Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Giải thưởng dành cho sự khác lạ

Giải thưởng dành cho sự khác lạ



GIẢI THƯỞNG DÀNH CHO SỰ KHÁC LẠ



Inrasara


Đây là diễn từ của nhà nghiên cứu INRASARA PHÚ TRỌNG đọc khi nhận giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh  ngày 24.3.2010 tại Hà Nội.  Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh 2009 gồm có (mỗi giải thưởng : 15 triệu đồng) : 

- Giải thưởng Giáo dục : nhà giáo dục Hồ Ngọc Đại

-  Giải thưởng Dịch thuật  (2 giải) : dịch giả Phạm Vĩnh Cư (dịch tác phẩm của M. Bakhtin và V. Soloviev), dịch giả Lê Anh Minh (dịch bộ Lịch sử Triết học Trung Hoa của Phùng Hữu Lan)

- Giải thưởng Nghiên cứu : nhà nghiên cứu Inrasara Phú Trọng

- Giải thưởng Việt Nam học : nhà dân tộc học Georges Condominas.

inrasara

INRASARA PHÚ TRỌNG là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học và nhà nghiên cứu. Tác phẩm đã xuất bản : Văn học Chăm, khái luận, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc (1994) ;  Văn hoá dân gian Chăm - Ca dao Tục ngữ, Câu đố ;  Văn học Chăm -- Trường ca, sưu tầm - nghiên cứu ; Từ điển Chăm-Việt (viết chúng), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1995 ; Từ điển Việt-Chăm (viết chung), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1996 ; Văn hoá - Xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận ; Tự học tiếng Chăm, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, 2003 ; Từ điển Viêt-Chăm dùng trong nhà trường (viết chúng), Nhà xuất bản Giáo dục, 2004 ; Akayet Sử thi Chăm, Viện Văn hoá Dân gian xuất bản, 2009. ; chủ biên Tagalau, tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-2009) ; Tủ sách Văn học Chăm (10 tập - đã in 3 tập).

Tôi đến từ miền đất quen mà lạ, ở đó đang tồn tại một nền văn hoá khá khác lạ. Nền văn hoá khác lạ của dân tộc có một lịch sử bi thương. Dân tộc đó ngày nay đang sống khiêm cung tại các tỉnh Miền Trung của đất nước Việt Nam. Sau hai trăm năm bị bỏ quên, nền văn hoá văn minh của dân tộc ấy tưởng đã bị thời gian vùi lấp hay bị chìm khuất dưới đêm mờ lịch sử, nhưng không ‒ nó vẫn còn đó. Nó có mặt, và đợi những bước chân thiện chí đến đánh thức. Đã có nhiều bàn chân như thế dọ dẫm bước tới, hơn thế kỉ qua. Để nền văn hoá kia ngày càng lộ hiện dần khuôn mặt khác lạ độc đáo của nó.
Chính các khác lạ như thế làm nên sự phong phú đa dạng của nền văn hoá.

Đây là phần thưởng dành cho sự đóng góp khác lạ ấy, chắc chắn thế. Hôm nay, tôi xin nói lời tri ân sâu xa nhất đến các vị trong Hội đồng Giải thưởng, những người quan tâm vấn đề tôi quan tâm, biết đến và ghi nhận vài thành tích chập chững đầu tiên của tôi trong những bước khai phá. 

*

Bản sắc cùng với truyền thống có lẽ là khái niệm được sử dụng nhiều hơn cả, khi nhắc tới văn hoá, thời gian qua. Nhưng thế nào là bản sắc ? Bản sắc là cái KHÁC của nền văn hoá ‒ dân tộc này so với nền văn hoá ‒ dân tộc kia.

Cái khác biệt rõ nhất giữa Chăm và Việt là ngôn ngữ. Cùng với bốn dân tộc anh em là Churu, Êđê, Giarai và Raglai, tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo, còn Kinh thuộc nhóm Việt - Mường. Tiếng Chăm góp vào kho tàng ngôn ngữ Việt Nam hiện đại không phải là ít. Nhưng cái cốt tuỷ làm nên sự khác biệt lớn chính là văn minh. Ngay từ những năm đầu thế kỉ đầu tiên sau Công nguyên, trong khi Chăm tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ thì Đại Việt nhận ảnh hưởng từ Trung Hoa. Trong quá trình lịch sử, qua xung đột, tiếp xúc và tiếp biến văn hoá giữa Champa và Đại Việt, người Chăm đã để lại bao nhiêu dấu tích khắp đồng bằng Bắc Bộ và suốt dải đất miền Trung.

Dòng máu Chăm lưu lại ở Yên Sở, Đắc Sở đến nay vẫn chưa mất dấu. Mai Hắc Đế có cha là người Chăm, mẹ Việt. Rồi từ Thanh Hoá trải suốt tận Khánh Hoà, ai biết được bao nhiêu thế hệ người Việt mang dòng máu Chăm ?

Trong triều đình nhà Lí, không ít vua quan Việt say mê điệu Chiêm Thành âm. Điệu Nam Ai Nam Bình ở Huế, hay Hát Bội ở Bình Định hoặc đi vào trong, ca vọng cổ ở miền Tây Nam bộ,… Tất cả đều mang âm hưởng Chăm.

Lúa Chiêm từ Champa nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ mười, là chuyện rõ rồi. Người Chăm còn du nhập và thuần hoá các loại cây trồng như khoai, mía, bông ; đã hình thành và truyền lưu các vùng đặc sản như khoai Trà Đoá, mía Quảng Ngãi, bông Điện Bàn,...

Tháp Bảo Thiên ở Hồ Hoàn Kiếm là do tù binh Chăm xây dựng. Tượng Garuda ở chùa Châu Lâm, quận Ba Đình ; Chùa Mía ở xã Đường Lâm, huyện Ba Vì hay Chùa Đinh Xá ở xã Đinh Xá, huyện Kim Bảng hoặc tượng bà chúa Liễu thấp thoáng hình bóng thần Thiên Y trong ngôi đền ở Thanh Hoá hay dấu tích ở vùng Thạch Thất, Hoài Đức phía tây Thăng Long và vùng Bắc Ninh, Bắc Giang của Bà Chúa Lẫm. Cùng bao nhiêu dấu tích khác còn chưa được khảo cổ học động cập tới !

Chúng đã được người Việt thâu thái tạo nên những biến thể độc đáo. Hoà quyện nhưng vẫn giữ được nét khác biệt.

Hôm nay, nhắc đến Chăm, đa số nhắc đến một nền kiến trúc kì vĩ, một nền điêu khắc đặc sắc, hoặc truyền thống ca-múa-nhạc dân tộc, các lễ hội dân gian, dệt thổ cẩm hay chế tác gốm,… Và, không gì khác. Nhưng, dân tộc có bia chữ Phạn, có chữ viết bản địa sớm như Chăm, lẽ nào họ không là gì cả trong văn chương ? Lướt qua mấy công trình văn học sử Việt Nam, đâu là mảnh đất dành cho văn học Chăm ?  ‒  Không chương nào, thậm chí không dòng nào. Đó là sự lạ. Vậy, làm sao có thể nói đến là tính toàn vẹn của văn học Việt Nam ?

Văn chương không chủ ở số lượng. Nếu người viết Chăm hiện thời sáng tác thêm một sử thi Akayet Dewa Mưno hay một trường ca Ariya Glơng Anak mới, thì văn chương Chăm chẳng vì thế mà lớn hơn. Ngược lại với Chăm, nếu dân tộc này góp thêm một Truyện Kiều hay một Hồ Xuân Hương mới, nó chẳng có tác động tích cực nào đến phát triển văn học Việt Nam cả !

Vấn đề là cái KHÁC. Vậy Chăm có cái gì khác ?

Không kể truyện cổ hay truyền thuyết, ca dao hay tục ngữ ; cũng chưa kể tới các trường ca triết lí như Ariya nau ikak (Thơ đi buôn) hay các trường ca thế sự như Ariya Ppo Parơng, riêng về hình thức, thể ariya Chăm, như lục bát Việt, linh hoạt trong cấu trúc, nên khả năng sáng tạo rất lớn. Đừng nói ai có trước hay ai vay mượn ai, trong khoảng mù mờ của lịch sử. Do cấu trúc ngôn ngữ khác nhau (đa hay đơn âm tiết là một trong những), nên lối phát triển hai dòng thơ đã có khác biệt nhất định ; từ đó nó làm đa dạng thơ ca tiếng Chăm lẫn tiếng Việt.

Về nội dung đề tài : 250 minh văn Champa được sáng tác từ thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ mười lăm bằng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Chăm cổ là cái được kể đầu tiên. Ba Sử thi ‒ Akayet Chăm có xuất xứ từ/mang âm hưởng Mã Lai / Ấn Độ được viết vào thế kỉ XVI - XVIII, là sáng tác thành văn đặc trưng Chăm, một hiện tượng không có trong văn học sử Việt Nam. Nữa, khác với các dân tộc anh em ở Tây Nguyên như Êđê hay Bana,… sử thi Chăm được văn bản hoá từ thế kỉ mười sáu. Các Trường ca - Ariya trữ tình nổi tiếng mà nội dung mang chở sự đối kháng quyết liệt giữa Hồi giáo – Bà-la-môn giáo dẫn đến đổ vỡ và cái chết, cũng là một dị biệt khác.

Như vậy, bên cạnh kiến trúc và điêu khắc, phong tục tập quán cùng ca-múa-nhạc,… văn chương và ngôn ngữ Chăm ít nhiều đã được biết đến. Còn bao nhiêu mảnh vụn khác nữa của nền văn hoá văn minh phong nhiêu kia đang bị lãng quên ?!


Kính thưa quý vị !

Một chàng trai nhà quê khởi đầu cuộc đi vào lòng văn hoá dân tộc “ từ bàn chân trần trắng, từ con số âm, từ con số không – có lẽ ”. Không miếng tư liệu, không mảnh bằng, túi rỗng không, còn mục tiêu thì xa hun hút. Hơn nửa đời hư, chàng trai ấy hôm nay đứng ở diễn đàn này để nhận phần thưởng cao quý từ quý vị. Tôi nghĩ phần thưởng không chỉ dành cho cá nhân tôi với vài thành tích khiêm tốn đạt được mà hơn thế, nó còn là tiếng nói khích lệ các thế hệ sắp tới. Bằng tri thức mới, nhiệt tâm và nỗ lực mới, họ sẽ đi những bước đi mới, không kém trắc trở và gian nan, với hi vọng làm sống dậy nền văn hoá văn minh kia, như là một cách bảo tồn bản sắc dân tộc, góp phần vào đa dạng hoá nền văn hoá Việt Nam, rộng hơn ‒ văn hoá nhân loại.

Xin cảm ơn và kính chúc quý vị sức khoẻ và hạnh phúc.


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss