Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Cuộc vận động tự cường của Trung Quốc / Cuộc vận động tự cường của Trung Quốc (5)

Cuộc vận động tự cường của Trung Quốc (5)

- Hồ Bạch Thảo — published 23/03/2014 00:45, cập nhật lần cuối 12/04/2016 22:19
Biến đổi trong triều và tiếp tục mưu đồ tự cường [1884-1894]




Cuộc vận động tự cường
sau khi liên quân Anh, Pháp
đánh Bắc Kinh



Hồ Bạch Thảo





Chương cuối (5)

Biến đổi trong triều
và tiếp tục mưu đồ tự cường
[1884-1894]

dinhvien

Soái hạm Định Viễn của Trung Quốc bị quân Nhật
đánh chìm tại Uy Hải Vệ 2/1995 (nguồn : wikipedia)

1. Từ Hy Thái hậu mưu chính biến lần thứ hai


Trên 20 năm, kể từ năm 1861, Trung Quốc trải qua nội loạn, ngoại ưu ; sở dĩ tồn tại được nhờ tổng đốc, tuần phủ tại địa phương chấn tác, các quan đại thần tại trung ương phối hợp ; riêng Từ Hy không phải là người duy nhất giữ quyền lực, nên không thể một mình lộng hành. Trọng yếu hơn, liệt cường có liên quan đến vận mệnh Trung Quốc thì quyền lợi bất đồng, nên tìm cách khiên chế lẫn nhau, không một nước nào được tự do hành động. Từ Hy vốn là người ghét ngoại quốc, có thuyết cho rằng khi quân Anh, Pháp tiến công vào Bắc Kinh, bà chủ trương tiêu diệt ; cho đến lúc hoà đàm xong, còn khuyên vua Hàm Phong giao chiến. Sau khi vua Hàm Phong mất, đoạt được chính quyền, không thể không dùng Cung Thân vương, người mà ngoại quốc có cảm tình. Cung Thân vương đề xướng chính trị đổi mới, phần lớn do ngoại quốc khuyên, bà không thể không giáng chỉ chấp thuận. Nhưng cuối cùng Cung Thân vương không đáp ứng được lòng mong muốn quyền lực của bà, nên tìm cách đè nén, rồi truất đi càng nhanh càng tốt.


Người em cùng cha khác mẹ với Cung Thân vương là Thuần Thân vương Dịch Vi, bản tính bộc trực ; đối với quyền thế của Cung Thân vương không khỏi đố kỵ, lại càng bất mãn hơn về cách ứng phó đối ngoại. Năm 1869 từng chủ trương xua đuổi Ngoại dương, khích lệ thân hào dân chúng, phá huỷ giáo đường Thiên Chúa giáo ; truyền rằng vụ án về tôn giáo tại Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc] do ông xui bẩy. Sau đó triều đình trừng phạt hung phạm, bồi thường ngoại quốc, nên giận xin từ chức ; bài xích rằng “ các quan cúi đầu thuận theo Tây dương, cảm thấy sỉ nhục phải đứng chung hàng ”. Lại ám chỉ Cung Thân vương, bảo rằng “ muốn tận đạo quân thần, thì tổn thương tình anh em ; muốn tận tình anh em, thì mất quân thần đạo nghĩa . Từ Hy muốn dùng ông ta để đối kháng với Cung Thân vương nên an ủi lưu giữ, khiến Cung Thân vương cảm thấy rất bất an.


Quang Tự nối ngôi, Thuần Thân vương tỵ hiềm xin thôi chức. Cung Thân vương cũng bảo rằng trước kia là cha và con, nay là bề tôi với vua, tại triều lễ tiết bất tiện, nên cho nghỉ việc ; ý kiến này cũng do trong lòng muốn gạt bỏ quyền lực của Thuần Thân vương. Nhưng Thuần Thân vương ở địa vị cha vua, vô hình trung ảnh hưởng vẫn lớn. Từ Hy với dụng ý lung lạc, mỗi khi gặp những việc lớn về ngoại giao, đều mệnh Thuần Thân vương tham dự ; lời nói của ông thường có tính cách quyết định. Năm 1876, Văn Tường bị bệnh mất ; Cung Thân vương đơn độc thế cô. Năm 1880, viên Thái giám của Từ Hy mang đồ vật cấm ra khỏi cung, ẩu đả với quân phòng thủ, Từ Hy đòi trừng trị tên quân này, bị Cung Thân vương kịch liệt phản đối, mối hiềm khích càng sâu. Từ An Thái hậu bình thời không tham gia chuyện phải trái, nhưng gặp việc mâu thuẫn trọng đại thì đứng giữa điều giải ; năm 1881, Từ An mất, sự tranh chấp giữa Từ Hy và Cung Thân vương không còn có lực cản.


Cung Thân vương tuổi trên 50, trong lòng thường lắm chuyện lo, không còn hào khí như thời trung niên ; nên muốn hoà hảo với Từ Hy cho được việc. Rồi vấn đề Việt Nam, hấn khích giữa Trung Pháp xẩy ra, lời thanh nghị xôn xao. Từ Hy và Thuần Thân vương không hộ trì, trăm mũi tên dư luận đều nhắm vào Cung Thân vương và Lý Hồng Chương ; cả hai lâm vào cảnh nhìn trước ngó sau, cầm quân cờ không định chỗ, lúc chiến lúc hoà. Từ Hy trách cứ “ biên phòng không nghiêm, các quan nơi cương giới lần lữa, kho đụn không hư, việc phòng biển chỉ hình thức bề ngoài ”. Vào ngày 8/4/1884 Cung Thân vương và toàn thể Quân cơ đại thần bị khiển trách, cách chức. Thay vào đó là Lễ Thân vương Thế Ðạc, và những người thân tín của Thuần Thân vương như Thị Lang bộ công Tôn Dục Văn. Thuần Thân vương không phải là người rành về con đường thực hành, Lễ Thân vương lại càng u mê không hiểu việc đời, quyền lớn rơi và tay Tôn Dục Văn ; từ đó mọi việc đều qua tay Từ Hy ; “ hối lộ công khai, phong khí ngày một bại hoại ”. Trước đây đảng Thanh Lưu thường dương cao luận đàm, vua tôi còn chút tư lự ; hiện tại người đứng đầu đng là Lý Hồng Tảo bị truất, bọn Trương Bội Luân, Trần Bảo Sâm sắp mất chức. Sau chiến tranh Trung Pháp 9 năm, trong nước không có chiến loạn trọng đại, nhưng mọi việc đều bị buông bỏ.


Tổng thự và Quân cơ xứ là hai cơ quan song hành, trước kia phần lớn Ðại thần tại Tổng thự kiêm nhiệm Quân cơ xứ, tuy hai mà một ; nay Tổng thự trở thành lệ thuộc Quân cơ xứ. Dịch Khuông một thành viên Tổng thự đề xuất rằng Dương vụ lãnh công việc đối ngoại, là rường mối then chốt về chính trị, trọng dương vụ phải trọng thị Tổng thự, quyền của Tổng thự không thể khinh, bởi vậy cần theo nếp cũ Quân cơ xứ kiêm nhiệm Tổng thự, không thể cải đổi. Nhưng Từ Hy và Thuần Thân vương không cho là phải ; trong vòng 10 năm (1884-1894), chỉ có 2,3 thành viên Tổng thự kiêm nhiệm Quân cơ xứ. Cho đến khi chiến tranh Trung Nhật xẩy ra (Giáp Ngọ 1894) Cung Thân vương được phục chức, thì mối quan hệ giữa Tổng thự và Quân cơ xứ mới được tái phục hồi.


Từ Hy Thái hậu và Cung Thân vương lúc hoà lúc đấu tranh, bề ngoài tuy hoà hợp nhưng bên trong chia lìa, còn có thể hợp tác với nhau hơn 20 năm trời ; nhưng Thuần Thân vương cộng sự không lâu, thì sinh xung khắc. Từ Hy tiêu xài vô độ, ham lợi và đồ vật quý ; Thuần Thân vương nhiều lần khuyên bảo, nên dần dần Từ Hy sinh ghét. Tháng 3/1889, Quang Tự đích thân lo việc chính trị, nhưng chịu sự giám sát của Từ Hy. Năm sau, Thuần Thân vương bị bệnh nặng, không phục hồi được ; lại một lần nữa việc nước được trao trở lại cho Cung Thân vương cáng đáng.




2. Thành lập Bắc dương hạm đội



Năm 1875 hưng lập hải quân, do ý định đối địch với Nhật Bản, nước Ðông phương mới hưng thịnh. Năm 1882 Lý Hồng Chương nhận định Nhật Bản từng bước tiến bức bách, còn thuyền của Trung Quốc chỉ giữ các bờ biển, khó có khả năng quyết chiến ngoài khơi, vả lại chia nhỏ ra đóng tại các tỉnh, hiệu lệnh bất nhất, không bằng Nhật Bản giao cho hải quân tiết chế, hô ứng nhất khí ; so vậy sự thắng bại khó có thể đảo ngược được. Ngoại trừ những thiết giáp hạm đã đặt từ nước Ðức như Ðịnh Viễn, Trấn Viễn ; cần phải mua thêm các thuyền chạy nhanh phụ tá, trung khu và địa phương cùng hợp mưu, thì cục diện mới thành. Hơn năm sau xin thống nhất cơ cấu hải quân, lập bộ hải quân, đặt Bắc dương Thuỷ sư đề đốc, mời Sĩ quan Tây phương giúp. Lúc bấy giờ chiến tranh Trung Pháp xẩy ra, hành quân trên bộ có thắng, có thua ; riêng trên biển thì một lần nữa thất bại ; sau chiến tranh đau buồn về sự thua sút, bèn quyết định chấn chỉnh thuỷ sư, tiếp tục mua sắm thuyền chạy nhanh. Ngày 20/10/1885 (Quang Tự thứ 11) thiết lập hải quân nha môn, mệnh Thuần Thân vương Tổng lý, Khánh Thân vương cùng Lý Hồng Chương làm Biện lý, Ðô thống Hán quân Thiện Khánh, Thị lang bộ binh Tăng Kỷ Trạch làm Bang biện lý ; tất cả hải quân đều thống nhất điều khiển, trước hết luyện chi Bắc dương, do Lý Hồng Chương phụ trách. Tháng 11, nhóm học viên hải quân thứ ba đến Anh ; ba tàu Ðịnh Viễn, Trấn Viễn, Tế Viễn về đến Ðại Cô [Dagu, Thiên Tân].


Trước khi hải quân nha môn thiết lập 2 ngày, Lý Hồng Chương đánh điện thúc dục Trung tá hải quân William M. Lang từ nước Anh trở lại. Viên Tổng thuế vụ Robert Hart sợ quyền lực hải quân Trung Quốc rơi vào tay Ðức, Pháp, nên cũng điện khẩn thúc dục. William M. Lang yêu cầu áp dụng quy chế Anh, mướn chuyên viên Anh để huấn luyện ; được Lý Hồng Chương đồng ý, nên vào tháng 3/1886 đến Thiên Tân. Tháng 5, Thuần Thân vương và Lý Hồng Chương duyệt hải quân thao luyện, Lý tỏ ra lạc quan, William M. Lang được nhận hàm Ðề đốc. Tháng 8, hạm đội Bắc dương tuần tiễu dọc theo duyên hải Triều Tiên, đến vùng biển Nagasaki [Trường Kỳ, Nhật], xung đột với quân tuần phòng Nhật Bản, cả hai bên đều tử thương. William M. Lang xin khai chiến với Nhật, nhưng Lý Hồng Chương cho rằng không thể được, rồi cấp tiền phủ tuất cho yên việc. Có thuyết cho rằng nếu như theo lời William M. Lang, quyết hành động để bẻ gãy hạm đội Nhật Bản lúc đó ; còn đợi đến sau này, thế hải quân Trung Nhật mạnh yếu xa cách nhau, thì không còn hy vọng. Năm 1887, 4 quân hạm có vận tốc nhanh Trí viễn, Tĩnh Viễn, Kinh Viễn, Lai Viễn từ Anh, Ðức đem về. Tháng 2 năm sau hoàn thành Bắc dương hải quân, Ðinh Nhữ Xương giữ chức Ðề đốc ; Lâm Thái Tăng, Lưu Bộ Chiêm, từng du học Anh trước kia, giữ chức Tả, Hữu dực Tổng binh, chỉ huy các hạm đều là du học sinh tại Anh. Ngoại trừ cảng Ðại Cô đã làm xong, các cảng Lữ Thuận [Lushun, Liêu Ninh], Ðại Liên [Dalian, Liêu Ninh], Uy Hải Vệ [Weihaiwei, Sơn Ðông] đều được xây dựng bố trí.


Bắc dương hạm đội có 22 binh thuyền lớn nhỏ, trong đó 11 chiếc mua tại nước Anh, 5 chiếc mua tại Ðức, kỳ dư tự đóng lấy, lại còn một số ngư lôi đỉnh. Tất cả trọng tải khoảng 4 vạn tấn, 120 cỗ pháo, quan binh hơn 4000 người ; có 2 chiến hạm Ðịnh Viễn, Trấn Viễn lớn nhất, mỗi chiếc trọng tải hơn 7.000 tấn ; thứ đến 5 chiếc như Kinh viễn, Lai Viễn vv.., mỗi chiếc trọng tải hơn 2.000 tấn.


Tháng 3/1891 tổ chức xét duyệt hải quân tại cảng Lữ Thuận do Tổng đốc Trực Lệ Lý Hồng Chương chủ trì, thành phần tham dự gồm 3 hạm đội : Bắc dương với 12 chiến hạm như Định Viễn, Nam dương với 6 chiến hạm như Hoàn Thái, Quảng Đông với 3 chiến hạm như Quảng Giáp. Cuộc xét duyệt nhắm thao diễn trận pháp, súng pháo ngư lôi ; khám pháo đài, ụ tàu. Trong lần xét duyệt này Lý Hồng Chương tuyên bố căn cứ tàu thuyền tại Lữ Thuận đã hoàn thành, quân hạm có chỗ về trú đóng, các pháo đài tại Ðại Liên, Uy Hải Vệ sắp xong, trang bị hải quân mỗi ngày một mới. Nhưng thực tế tình hình không đúng như Lý nói. Trước mắt bộ hộ trù liệu ngân sách khó khăn, phải cắt giảm các doanh quân, cũng trong năm này bộ Hộ tâu xin đình chỉ mua tàu và pháo súng trong vòng 2 năm. Những viên chức thân cận khuyên Lý Hồng Chương bác, không kể có chấp nhận hay không cũng trình bày được nguyện vọng ; nhưng Lý không theo, sợ trái ý Từ Hy.


Hải quân thiếu lương hướng, nguyên nhân không phải chỉ có một. Từ Hy sử dụng nhiều tiền cho việc xây dựng vườn ngự uyển, đình, tạ, quan hệ rất lớn. Sau khi bãi bỏ tu sửa vườn Viên Minh, lại bàn đến việc tu bổ vườn Tam Hải nơi cấm thành. Lý Hồng Chương lo phát triển hải quân Bắc dương là để làm vững cửa nhà cho kinh sư, Thuần Thân vương ý muốn nắm lấy để du di một phần tiền xây dựng Tam Hải, nhắm thoả lòng Từ Hy. Vào năm 1886, dặn Lý lấy danh nghĩa xây dựng trường huấn luyện thuỷ quân tại kinh sư, mượn một số tiền 100 vạn lượng dùng cho Tam Hải, rồi khai chi vào kinh phí hải quân. Tam Hải không làm cho Từ Hy vừa lòng, định phỏng theo quy mô lớn của vườn Viên Minh xây dựng vườn Di Hoà. Tháng 3/1888 chính thức tuyên bố xây dựng, 3 năm sau hoàn thành, số tiền lấy từ ngân sách hải quân. Không biết chắc kinh phí bao nhiêu, có thuyết cho rằng trên 3.000 vạn lượng, nhưng trong thời gian xây dựng và những năm sau đó, hải quân xin tăng binh thuyền mà không có kinh phí để thực hiện.


Vấn đề nhân sự cũng là căn bệnh khác của Bắc dương, chức vụ trọng yếu đều do người làng của Lý Hồng Chương và thuộc hạ cũ nắm giữ. Ðinh Nhữ Xương không am hiểu về hải quân, các cấp từ Tổng binh trở xuống không tỏ vẻ kính sợ. William M. Lang có sở trường, nhưng rất tự phụ. Lần thứ nhất đến nhậm chức tổng tra hải quân, thì tranh quyền chỉ huy ; lần thứ hai đến tuy cần cù với chức vụ nhưng rất kiêu căng, tự coi như Ðề đốc, kỵ hiềm với Lưu Bộ Chiêm. Vào năm 1890, Hạm đội Bắc dương đi tuần ghé Hương Cảng, Ðinh Nhữ Xương có việc phải lên bộ, những người dưới quyền như William M. Lang, Lưu Bộ Chiêm, Lâm Thái Tăng đều treo cờ Ðề đốc, Tổng binh trên chiến hạm, không ai chịu nhường ai. Sự việc đưa ra, Lý Hồng Chương bênh vực Lưu, Lâm, nên William M. Lang từ chức. Chính phủ Anh chống lại Lý, không chịu đưa người khác thay thế, triệu hồi nhân viên Anh làm việc tại Lữ Thuận, thậm chí không nhận hải quân lưu học tại Anh. Quân Bắc dương kỷ luật mỗi ngày một bại hoại, quan sống với vợ trên bờ, lính cũng rời thuyền du hý, tham ô quân hướng, Ðinh Nhữ Xương bất lực không giải quyết được.



3. Kiến thiết tại Đài Loan



Nhật Bản phạm Ðài Loan khiến Trung Quốc phòng biển trở nên tích cực, dư luận trong nước càng chú trọng đến Ðài Loan. Ðứng về mặt địa lý, Ðài Loan quan hệ đến phòng biển rất nhiều ; việc xẩy ra tại Ðài Loan, dao động đến toàn duyên hải. Chính sách tiêu cực mấy trăm năm, quyết không thể ứng phó với tình trạng trước mắt và sau này. Tuần phủ Thẩm Bảo Trinh, người từng có mặt nơi này nói : “ Chúng (Nhật Bản) rút, ta càng nên tu bị, thì chúng chịu yên mà đi ; chúng rút ta cũng buông lơi, thì sẽ thừa lúc sơ hở mà tới. Ðất Ðài Loan phì nhiêu, trước đây những dân tộc khác đã thèm nhỏ dãi ; nay tuy ngoại hoạn tạm bình, nhưng người ngoài đang dòm ngó. Mấy năm gần đây rắc rối với ngoại dương càng nhiều, nhưng chỉ chú trọng đến phía đông nam, Ðài Loan lẻ loi ngoài biển, 7 tỉnh coi là cửa ngõ, sự quan hệ không phải nhỏ ”. Lúc Thẩm mới đến Ðài Loan, cho xây cất pháo đài ; sau này những người kế nhiệm tu bổ thêm, làm kế trị an lâu dài.


Thẩm Bảo Trinh chủ yếu thi thố gồm : thứ nhất, khai thông đường sá và chiêu phủ thổ dân để dẹp bỏ mối lo bên trong. Khai thông đường sá bao gồm việc xây đồn trại, khiến giao thông tiện lợi an ninh. Chiêu phủ thổ dân để dân lương thiện yên ổn làm ăn, bình định hung nghịch, xây dựng trường học. Thứ hai, bãi bỏ lệnh cấm dân di cư đến Ðài Loan, lập cục khẩn hoang ; người dân di cư được cấp lương ăn, trâu cày, nông cụ, hạt giống. Thứ ba, tăng đặt quận huyện, nguyên có 1 phủ, 4 huyện, 3 sảnh ; nay đặt thêm 1 huyện tại phía nam, 2 sảnh tại miền trung, và 1 phủ, 3 huyện, 1 sảnh tại phía bắc. Thứ tư, thi hành chính sách mới về khai khoáng và dùng thuyền máy. Trước khi Thẩm đến Ðài Loan, đã sai người khám mỏ than Cơ Long [1868] ; sau khi đến lại mời chuyên viên Anh điều tra thêm, và mua đặt cơ khí. Ngoài ra còn đặt thuyền máy hàng hành Ðài Loan, Phúc Kiến, chuẩn bị dùng Ðài Loan làm cơ sở cho Nam dương hạm đội; những sự việc nêu trên thực hành vào năm1874-1875.


Kế tục Thẩm Bảo Trinh kinh doanh Ðài Loan, chủ yếu là Ðinh Nhật Xương [丁日昌]. Năm 1875, Ðinh giữ chức Tuần phủ Phúc Kiến, hầu như đem toàn lực trù hoạch kiến thiết Ðài Loan. Ðinh mua thuyền bọc sắt, luyện quân đặt thuỷ lôi, lập pháo đội, tạo pháo đài, mở đường sắt, lập điện tuyến. Mỏ khoáng tại Cơ Long đã bắt đầu khai thác, lại tiếp tục mời thương nhân khai thác lưu huỳnh, dầu lửa, sắt, trà. Tuy nhiên ngân khoản không đủ, Lý Hồng Chương khuyên Ðinh chuyên về xây đường, điện thoại, khai thác mỏ khoáng.


Người đầu tiên đặt cơ sở để lập tỉnh tại Ðài Loan là Thẩm Bảo Trinh, nhưng 10 năm sau do chiến tranh Trung Pháp đưa đẩy, mới bắt đầu thực hiện. Trong thời gian chiến tranh này, người phụ trách Ðài Loan là Lưu Minh Truyền có quan niệm rất tiến bộ ; tháng 10/1884 được chỉ định giữ chức Tuần phủ Phúc Kiến. Sau khi chiến tranh Trung Pháp vừa chấm dứt, Lưu xin nghỉ chức, để chuyên kinh doanh về Ðài Loan. Trung khu và Lý Hồng Chương rút kinh nghiệm về cuộc chiến, quyết tâm chăm lo việc phòng biển, một mặt ra lệnh Lưu Minh Truyền lưu tại Ðài Loan, một mặt họ Lý cho mua thêm tàu thiết giáp chạy nhanh. Năm 1885 lập Hải quân sự vụ nha môn, cùng lúc đổi Ðài Loan thành tỉnh, cử Lưu làm Tuần phủ đầu tiên của tỉnh này.


Lưu Minh Truyền hy vọng kiến thiết Ðài Loan thành một tỉnh kiểu mẫu, xây dựng cơ sở phú cường. Chính sách của Lưu dùng, so với những người tiền nhiệm như Thẩm Bảo Trinh, Ðinh Nhật Xương không khác bao nhiêu, nhưng thành tựu vượt quá hai người. Trừ việc cải tiến kinh tế, giáo dục của thổ dân, điều chỉnh khu vực hành chánh ; ngoài ra còn đạt được những điều sau đây :


Thứ nhất, chỉnh đốn tài chánh, thanh lý đất đai, định thuế má ; khiến những người phú hào không chiếm bá quyền, quan lại không tìm cách vơ vét, nhân dân gánh vác công bình. Tiền thuế Ðài Loan trước kia 18 vạn lượng, nay đạt được 67 vạn lượng ; tiền của Ðài Loan đủ cho tỉnh này chi dùng.


Thứ hai về mặt quân sự, biên chế huấn luyện hạm đội, tuy sức lực chưa đủ hoàn thành, nhưng trên bộ tăng cường mạnh, xây dựng pháo đài kiểu mới, trên đặt đại pháo Âu Tây, phối hợp với thuỷ lôi. Quân phòng thủ đều sử dụng súng Tây phương, mời các chuyên viên Tây phương đến giảng tập, cùng lập cục cơ khí.


Thứ ba, hưng biện giao thông ; lập kế hoạch đường sắt từ Cơ Long [Jilong] phía bắc, xuống đến Ðài Nam [Tainan, Ðài Loan] phía nam. Từ Ðài Bắc [Taibei, Ðài Loan] đến Cơ Long hoàn thành năm 1891. Hai năm sau làm xong tuyến Ðài Bắc, Tân Trúc [Xinzhu, Ðài Loan] dài 60 dặm Anh. Ðặt thêm 8 chiếc thuyền máy, hàng hành Hương Cảng, Thượng Hải, Nam Dương. Ðiện tuyến liên tiếp phát triển nam bắc, đến Phúc Châu, Bành Hồ, bưu chính cũng theo đó mở mang ; các công trình này thực hiện tương đối sớm hơn trong đất liền. Mỏ khoáng tại Cơ Long, dùng cơ khí mới khai thác ; lại lập cục than dầu. Về nông nghiệp, đề xướng thuỷ lợi, trồng trà, trồng bông, trồng dâu. Về thương nghiệp, mời Hoa Kiều tại Nam Dương đầu tư, tưởng lệ đối ngoại mậu dịch, xây bến cảng tại Ðài Bắc, xây đèn điện.


Thứ tư, lập học đường về công nghệ. Những nhân tài cần thiết cho việc kiến thiết, lúc đầu dùng người Tây phương, nhưng kế trường cửu phải dựa vào giáo dục. Trước hết lập trường điện báo, thứ đến lập trường Tây học, mời các thầy Anh, Ðan Mạch đến dạy. Lúc này trên toàn quốc chỉ mới có 4 tỉnh thành lập trường Tây học, Ðài Loan là tỉnh thứ năm.


Qua 6 năm [1885-1891] tích cực kinh doanh, Ðài Loan từng bước tiến trước. Cuộc vận động tự cường của Trung Quốc đã trải qua 30 năm, Lưu Minh Truyền là người rất nỗ lực ; trong 25 tỉnh, Ðài Loan trở nên rất quy mô.



4. Kinh doanh đường sắt và trở ngại



Kế hoạch về đường sắt do Lưu Minh Truyền đề ra năm 1880 tuy bị ngăn cản, nhưng Lý Hồng Chương không muốn bị gác bỏ lâu dài, nên tìm cách giải thích và thuyết phục triều đình. Trước hết Lý thuyết phục Thuần Thân vương, để giúp ảnh hưởng đến Từ Hy Thái hậu. Thuần Thân vương muốn trước hết làm thử tại vùng khai mỏ khoáng và các nơi trú quân phòng thủ cửa biển, sau đó mới phát triển rộng ra. Lý Hồng Chương cũng lấy lý do thuận tiện chuyển quân, xin xây đường sắt dọc theo Vận Hà, và từ kinh sư đến Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc]. Năm 1883 Lý Hồng Chương được điều trở lại chức Tổng thự, ra sức trình bày rằng muốn phú cường không thể bỏ đường sắt : “ Nếu dưới nước có tàu bọc sắt, trên bộ có đường sắt, thanh vọng đất nước bắt đầu dấy lên, người nước ngoài không dám khinh rẻ hiếp bức ”. Chẳng bao lâu chiến tranh Trung Pháp xẩy ra, lúc này không rảnh để bàn thêm. Ðến lúc Thuần Thân vương giữ việc chính trị, nhân bàn về hải quân, Lý đề cập đến đường sắt. Năm 1886 Công trình sư C. W. Kinger phụ trách đường sắt Ðường Tư 1, kiến nghị với Lý Hồng Chương từ đường sắt Ðường Tư chia đường phát triển. Lý được Thuần Thân vương đồng ý, cho thiết lập công ty đường sắt Khai Bình [Kaiping, Hà Bắc], giao cho Ngũ Ðình Phương, từng du học tại nước Anh, làm Tổng lý. Ðường sắt từ xã Tư Các [Xuge, Hà Bắc] theo hướng tây đến huyện Diêm [Yan, Hà Bắc] dài đến 20 dặm Anh. Sau khi khai công, năm 1887 Thuần Thân vương bàn với Lý Hồng Chương kéo dài đến Ðại Cô [Dagu, Hà Bắc], Thiên Tân ; tương lai hướng đông đến Sơn Hải Quan [Shanhaiguan, Hà Bắc] để củng cố biên phòng đông bắc. Ðường này do quan chỉ huy, thương gia làm, nhân dịp này đổi Khai Bình thiết lộ công ty thành Trung Quốc thiết lộ công ty. Do kêu gọi cổ phần không đủ, nên phải vay tiền các nước Anh, Ðức để làm ; tháng 10/ 1888, thông xe toàn đường, dài 85 dặm Anh. Lý Hồng Chương thử đáp tàu, rất lấy làm hưng phấn ; lúc này thiết lộ tại Ðài Loan cũng đồng thời kiến tạo .


Sau khi tuyến đường sắt Ðường Tư hoàn thành, năm 1881 Công sứ Anh yêu cầu Trung Quốc nếu như xây đường sắt khác, sẽ cho mượn tiền. Chẳng bao lâu Pháp, Mỹ, Ðức cũng có lời xin như vậy. Công trình từ Ðường Sơn, đến Thiên Tân, Ðại Cô do Công trình sư C. W. Kinger phụ trách, áp dụng quy chế của Anh, nên thực tế Anh đã chiếm quyền ưu tiên. Sau khi thông xe, Lý Hồng Chương xin xây đường từ Thiên Tân đến Thông Châu gần kinh đô [Tongzhou, Bắc Kinh], đặt tên là Tân Thông thiết lộ, mượn ngân khoản từ nước Anh. Ðể cho Từ Hy và Quang Tự được đích thân xem đường sắt, trước hết cho làm một đường sắt nhỏ trong kinh đô dài 2 dặm, đây là điều rất khổ tâm, để mong được vừa lòng. Tuy vậy cũng không lấp được những lời phản đối, dẫn đến sóng gió mạnh vào tháng 1/1889. Sự phản đối bắt đầu từ mấy vị ngự sử với những lý do lớn như đường sắt có hại cho nước, cho dân, chỉ có lợi cho người Tây dương ; một khi đường sắt thành, vị trí hiểm yếu núi sông mất hết, Thông Châu gần kinh sư, quyết không nên xây dựng. Chính vào lúc này, trong cung bị cháy, lại cho rằng ý trời muốn trừng phạt, chứng tỏ không nên làm đường sắt là điều hiển nhiên. Những người có địa vị lớn trong chính phủ như Ông Ðồng Hoà, Tôn Gia Nãi, cùng Quân cơ đại thần Tôn Dục Văn, khoảng mấy chục người, cũng đồng thanh xin đừng xây dựng. Có những kẻ phản đối vì bất đồng chính kiến với Lý Hồng Chương, như Ông Ðồng Hoà, Tôn Dục Văn vv… cùng có những người dựa vào lưu thông trên Vận Hà kiếm lời, sợ xe lửa giành khách hàng, mất nguồn thu nhập. Chiếu chỉ mệnh nha môn hải quân và Quân cơ đại thần bàn bạc, cùng ra lệnh đương cục quan trọng tại duyên hải trù tính. Rồi Lưu Minh Truyền lên tiếng bảo vệ đề nghị trước, Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Chi Ðỗng nêu lên phương án mới.


Phương án của Trương Chi Ðỗng xin hoãn xây Tân Thông thiết lộ, xin xây đường sắt Lô Hán, từ Lô Câu Kiều [Lugouqiao, Bắc Kinh] đến Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc] xuyên qua vùng giữa Trung Quốc, kể từ nam đến phía bắc; khiến hàng hóa dễ dàng xuất, cơ giới có thể nhập ; không chỉ lợi thương, lợi công, mà thực phẩm sản xuất có thể chuyển đi xa, nhà nông cũng được lợi, Trương trình bày : “ Mối lợi của đường sắt, trước hết lợi dân, khi lợi dân đã thấy, thì mối lợi quốc gia từ đó sinh ra. Cái lợi lớn của quốc phòng còn ở chỗ điều quân, chuyển lương thực nữa.”


Lập luận của Trương trọng điểm nhắm vào dân sinh kinh tế, thứ đến là quốc phòng ; riêng Lý Hồng Chương chỉ chú ý đến vấn đề thứ hai. Ngoài ra Trương phản đối Lý có ý định mượn tiền ngoại quốc, Trương chủ trương thu thuế để xây đường sắt. Cuối cùng triều đình có quyết định chiết trung, lấy ngân khoản từ cổ phần thương gia, quan thu và tiền vay ngoại quốc ; cho thi công từ hai phía bắc và nam. Năm 1889, điều Trương Chi Ðỗng làm Tổng đốc Lưỡng Hồ phụ trách phía nam ; mệnh Lý Hồng Chương cùng nha môn hải quân liệu biện từ phía bắc. Nhưng kế hoạch của Trương Chi Ðỗng không thể thành công trong giai đoạn ngắn ; Lý Hồng Chương cũng kém nhiệt tâm, nhân vụ tu tạo đường sắt Tân Thông bị bãi, chương trình đường sắt Lô Hán cũng bị gác bỏ.


Những năm tiếp theo, Nhật Bản dòm ngó Triều Tiên rất nhiều, nước Nga lại bàn việc xây dựng đường sắt Tây Bá Lợi Á ; khiến Trung Quốc phải chú trọng đến việc biên phòng miền đông bắc. Năm 1990, Lý Hồng Chương bàn về Triều Tiên ; điều thứ nhất cần phải xây tiếp đường sắt để tiện tiếp tế ; lộ tuyến từ phía đông Ðường Sơn qua Sơn Hải Quan,Thẩm Dương [Shanyang, Liêu Ninh], rồi đến Cát Lâm [Jilin, Liêu Ninh], gọi chung là đường sắt Quan Ðông 2. Năm 1891, cử Lý Hồng Chương đốc biện đường sắt này, cũng chính năm này, nước Nga xây đường sắt Tây Bá Lợi Á. Nước Pháp xin làm đường sắt Quan Ðông ; Tổng thự chấp nhận thương gia Pháp cung cấp đầu máy cùng thiết bị. Chương trình đường sắt Lô Hán bị hoãn, lấy tiền dự chi mỗi năm 200 vạn lượng, để cung cấp cho đường sắt Quan Ðông, dùng chuyên viên Anh C. W. Kinger làm Công trình sư. Nước Nga không muốn Trung Quốc xây đường này, lại sợ thế lực người Anh xâm nhập miền đông bắc, nên tìm cách gây trở ngại. Năm 1892, từ Ðường Sơn xây đến Sơn Hải Quan, năm sau đến Tuy Trung [Suizhong, Hà Bắc] phía ngoài Sơn Hải Quan ; rồi chiến tranh Trung Nhật phát sinh, đường sắt nhất luật đình chỉ. Cho dù ra sao thì đường sắt từ Thiên Tân đến vùng phụ cận Sơn Hải Quan đã thông xe, là đường dài nhất của Trung Quốc vào năm 1894, khoảng 200 dặm Anh ; trải qua nhiều trắc trở, có được nó cũng không dễ.


Riêng chương trình đường sắt Lô Hán, năm Quang Tự thứ 31 [1905] phải mượn thêm số tiền 125 vạn Phật lăng, rồi đến hơn một năm sau mới hoàn thành. Đường sắt này dài gần 3.000 lý [1.500 km], phải bắc cầu qua sông Hoàng Hà nên rất tốn kém ; tuyến đường sắt phía bắc gần đến kinh sư nên còn có tên là Kinh Hán. Đường sắt Lô Hán có các đường nhánh như Chính Thái và Biện Lạc. Đường sắt Chính Thái, còn được gọi là Thạch Thái, dài 242 km, bắt đầu từ Thạch Gia Trang [Shijiazhuang, Hà Bắc] đến tỉnh lỵ Thái Nguyên, hoàn thành năm 1907. Đường sắt Biện Lạc từ Khai Phong [Kaifeng, Hà Nam] đến Lạc Dương [Luoyang, Hà Nam] dài 183 km, hoàn thành năm 1909]




5. Luyện thép cùng công nghiệp dệt



Trước đây nhu cầu về than đá và thép cho cục cơ khí và tạo thuyền đều phải nhập từ ngoại quốc. Sau khi mỏ than Khai Bình bắt đầu khai thác, đã giải quyết được nhiên liệu, nhưng chưa giải quyết được sắt thép, là nguồn tài liệu quan trọng. Mỏ sắt tại Trung Quốc lúc bấy giờ chưa khai thác quy mô, còn việc luyện thép đòi hỏi đến tài lực, kỹ thuật, cũng không thực hiện ngay được. Nhưng việc chế tạo vũ khí, gấp không thể hoãn được, cục chế tạo khuyếch trương, nhu cầu về thép do đó gia tăng. Tháng 3/1885, khi Trung Pháp chiến tranh vẫn còn tiếp tục, Tả Tông Ðường ra sức xin khai thác rộng mỏ sắt, đặt thêm cơ khí, thực hiện việc luyện thép, để khỏi phải mua từ nước ngoài. Sau đó người xúc tiến thực hiện là Trương Chi Ðỗng.


Năm 1884 Trương Chi Ðỗng giữ chức Tổng đốc Lưỡng Quảng, lúc bấy giờ chiến tranh Trung Pháp, khi giới cho vùng tiền tuyến Bắc Kỳ phần lớn dựa vào Trương tiếp tế ; đã không tiếc số tiền lớn, nhiều lần cầu mua vũ khí từ các nước Âu Mỹ, nhưng mười phần gian nan, thiếu trước hụt sau. Sau chiến tranh, quyết định cải tiến cục cơ khí Quảng Tây, thu quặng sắt luyện thép, làm kế căn bản. Bấy giờ Lưỡng Quảng không thiếu quặng sắt đã được khai khẩn, nên Trương chủ trương lập xưởng luyện thép. Lúc đầu với kế hoạch xây tuyến đường sắt Lô Hán, mỗi năm ước tính phải nhập khẩu 300 vạn lượng tiền thép. Trương xin lấy tiền thuế, khai quặng, luyện thép, tạo đường rày, chờ khi có đầy đủ sẽ bắt đầu thi công ; đề nghị được triều đình chấp thuận. Lúc bấy giờ Trương đã liên lạc với các nước Anh, Ðức, mua cơ khí, mời Công trình sư, công nhân Tây dương. Rồi Trương được điều đi làm Tổng đốc Lưỡng Hồ, người kế nhiệm cho rằng quặng sắt tại Quảng Ðông không nhiều, tài lực tại Quảng Ðông không đủ để đảm trách, nên không chủ trương lập xưởng tại Quảng Ðông. Có sự trở ngại như vậy, lại nhân biết được tại Hồ Bắc có mỏ sắt Ðại Trị [Dazhi, Hồ Bắc] có thể khai thác, nên vào tháng 6/1890 đem cơ khí dời lên Hồ Bắc, lập xưởng tại Hán Dương [Hanyang].


Ngoại trừ số cơ khí sẵn có, Trương Chi Ðỗng cho mua thêm tại Tỷ Lợi Thì, Công trình sư mướn người Anh và Tỷ Lợi Thì. Nhiệm vụ xưởng thép Hán Dương chế đường rày xe lửa, lúc đầu định cung cấp cho tuyến đường Lô Hán ; sau khi chương trình này bị tạm hoãn, thì cung cấp cho đường sắt Quan Ðông. Năm 1894 bắt đầu sản xuất sắt, mỗi ngày ra lò 100 tấn. Lúc bấy giờ cả châu Á chưa có nhà máy chế thép, nên được các báo tại Thượng Hải ca ngợi tuyên truyền. Xét về thực tế xưởng này giá thành quá cao, phẩm chất không được tốt, không thể cạnh tranh với thép Tây phương. Xưởng thép Hán Dương còn có nhiệm vụ chi viện cho cục thương pháo, nhưng đến năm 1895 vẫn chưa hoàn tất. Thống kê trong 5 năm dùng ngân khoản trên 500 vạn, qui mô lớn bằng hai cục Thượng Hải và Thiên Tân.


Sau khi 5 cửa khẩu thông thương, tại chính thức mậu dịch chủ yếu nhập khẩu hàng dệt ; nhiều nhất là lụa là, vải bố, rồi đến nhung, vùng duyên hải chịu ảnh hưởng lớn. Lúc Tả Tông Ðường đến miền Tây Bắc, cho rằng miền Cam Túc sản xuất nhiều lông dê, có thể dệt vải sợi to, thảm. Năm 1871, thiết lập cục cơ khí tại Lan Châu [Lanzhou, Cam Túc], ngoài việc chế vũ khí, còn sắm cơ khí, thử chế nhung Tây phương ; rồi mua thêm cơ khi, mướn chuyên viên Ðức tại Thượng Hải liệu biện. Năm 1880 thành lập cục cơ khí dệt nĩ, kỹ sư đều là người Ðức. Sau khi Tả rời vùng Tây Bắc, người Ðức hết hợp đồng cũng trở về nước, lò bị phá huỷ ; công trình chỉ duy trì được trong 3 năm. Còn một nguyên nhân thất bại, là sản phẩm chất lượng kém, không thể cạnh tranh với hàng Tây Dương.


Từ năm 1865 trở về sau, thương gia Anh hai lần xin đặt xưởng dệt tại Thượng Hải, nhưng không được chấp thuận. Năm 1875 Lý Hồng Chương nhận thấy rằng vải bố từ nước Anh nhập mỗi ngày một tăng, cần lập xưởng dệt để dần dần thu hồi nguồn lợi. Chẳng bao lâu tại Thiên Tân, Thượng Hải có người xin liệu biện, được Lý Hồng Chương giúp đỡ. Năm 1882 Lý Hồng Chương trình bày với triều đình : “ Từ khi các nước thông thương đến nay, hàng đưa vào mỗi ngày mỗi nhiều, thống kê năm gần đây có hơn 7.900 vạn lượng, còn hàng xuất khẩu thì mỗi năm mỗi giảm. Hàng nhập khẩu, thì vải bố là mạnh, năm gần đây các cửa khẩu mua vào đến 2.300 vạn lượng. Vải Tây dương là hàng nhu yếu, so với vải bố nội địa lại rẽ hơn, dân tranh mua, Trung Quốc hao tiền để nhập vào không ít ”. Bởi vậy không thể không thiết lập cục chế tạo, để chia bớt mối lợi của Tây dương. Vào năm đó, cục cơ khí dệt vải tại Thượng Hải được thành lập, Lý cho chuyên hưởng lợi trong 10 năm ; đây là xí nghiệp thứ hai không có tính cách quân sự. Người chủ yếu trù hoạch bước đầu, Trịnh Quan Ứng, từng có kinh nghiệm về dương hàng ; nhưng khó khăn trùng trùng, ảnh hưởng bởi chiến tranh Trung Pháp càng lớn. Cổ phần đến năm 1890 mới mộ xong, có đến 500 máy dệt ; nhưng do quan chỉ huy nên mối tệ sinh ra, 3 năm sau thiêu huỷ bởi hoả hoạn, tổn thất không kể xiết.


Năm 1888 Trương Chi Ðỗng trù lập cục dệt lụa vải tại Quảng Châu, lúc Trương được thuyên chuyển làm Tổng đốc Lưỡng Hồ, cũng như xưởng thép nêu trên, bèn cho di chuyển đến Vũ Xương [Wugang, Hồ Bắc], đặt tên là Hồ Bắc chức bố cục. Năm 1892 khai công, có đến 1.000 máy dệt. Năm 1894 lại chiêu tập thương gia, lập các cục dệt sa, dệt lụa, chế sợi ; cùng với Hồ Bắc chức bố cục hợp xưng thành Hồ Bắc phương chức quan cục, số còn lại do quan cùng thương gia liệu biện chung. Nguyện vọng của Trương là lấy phần lời bù vào đường sắt Hán Khẩu ; tức do tiền lời công nghiệp của dân trợ giúp cho công nghiệp quân sự, nhưng thực tế chưa làm được.


Sau khi xưởng thuộc cục dệt vải tại Thượng Hải bị cháy, Ðạo viên Thịnh Tuyên Hoài phụng mệnh Lý Hồng Chương cho thiết lập tại ngay địa chỉ của cục này một cơ sở mang tên Hoa thịnh cơ khí phương chức tổng xưởng, cũng theo phương sách quan đôn đốc, nhà buôn liệu biện ; lại chiêu tập thương gia lập thêm 10 xưởng khác tại Thượng Hải, Ninh Ba [Ningbo, Chiết Giang], Trấn Giang [ZhenJiang, Giang Tô]. Dự định tại tổng xưởng có 1500 máy dệt, mỗi phân xưởng từ 200 đến 500 máy. Cứ 1 ngày 1 đêm sản xuất 1.000 bao lụa sa, 1 vạn tấm vải bố ; mỗi năm trị giá 2.500 vạn lượng, so với sa, bố nhập khẩu giá 5.200 vạn lượng. Nếu như sa, bố được xuất khẩu, ngoại trừ nạp quan thuế, được miễn thuế ly kim 3. Ðây là công trình xưởng dệt mới, do Thịnh Tuyên Hoài phụ trách.


Hồ Bạch Thảo






1  Ðường Tư : tức đường sắt từ xã Tư Các đến Ðường Sơn.

2  Quan Ðông : chỉ phía đông Sơn Hải Quan.

3 Ly kim : một loại thuế phụ thu, thông thường lấy 5 %.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us