Shandong] giới thiệu đến.


Vào cuối tháng 11/1840, Kỳ Thiện đến Quảng Châu. Ðầu tháng 12 Kỳ Thiện sai Bảo Bằng đến đàm phán với Charles Elliot [Nghĩa Luật], viên này đòi hỏi phải chấp nhận điều ước của nước Anh đưa ra, nếu không sẽ đánh. Kỳ Thiện bằng lòng bồi thường một phần tiền nha phiến, giao thiệp hai bên bình hành, nhưng cự tuyệt việc cấp cho hải đảo. Bao Bằng cấp tốc đàm phán tiếp, Charles Elliot “ lời lẽ kiêu ngạo, hay la mắng, mỗi lần mở miệng thì đòi đánh ” . Kỳ Thiện hứa bồi thường tiền nha phiến, Charles Elliot tỏ rằng ngoài việc hỗ thị tại Quảng Châu nếu tăng thêm các cửa khẩu Hạ Môn, Ðịnh Hải, thì sẽ bỏ yêu cầu về hải đảo. Kỳ Thiện có ý ưng thuận, nhưng Bắc Kinh không chịu. Sau khi Kỳ Thiện đến Quảng Ðông, Ðạo Quang cho rằng quân Anh tại Ðịnh Hải chưa hoàn toàn triệt thoái hết, tàu Anh tại vùng biển Phúc Kiến qua lại, bắt binh đinh trên các thuyền chở gạo chở muối, lòng hung ác không ngừng, nhiều cách ngụy trá, nên mệnh Kỳ Thiện cật vấn Charles Elliot “ nếu như trả lại Ðịnh Hải, thì không phải mệt quân lính, đó là thượng sách ; nếu không chịu kềm chế, gây lắm chuyện, thì sẽ trù tính biện pháp.” Kỳ Thiện cũng nói quân Anh tỏ ra kiêu mạn hơn trước ; Ðạo Quang cho điều binh tăng viện Quảng Ðông, chuẩn bị đánh dẹp.


Phương cách của Kỳ Thiện ngược lại với Lâm Tắc Từ, đối với Charles Elliot tỏ tấm lòng thành và cũng muốn kéo dài thời gian. Charles Elliot cũng thấy được bụng dạ của Kỳ Thiện, nên quyết định đánh xong rồi thương nghị. Vào ngày 17/1/1841, quân Anh đột kích các pháo đài tại Ðại Giác, Sa Giác thuộc Hổ Môn [Humenzhen, Quảng Ðông] ; quân phòng thủ tử thương hơn 700, 11 binh thuyền bị thiêu hủy. Kỳ Thiện nhượng bộ, lập hiệp nghị sơ bộ với Charles Elliot được gọi là “Xuyên Tỵ thảo ước” bao quát cắt nhường Hương Cảng, bồi thương 600 vạn nguyên, hai nước giao dịch bình đẳng, khôi phục mậu dịch tại Quảng Châu, phóng thích người Anh bị bắt tại Chiết Giang [Zhejiang] ; quân Anh trả lại Sa Giác, Ðại Giác, cùng Ðịnh Hải. Charles Elliot đồng ý hòa vì cho rằng sau khi khôi phục mậu dịch, có thể chở về Anh số lượng trà 3000 vạn bảng [pound], chính phủ Anh có thể thu 300 vạn bảng tiền thuế ; có được Hương Cảng thì không cần các cảng khẩu khác, số tiền Hàng thương thiếu có thể do thương gia tự lo giải quyết ; hơn nữa quân Anh tại Ðịnh Hải bị bệnh tật chết nhiều, rút lui tại đó là đúng. Ngày 26/1, Hương Cảng chính thức vào tay người Anh. Sau đó Kỳ Thiện tiếp tục hội đàm với Charles Elliot, cho đến lúc nhận được chỉ dụ phải đích thân đánh dẹp, thì biết rằng không còn khả năng được phê chuẩn điều ước, nên cáo ốm không thương nghị thêm với Charles Elliot [Nghĩa Luật] nữa.


Vua Ðạo Quang muốn Kỳ Thiện đánh dẹp, lại nhận được tin không giữ được Ðại Giác, Sa Giác thì lại càng thêm giận dữ, bèn tuyên chiến với quân Anh vào ngày 27/1 ; mệnh Kỳ Thiện và Y Lý Bố tại Chiết Giang cùng tiến quân. Ba ngày sau được tin đã nhượng cho người Anh đất Hương Cảng, bèn phái thêm người cháu là Dịch Sơn làm Tĩnh nghịch tướng quân ; cùng Quân cơ đại thần Thượng thư bộ Hộ Long Văn, Ðề đốc Hồ Nam [Hunan] Dương Phương làm Tham tán đại thần đến Quảng Châu tăng viện ; cùng phủ nhận Xuyên Tỵ thảo ước. Lại cho rằng Y Lý Bố nghi ngờ sợ sệt, bèn sai một viên quan chủ chiến là Dụ Khiêm giữ chức Khâm sai đại thần, liệu biện việc đánh dẹp tại Chiết Giang ; ngoài ra trách Kỳ Thiện nặng nề, bắt giải về kinh cùng tịch thu tài sản ; sự trừng phạt còn nặng nề hơn đối với Lâm Tắc Từ.


Trong lần cuối hội đàm, thái độ của Kỳ Thiện khiến Charles Elliot nghi, y bèn ra tay hành động trước. Ngày 26/1, tức trước khi Bắc Kinh tuyên chiến một ngày, quân Anh tổng công kích Hổ Môn, pháo đài đều bị hủy hết, Ðề đốc Quan Thiên Bồi tử trận. Ngày thứ hai, pháo đài Ô Dõng tại Hổ Môn bị chiếm, quân phòng thủ bị bắt và giết hơn 1.000, số còn lại đào ngũ ; binh thuyền Anh tiến đến Hoàng Phố [Hoangpu, Quảng Ðông]. Ngày thứ ba, người mới nhậm chức Tham tán Dương Phương đến nơi, xin đình chiến. Charles Elliot cũng nhận định rằng quân số không đủ, tại Quảng Châu không có cấp chỉ huy tối cao, cũng đồng ý tạm đình chiến, khôi phục thông thương. Nhưng lòng quyết chiến của vua Ðạo Quang vẫn kiên định ; hai, ba lần sai Dịch Sơn tiến binh. Quân các tỉnh đến tham chiến, thì chỉ lo mưu lợi “ ngày ngày báo cáo tiêu dùng lương, tranh được cung ứng” còn việc được thua không lo đến. Ngày 21/5, khoảng 1700 quân thủy bộ lợi dụng ban đêm, sử dụng khoái thuyền đột kích, dùng hỏa tiển, ống phun lửa đánh hỏa công, cướp phá Di quán, làm quân Anh quẫn bách. Sáng hôm sau 2.400 quân Anh phản công, cả ba đạo quân của triều đình đều bị thua. Trong 4 ngày, các vị trí quan trọng tại Quảng Châu đều mất, ngoài thành lửa cháy ; Dịch Sơn chỉ huy 18. 000 quân đều rút vào trong thành, tình trạng tuyệt vọng cơ hồ muốn treo cờ trắng.


Charles Elliot cho rằng Quảng Châu là một thành lớn trù mật, quân Anh không nhiều, sau khi chiếm lĩnh sẽ bị dân coi là cừu địch phản kháng, khống chế không dễ ; giống như tiền lệ trước đây tại Ðịnh Hải. Hơn nữa Quảng Châu cách Bắc Kinh xa, triều đình nhà Thanh không cho là áp lực trực tiếp để khuất phục ngay ; chẳng bằng khôi phục thông thương, bắt bồi thường, đợi sau khi được viện binh từ Ấn Ðộ đến, sẽ vượt lên sông Trường Giang [Changjiang] tấn công. Ngày 27/5, Charles Elliot cùng đại biểu của Dịch Sơn đính lập điều ước như sau : Trong 6 ngày, Khâm sai đại thần Trung Quốc cùng quân lính rút ra khỏi thành 60 lý, nạp tiền chuộc thành 600 vạn, sau khi giao xong quân Anh rút ra khỏi Hổ Môn. Khi chưa giải quyết xong, không được đặt quân phòng thủ ; lại bồi thường tổn thất tại Di quán số tiền 30 vạn.


Qua một năm nay, nhờ sự cổ võ của Lâm Tắc Từ, nhân dân Quảng Ðông tham gia tổ chức đoàn luyện, tinh thần chống địch dấy lên. Lúc bấy giờ quân Anh kỹ luật không nghiêm, vào ngày 29/5 trên đường triệt thoái khỏi ngoại ô Quảng Châu xẩy ra cướp phá hiếp dâm ; nên khoảng 200 quân Anh bị hơn 1000 dân vây tại vùng Tam Nguyên Lý [Sanyuanli, Quảng Ðông] phía bắc thành. Ngày hôm sau, 2.000 quân Anh đến tiếp viện, dân chúng vẫn không chịu rút ; lúc bấy giờ mưa bão dấy lên, súng quân Anh bắn không hiệu quả, trong lúc giao tranh tử thương 20 người. Qua sự khuyên giải của viên Tri phủ Quảng Ðông mới được yên ; đó là lần thứ nhất dân Quảng Ðông có hành động trực tiếp chống quân Anh. Kế đó ban bố cáo văn “ Thệ diệt Anh nghịch ”, tinh thần cao, lòng tự tin mạnh ; rồi các tổ chức phản Anh lần lượt thành lập.


Quảng Châu điều ước nội dung hoàn toàn đầu hàng, nhưng Dịch Sơn tạo ra những lời che dấu, tâu lên triều đình rằng : thứ nhất Quảng Châu nhân dân cần phải bảo toàn, người Anh lại khẩn khoản xin “Ðại Hoàng đế ra ân, truy cứu tiền buôn thiếu, chuẩn cho sự thông thương, sẽ rút ra khỏi Hổ Môn, không dám gây sự”, nên tạm chuẩn theo điều xin. Hàng thương nợ tiền 600 vạn, tự trả được 200 vạn, số còn lại ngân khố cho mượn, rồi chia ra trả từng năm. Thứ ba rút ra khỏi thành Quảng Châu để lo đàn áp thổ phỉ, vả lại trời nóng mưa nhiều, không thể không chọn nơi đồn trú an doanh.


Người cầm quân cờ là vua Ðạo Quang, không hiểu rõ sự tình, lúc đánh lúc hòa khiến sự việc đến như vậy, nên cũng đành phải chấp nhận. Rồi mệnh rút quân tiếp viện tại Quảng Châu và duyên hải, coi như không có chuyện gì xẩy ra ; đâu có liệu rằng quân Anh chưa tha, lại trên đường mang đại quân tiến đến.




4. Chiến sự tiếp tục


Triều đình Bắc Kinh hẳn không bằng lòng việc làm của Kỳ Thiện, Dịch Sơn ; riêng về phía nước Anh, Charles Elliot [Nghĩa Luật] cũng bị chỉ trích vì không hoàn thành nhiệm vụ. Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng H. J. T. Palmerston [Ba Mạch Tôn] cũng nghiêm trách Charles Elliot không tuân huấn lệnh, vào ngày 30/4 nội các phủ nhận thảo ước, triệu hồi Charles Elliot ; cử Sir Henry Pottinger [Phác Ðỉnh Tra] làm Toàn quyền với sứ mệnh đòi nhiều tiền bồi thường, mở thêm các cửa khẩu, cùng giúp cho người Anh có nhiều tiện nghi, an toàn.


Sir Henry Pottinger rời nước Anh vào ngày 5/6/1841, đến Áo Môn vào ngày 10/8, đây là chuyến đi nhanh nhất từ Âu Châu đên viễn đông lúc bấy giờ. 10 ngày sau, quân Anh 3.500 người, xâm phạm phương bắc lần thứ hai. Bước thứ nhất đánh Hạ Môn [Xiamen, Phúc Kiến], Tổng binh Giang Kế Vân chết trận ; quân Anh phá pháo đài, lưu quân tại đảo Cổ Lãng, rồi tiếp tục tiến đến Ðịnh Hải [Dinghai, Chiết Giang]. Tại nơi này trong mấy tháng nay, viên Khâm sai đại thần Dụ Khiêm phụ trách tỉnh Chiết Giang tích cực đề phòng, quân số khoảng 7.000. Quân Anh 3 lần tấn công, 3 viên Tổng binh Trịnh Quốc Hồng, Cát Vân Phi, Vương Tích Bằng mãnh liệt chống cự, cuối cùng vì vũ khí thua sút, lần lượt trận vong, quân lính tổn thất 1.000 ; quân Anh tử trận khoảng 30 người. Ðịnh Hải thất hãm lần thứ hai vào ngày 1/10, tuy nhiên dân chúng không theo, người Anh chỉ kiểm soát được trong phạm vi 10 dặm xung quanh huyện thành, để làm chỗ dừng quân mủa đông, chờ đại binh tới. Vào ngày 10/10 quân Anh tiếp tục chiếm Trấn Hải [Zhenhai, Chiết Giang], Dụ Khiêm trầm mình tự tử, Tổng binh Tạ Triều Ân đánh đến cùng rồi chết. Ngày 13, quân Anh vươn tay chiếm lấy Ninh Ba [Ningbo, Chiết Giang], cướp bóc gian dâm, bị dân chúng chống đối bắt được hơn 40 quân Anh.


Sau khi Dụ Khiêm tuẩn nạn, vua Ðạo Quang sai người cháu khác là Ðại học sĩ, Thượng thư bộ Lễ Dịch Kinh làm Dương Uy tướng quân ; nhiệm vụ cổ võ hương dõng đoàn luyện tại vùng duyên hải, làm vững rào dậu tảo thanh vùng biển, hậu thưởng cho các thân sĩ quyên góp lương hướng ; chinh điều quân 9 tỉnh nhưng thực số chỉ 1 vạn 1 ngàn quân. Lại phái các đại viên đảm trách các chỗ quan trọng như Giang Tô, Thiên Tân và kinh đô, động viên lực lượng cả nước.


Dịch Kinh chần chừ dọc đường, hạch sách cung ứng, sau 4 tháng, tức tháng 2/1842, bắt đầu đến Thiệu Hưng [Shaoxing, bắc Chiết Giang]. Cũng như Dịch Sơn, Dịch Kinh không muốn đánh ; nhưng bị nhà vua thúc dục, không thể không đánh. Ngày 10/3, quân thủy lục 3 cánh cùng tiến, 1 cánh vào được thành Ninh Ba, nhưng bị đánh lui. Hơn 1200 quân Anh truy kích đến Từ Khê [Cixi, Chiết Giang], phía tây bắc Ninh Ba ; quân hai bên giáp lá cà, quân Thanh chết gần 1.000 trong đó có Phó tướng Chu Quí, phía quân Anh tổn thất hơn 20 người ; suốt mấy tháng chuẩn bị phản công, bị thất bại hoàn toàn.


Quân Anh sau khi được tăng viện, bèn bỏ Ninh Ba, Trấn Hải ; tấn công yếu địa Sạ Phố [zhapazhen] tại vùng vịnh Hàng Châu [bắc Chiết Giang]. Vùng này quân phòng thủ trên 6.000 người, nội bộ bất hòa, nghi kỵ người Hán. Vào ngày 8/5 quân Anh đổ bộ, lực lượng phòng thủ gồm quân Thiểm Tây [Shaanxi], Cam Túc [Gansu], và kỳ binh kháng cự, cuối cùng cũng không cứu được Sạ Phố. Quân Thanh tử thương hơn 600 người, dân chúng bị giết hơn 700 ; quân Anh 30 người chết trong đó có 1 Thượng hiệu 1, bị thương 62 người. Vào đầu tháng 6, Hải quân Anh đến cửa khẩu Ngô Tùng [Songjiang, Thượng Hải], tại đây quân phòng thủ khoảng 1 vạn người. Sáng ngày 16 bắt đầu đánh, qua 2 giờ đồng hồ, Tổng đốc Lưỡng Giang [Liangjiang] Ngưu Giám sợ hãi bỏ trốn, Ðề đốc Giang Nam Trần Hoa Thành trận vong ; Ngô Tùng, Bảo Sơn [Baoshan, Thượng Hải] đều mất, quân dân Thượng Hải bỏ thành chạy.


Quân Anh cho rằng vùng Hoa bắc quá lạnh, không tiện đóng quân lâu ngày, nên không mang quân chiếm Ðại Cô [Taku] ,Thiên Tân ; bèn đổi kế hoạch tiến chiếm vùng giàu có, tương đối ấm ngược theo sông Trường Giang [Chiangjiang], với ý đồ cắt đường giao thông nam bắc. Triều đình Bắc Kinh cũng lo lắng việc quân Thanh vào Trường Giang, ngăn cản lưu thông tại Vận Hà [Yunhy]. Mục tiêu quân Anh tấn công cũng chính là Trấn Giang [Zhenjiang, nơi giao điểm của Trường Giang và Vận Hà, cùng cố đô Kim Lăng [Nam Kinh, Nanjing]. Vào tháng 7 đại quân Anh gồm 50 tàu chiến, 10 chiếc thuyền máy, hơn 50 thuyền vận tải, 9.000 quân binh ngược theo sông Trường Giang. Quân Thanh tại ải Giang Âm [Jiangyin, Giang Tô] quan trọng ven sông Trường Giang bỏ chạy, quân Anh bình yên ngược sông đến Trấn Giang. Quân trú phòng tại Trấn Giang gồm 6.000 ; thành trong là quân Bát Kỳ 2 [Mãn Thanh], thành ngoài là Lục doanh [quân Hán]. Chỉ huy, Phó đô thống Hải Linh, nghe tin Ngô Tùng, Sạ Phố đã thất thủ ; bèn mang binh giết người Hán vì cho là Hán gian, khiến lòng người hoang mang. Ngày 21/7 hơn 6000 quân Anh, sau khi khắc phục thành ngoài, đánh thẳng vào thành trong ; cùng với 1500 quân Kỳ cận chiến, quân Anh bị chết hơn 170 người, quân Kỳ chết khoảng 600, dân chúng tử thương rất nhiểu, toàn thành bị đốt cướp, tan hoang Ðối ngạn với Trấn Giang là thành Dương Châu rất lo lắng, chấp nhận nạp 50 vạn tiền cho quân Anh, nên không bị chiếm lãnh. Nhưng dân tại Trấn Giang và Dương Châu [Yangzhou] vẫn không chịu khuất, tiếp tục chống cự ; vào ngày 4/8 quân Anh tiến bức Nam Kinh.


Hồ Bạch Thảo



Kỳ trước :


Chương 1 : Trung Anh tranh chấp khuếch đại trước chiến tranh nha phiến


Chương 2 : Lâm Tắc Từ cấm thuốc phiện







1 Thượng hiệu : thông thường Lục quân, Thủy quân lục chiến gọi là Colonel ; Hải quân gọi là Captain.


2 Bát kỳ : dưới triều Thanh, quân gốc Mãn Thanh có 8 sắc cờ, gọi là bát Kỳ ; riêng quân gốc Hán gọi là Lục kỳ.


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss