Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Lịch sử Thái bình Thiên quốc (3)

Lịch sử Thái bình Thiên quốc (3)

Sự đối kháng của thế lực truyền thống [1853-1860]


Lịch sử Thái Bình Thiên Quốc


Chương ba


Sự đối kháng của thế lực truyền thống

[1853-1860]


HỒ BẠCH THẢO



1. Tăng Quốc Phiên lãnh đạo :


Tăng Quốc Phiên [1811-1872] người đất Tương Hương [Xiangxiang], tỉnh Hồ Nam ; lớn hơn Hồng Tú Toàn 3 tuổi, cả hai đều xuất thân từ thành phần học trò nhà nông. Ðường công danh thời tuổi trẻ của Tăng thuận lợi hơn Hồng Tú Toàn, năm 28 tuổi đậu Tiến sĩ, giữ chức Hàn lâm, năm 34 tuổi thăng chức Thị lang bộ Lễ. Bình sinh chuyên nghiên cứu về nghĩa lý và đường thực dụng kinh bang tế thế ; ủng hộ nền đạo thống, danh giáo. Tăng cũng bất mãn với thời cuộc, mong có sự cải cách.

Vào giai đoạn vua Ðạo Quang mất, Hàm Phong lên ngôi [1851], loạn nổi lên tại Hồ Nam, Quảng Tây ; Cử nhân Giang Trung Nguyên lập dân quân Sở dõng, giúp quan quân dẹp loạn tại Tân Ninh [Xinning, Hồ Nam], năm 1852 đánh quân Thái Bình tại vùng Tương Ðàm [Xiangtang, Hồ Nam], rồi giúp bảo vệ tỉnh thành Trường Sa [Changsa, Hồ Nam]. Tại Tương Hương, Sinh viên La Trạch Nam noi theo, lập Tương dõng. Ðầu năm 1853 quân Thái Bình tiến vào Hồ Bắc, ngọn lửa bùng lên như bó đuốc ; lúc này Tăng Quốc Phiên cư tang mẹ tại quê nhà Tương Hương, được triều đình chính thức giao chức giúp đỡ cho Tuần phủ Hồ Nam tổ chức đoàn luyện, sưu tra thổ phỉ, trợ giúp quân chính qui không đủ sức. Tăng ưu tư cho tình thế, thấy Hồ Bắc không giữ được quan hệ rất lớn, mới bắt đầu đến Trường Sa để trù hoạch.

Sau khi bàn luận thống nhất, Tăng tổ chức một đạo tân quân, đối kháng với quân Thái bình ; sự việc được vua Hàm Phong phê đúng và khuyến khích “ đem hết sức lo liệu, để phòng tiễu hữu hiệu.” Tân quân không những răn đe những mối tệ trạng bạc nhược của quân Lục kỳ 1, mà lại còn noi theo tinh thần đoàn kết kiên cường của quân Thái Bình. Tăng Quốc Phiên nhận định “ ngày hôm nay muốn diệt giặc, thì chư tướng phải nhất tâm, vạn người một bụng ”, “ hít thở cùng nhau, đau ngứa liên quan, nhảy vào lửa đồng hành, nhảy qua nước sôi cùng tiến ; thắng thì bưng chén rượu nhường công, bại sẽ liều mình cùng cứu. Giặc có lời thề không bỏ tử thi đồng đảng, ta cũng thề không bỏ tử thi đồng đảng ; hãy huyết chiến một hai lần, để đổi mới cách nhìn của dân chúng.” Tân quân còn được gọi là Tương quân, có những đặc điểm sau đây :

- Về quân lính chọn thanh niên nông thôn, thực thà chất phác ; không chọn bọn vô lại tại thành thị. Tướng thì chọn những Nho sinh trung nghĩa hiểu quân sự, chí đồng đạo hợp.

- Biên chế : 10 người thành một đội, 8 đội thành một tiêu, 4 tiêu thành một doanh, họp vài doanh hoặc 10 doanh thành một Thống lãnh. Toàn quân từ trên xuống dưới, nếu không là bà con quen biết, thì cũng là người cùng làng xóm “ tướng soái cùng đem hết khả năng, binh tướng cùng tập luyện 

- Tập luyện : quân lính “ khổ công tinh luyện ”, hàng ngày tập tành trận pháp, tác chiến ; tinh thần kỹ luật cũng được chú ý. Lại soạn các bài ca để học, như : “ Chớ đào tẩu ”, “ Cần một lòng ”, “ Thao luyện vũ nghệ ” ; nhắm phấn khích tướng sĩ, trung nghĩa một lòng.

- Ðãi ngộ : Tăng cho rằng lương hướng không đủ, không thể tạo được đạo quân liêm khiết, hết lòng. Nên qui định Tương quân mỗi người lính lãnh lương 4 lượng 2 tiền, so với quân Lục kỳ lương cao gấp bội ; nguồn lương do từ quyên góp, sau đó là tiền phụ thu từ thuế hàng hóa.

Cả hai phe đều cố tranh thủ dân tâm, quân Thái bình lúc khởi sự truyền bá Phụng Thiên thảo Hồ hịch 2, thì Tương quân cũng soạn Thảo Việt phỉ hịch 3 để thuyết minh lập trường.

Mở đầu hịch văn đả kích quân Thái bình tàn ác, trong nội bộ phân biệt đối xử ; người gốc Quảng Tây thì được đãi ngộ, các tỉnh khác thì bị khinh rẽ đọa đày “ Thuyền bè không kể lớn nhỏ, nhân dân không kể giàu nghèo đều vị cướp sạch, trai gái bị bắt ; bọn giặc Quảng Tây thì được tôn vinh, dân Lưỡng Hồ 4, Tam giang 5 thì bị bức hiếp.” Tiếp đến thống kích quân Thái bình phá hoại luân lý trật tự “ Trung Quốc mấy ngàn năm lễ nghĩa nhân luân, thi thư điển tắc, một sáng quét sạch… Khổng Tử, Mạnh Tử của ta phải thống khóc nơi cửu tuyền, phàm kẻ đọc sách biết chữ há có thể buông tay áo ngồi nhìn ? ”. Lại đả kích quân Thái bình phá hủy điện thờ thần, Khổng Tử, và các bực anh hùng như Quan Công, Nhạc Phi. Cuối cùng thân minh sứ mệnh của Tương quân là cứu dân bảo vệ đạo, giúp vua, phục hồi nhân luân, báo thù cho sinh linh, làm nguôi lửa giận của thần minh ; hy vọng trung nghĩa nhân dân, cộng đồng phấn khởi ; những kể bị hiếp bị bắt, trở về với nẻo chính.


2. Tương quân khởi sự


Tương quân của Tăng Quốc Phiên lúc khởi đầu lấy Tương dõng của Sinh viên La Trạch Nam làm cơ sở, lại thêm bộ phận chiêu mộ thêm từ Hồ Bắc ; tất cả khoảng 4 000 người. Tháng 9/1853 Tăng di chuyển quân đến Hoành Dương [Hengyang, Hồ Nam] để dẹp giặc tại phương nam và lo chế tạo thuyền. Rút kinh nghiệm về lực lượng Thái bình xua binh dọc theo sông Trường Giang, thuyền to nhỏ có đến hàng vạn chiếc, các châu ấp gần sông không cần đánh cũng lấy được ; riêng quân Thanh không có thuyền, không có phương tiện truy kích, đành chịu bó tay. Bởi vậy Tăng Quốc Phiên bắt đầu lo việc chế tạo thuyền pháo ; quân binh từ tỉnh Hồ Nam, thợ mộc lấy từ Quảng Tây, súng pháo chuyển từ Quảng Ðông, phần lớn là vũ khí Tây dương. Thuyền pháo sau này là yếu tố quan trọng giúp Tương quân đoạt quyền khống chế sông Trường Giang, ngăn trở quân Thái bình giao thông bằng đường thuỷ và đánh chiếm các thành trì dọc hai bên bờ sông.

Vào tháng 1/1854, thất thủ Hợp Phì [Hefei, An Huy] Tuần phủ Giang Trung Nguyên tử trận. Tháng 2 Tổng đốc Hồ Quảng Ngô Văn Dung thua chết, quân Thái bình chiếm Hán Dương [Hanyang, Hồ Bắc], Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc] lần thứ 3, cùng vây đánh Vũ Xương [Wugang, Hồ Bắc]. Lúc này thuỷ sư của Tương quân đã thành, thuyền lớn nhỏ hơn 300 chiếc, lính thuỷ hơn 5000 người, hợp với lục quân binh dõng hơn 15 000 người, với 500 cỗ pháo, cùng thuyền tiếp tế gạo, dầu, muối của dân. Ngày 25/2 xuất chinh, toàn quân tiền lương 8 vạn lượng, do các tỉnh Hồ Nam, Quảng Ðông, Giang Tây, Tứ Xuyên [Sichuan] cung ứng. Bắt đầu dằng co với quân Thái bình tại phía bắc tỉnh Hồ Nam, quân bộ thua tại Nhạc Dương [Yueyang,Hồ Nam], quân thuỷ thua tại Tĩnh Cảng phía bắc Trường Sa [Changsa, Hồ Nam] ; nhưng có một đạo quân đại thắng tại Tương Ðàm [Xiangtan, Hồ Nam], không những lòng quân được hưng phấn, mà Trường sa miễn bị giáp công. Sau khi chấn chỉnh và biên chế, tháng 7 xuất kích lần thứ 2, tảo thanh xong tỉnh Hồ Nam, Lúc này thành Vũ Xương đã bị tái chiếm 6 tháng ; vào tháng 10/1854 Tăng Quốc Phiên đích thân mang quân thuỷ lục từ Nhạc Dương tiến sang đông, bọn Dương Tái Phúc đốc suất thuỷ quân, La Trạch Nam đốc xuất lục quân khắc phục được Vũ Xương, tịch thu hàng ngàn chiếc thuyền, lại chiếm luôn các thành Hán Dương, Hán Khẩu gần đó ; thắng lợi lớn được Thanh đình đánh giá cao. Vào các tháng 11, 12, lại thắng tiếp tại trấn Ðiền Gia, núi Bình Bích tại phía đông tỉnh Hồ Bắc ; thuỷ quân tiến đến Cửu Giang [Jiujiang, Giang Tây], quân Thái bình bị tổn thất rất lớn.

Vào đầu năm 1855, quân Thái bình dưới quyền Dực vương Thạch Ðạt Khai tăng viện cho miền tây, Tương quân bị tổn thất. Hán Dương, Hán Khẩu, Vũ Xương lại không giữ được ; từ Vũ Xương đến Thiên Kinh [Nam Kinh] nằm trong tay quân Thái bình. Tăng Quốc Phiên rút về Nam Xương [Nanchang, Giang Tây], lực lượng Tương quân đầu, đuôi không tiếp xúc với nhau được ; quyết định cho Tuần phủ Hồ Bắc Hồ Lâm Dực và La Trạch Nam chiếm lại Vũ Hán nhưng không thành công. Thạch Đạt Khai đa mưu, chủ trương xây dựng cơ sở tại nông thôn, làm nguồn cung cấp nhân lực và lương thực ; năm 1856, hợp với quân Thiên địa hội từ Quảng Tây đến, cùng với Bắc vương Vi Chính liên tiếp chiếm hơn 50 huyện, 8 phủ tại Giang Tây, Nam Xương cơ hồ không giữ được.


3. Nội biến tại Thiên Kinh


Thái bình thiên quốc định đô tại Nam Kinh [Nanjing, Giang Tô] không lâu, Khâm sai đại thần Hướng Vinh theo bén gót truy kích, đồn trú tại vùng ngoại ô đông nam thành, gọi là đại doanh Giang Nam ; kiêm chỉ huy quân tại Trấn Giang [Zhenjiang, Giang Tô], che chở cho vùng đất Tô Châu [Suzhou, Giang Tô], Thường Châu [Changzhou, Giang Tô] nhiều lúa gạo ; lại có đạo quân đồn trú tại vùng ngoại ô phía bắc Dương Châu, làm bình phong cho vùng sản xuất muối, tại duyên hải sông Hoài [Huaihe river]. Mùa đông năm 1853, quân Thái bình rút ra khỏi Dương Châu [Yangzhou, Giang Tô], nhưng vẫn đóng tại Qua Châu [Guazhouzhen, Giang Tô], nơi cửa Vận Hà. Tuy đánh Thiên Kinh không thành công, nhưng thanh thế đại doanh Giang Nam vẫn mạnh, là mối lo ngay tại nách vai của quân Thái bình. Năm 1856, Dương Tú Thanh thừa lúc quân Thái bình thắng tại phía tây sông Trường Giang, bèn mang quân đánh Trấn Giang và Dương Châu, tấn công mạnh vào Ðại doanh Giang Nam, Hướng Vinh thua, tử trận ; Thiên kinh được giải vây ; thượng lưu, hạ lưu sông Trường Giang chỗ nào cũng thắng lợi. Giặc Niệm 6 tại phía bắc An Huy cũng bùng lên, cướp phá tại lưu vực sông Hoài và sông Trường Giang. Trong lúc này tại Thiên Kinh [Nam Kinh] xẩy ra nội biến, tàn sát lẫn nhau, nhờ vậy Tương quân có cơ hội nghỉ ngơi dưỡng sức.

Do bởi Dương Tú Thanh giả thác Thiên phụ xuống cõi trần, nắm mọi quyền lực về tôn giáo, quân sự, chính trị ; tự tiện chuyên chế, coi Hồng Tú Toàn như phế vật, thường lăng nhục la mắng. Ðối với Vi Chính, Thạch Ðạt Khai, Tần Nhật Cương thì chỉ tay sai khiến ; Vi Chính, Tần Nhật Cương thường bị phạt đánh trượng ; mối oán kết sâu không chỉ một ngày ; nhưng giặc mạnh còn nằm bên hông, nên chưa lộ ra hành động. Trước đó vào năm 1855, tác gỉả Tặc tình hối toản cũng đã đề cập đến việc này, cho rằng “ Dương Tú Thanh với tâm gian giảo, đưa Hồng Tú Toàn lên hư vị, nhưng thực sự nắm quyền lớn, bắt chước những gian thần đời trước, sẽ giết Hồng để nắm chức.” Lại bảo “ giặc họ Dương và Vi Chính nghi kỵ, chẳng bao lâu sẽ manh tâm nuốt nhau.”

Sau khi Thiên kinh được giải vây, lại chiến thắng tại miền thượng du sông Trường Giang ; lúc này dã tâm của Dương Tú Thanh bộc lộ càng mạnh, giả thác Thiên phụ xuống trần, bức bách Thiên vương, từ Cửu thiên tuế tự phong thành Vạn tuế! Vào tháng 9/1856, Vi Chính, Tần Nhật Cương trong một hành động chớp nhoáng, như sấm không kịp bịt lỗ tai, giết Dương Tú Thanh.

Nguyên Vi Chính bị thua, từ Giang Tây trở về, bị Dương Tú Thanh quở trách không cho vào thành ; sau đó Vi tiếp tục xin, nên được chấp nhận. Vi âm mưu với Hồng Tú Toàn, Tần Nhật Cương trước ; rồi một hôm đến phủ Đông vương yết kiến Dương Tú Thanh, quỳ xuống tung hô vạn tuế, Tú Thanh lưu lại ăn yến ; trong bữa tiệc bất thình lình dùng dao giấu trong người đâm chết Dương Tú Thanh, rồi tuyên bố “ Đông vương mưu phản, ta nhận mệnh Thiên vương giết nó.” Sau đó cho đóng cửa thành, truy lùng đồ đảng của Đông vương ; nội bộ xẩy ra cuộc hỗn chiến một tháng trời, đồ đảng Đông vương vẫn còn trốn tránh. Lại thị vợ của Hồng tú Toàn bảo rằng “ Đảng giặc không giết hết sẽ lưu hậu họa ”, nhân bàn mưu với Tú Toàn giả phạt Vi Chính tội đánh trượng 7 rồi kêu gọi đồ đảng Tây vương đến xem, lúc đến nơi bèn cho giết sạch ; tổng kết phe Dương Tú Thanh bị giết đến 2 vạn. Ðây là cuộc nội biến thứ nhất tại Thiên kinh.

Tháng 10, Thạch Ðạt khai từ Hồ Bắc trở về Nam Kinh gấp, trách Vi Chính giết quá nhiều. Vi Chính, đã lỡ ra tay đành phải tiếp tục, định đem những người khác ý ra thanh trừng. Thạch Ðạt Khai phải dùng giây thừng leo qua thành chạy trốn ; đó là nội biến lần thứ hai.

Từ đó Vi Chính không phân biệt trắng đen, giết người không ngớt, treo giải thưởng cho ai bắt được Thạch Ðạt Khai và giết mẹ, vợ, con trai, con gái của Đạt Khai. Tháng 11, Thạch Ðạt Khai từ phía tây sông Trường Giang mang quân trở về, cùng lúc Hồng Tú Toàn hợp các quan văn võ tại Thiên kinh giết được Vi Chính, Tần Nhật Cương ; đó là nội biến thứ ba.

Vào tháng 12, Hồ Lâm Dực thừa cơ khắc phục Vũ Hán, bình định Hồ Bắc ; Tương quân ổn định miền hậu phương, lương hướng quân giới thu thập đầy đủ, thương bệnh binh được bảo dưỡng.

Thạch Ðạt Khai là nhân vật kiết xuất về chính trị trong quân Thái bình. Tăng Quốc Phiên mấy lần nhận xét, “ y tối hung hãn, quỷ quyệt ” “ dùng ngụy trá để khiến người, giả nhân nghĩa lôi cuốn dân.” Tả Tông Ðường cũng cho rằng “ iảo hoạt hơn người, vốn được lòng bọn giặc ; tài trí hơn cả đồng bọn. Xem cách làm của y, có phần cố kết được lòng người, cầu nhân tài, không xu phụ vào lý thuyết tà giáo ; là một tông chúa của giặc, đáng cho ta úy kỵ.” Sau khi Vi Chính chết, Thạch Ðạt Khai quản lý chính sự, kiêm thi hành công thủ, trọng dụng các tướng lãnh thanh niên như Trần Ngọc Thành, cùng Lý Tú Thành, một tài năng mới lộ ra. Lại liên kết với giặc Niệm tại phía bắc sông Trường Giang, ổn định được cục diện Thái bình thiên quốc. Nhưng Hồng Tú Toàn thì đã quá no bởi sự ức hiếp của Dương Tú Thanh, Vi Chính, nên không tin người ngoài ; chỉ tin dùng những anh ruột không tài năng là bọn Hồng Nhân Hữu, Hồng Nhân Ðạt.

Vào tháng 6/1857, Thạch Ðạt Khai bị anh em Nhân Hữu, Nhân Ðạt nghi kỵ, cảm thấy lo lắng không yên tâm. Đồ đảng Trương Toại khuyên rằng “ Vương được lòng dân, tại sao lại chịu ở dưới tay người, nếu trung nguyên không dễ mưu, sao không đến Tứ Xuyên, lập thế đỉnh vạc như Lưu Bị trước kia ? ”. Đạt Khai theo, mưu với Trần Ngọc Thành, Lý Tú Thành, nhưng hai người không theo ; bèn đến An Khánh, rồi chuyển đến Giang Tây để phát triển riêng. Thực tế đã ly khai khỏi Hồng Tú Toàn, tự dựng riêng lá cờ ; đó là biến cố thứ tư của Thái bình thiên quốc.

Sau khi Thạch Ðạt Khai bỏ đi, Trấn Giang không giữ được, anh em họ Hồng chuyên quyền phóng túng, khiến nhân tâm không phục, chán nản. Tăng Quốc Phiên cho rằng trong vòng một năm có thể đánh chiếm được Nam Kinh, nhưng thực tế lực lượng Hồng Tú Toàn còn kéo dài được vì những lý do sau đây : Thứ nhất, do lời đồn rằng quân Thanh đối với những người gốc Quảng Tây nếu bắt được thì không tha, nên bọn này chỉ biết tử chiến, đánh đến cùng. Thứ hai, do Trần Ngọc Thành, Lý Tú Thành trung dũng thiện chiến, nên uy thế quân Thái bình lại được phấn chấn. Thứ ba, triều đình nhà Thanh vẫn còn phân biệt Hán, Mãn ; đối với Tăng Quốc Phiên chưa hoàn toàn tin, không giao cho toàn quyền, nên Tương quân chưa vươn lên được.


4. Quân Thái bình thiên quốc phấn chấn trở lại


Năm 1858, đại quân Giang Nam của Khâm sai đại thần Hòa Xuân cùng Trương Ngọc Lương lại đến sát Thiên kinh, xây đại doanh đối bờ tại Phố Khẩu [Pukou, Giang Tô], Thiên kinh lại một lần nữa bị khốn. Phía thượng du, Tương quân do Lý Tục Tân chỉ huy đánh chặn Cửu Giang [Jiujiang, Giang Tây], nơi yết hầu trên sông Trường Giang ; các thành tại tỉnh Giang Tây phần nhiều bị Tương quân chiếm. Lý Tục Tân thừa thắng tiến quân phía bắc An Huy, bị liên quân Trần Ngọc Thành và Lý Tú Thành đánh kẹp, trước hết phá trại lớn tại phía bắc Trường Giang, sau đó đánh bại Tương quân tại trấn Tam Hà [Sanhezhen, An Huy], khiến lực lượng của Lý Tục Tân bị sụp đổ ; đây là bước ngoặt, quân Thái bình từ thế suy đồi gặt hái được chiến thắng lớn. Sau đó Trần Ngọc Thành đảm đương thượng du sông Trường Giang, giữ An Khánh [Anquing, An Huy], chế ngự Tương quân xuống phía đông ; riêng Lý Tú Thành bảo vệ Thiên kinh chống lại doanh lớn Giang Nam.

Năm 1859, một người anh em của Thiên vương là Hồng Nhân Can từ Hương Cảng đến, được trọng dụng, phong tước Can vương, nắm quân cơ ; Trần, Lý cũng được phong tước Anh vương, Trung vương. Hồng Nhân Can tương đối có trí thức, định sách lược cải cách, trước tác Tư chính tân biên, luận về phương sách giáo dục chính trị, đại thể thế giới ; chủ trương thu thái chế độ mới cùng khoa học kỹ thuật. Hồng kiến nghị tập trung quyền về một mối, cải cách phong tục, thực hành theo Tây phương với những điều cụ thể như: đặt thư tín quán [bưu chính], tân văn quán [báo chí], y viện, thị trấn công sở, hương binh [cảnh sát], đặt đường sắt, ngân hàng, công nghệ, khai khoáng sản. Ngoại trừ tân văn quán, các điều khác đều được Thiên vương chấp nhận, nhưng chỉ mới bàn suông trên giấy tờ mà thôi.

Năm sau [1860] có một người tốt nghiệp từ Mỹ tên là Dung Hoành 8 kiến nghị cải thiện tổ chức quân đội, thiết lập học hiệu lục quân, hải quân ; trường thực nghiệp, định chế độ giáo dục, thiết lập chính phủ lương hảo, dùng nhân tài để cố vấn, mở ngân hàng ; nhưng cũng không thấy thực hành. Dung Hoành lưu tại Thiên kinh hơn một tháng trời, nhận thấy Hồng Tú Toàn không có năng lực để xây dựng một nước Trung Quốc mới.

Lúc này quân Thanh chia làm 2 tập đoàn lớn : thứ nhất là đại doanh Giang Nam tại hạ du sông Trường Giang do Hòa Xuân và Trương Quốc Lương chỉ huy ; thứ hai chủ yếu là Tương quân, dưới quyền Tăng Quốc Phiên và Hồ Lâm Dực, tại miền thượng du. Ðại doanh Giang Nam tại Phố Khẩu [Pukou, Giang Tô] xưng là 5 vạn, nhưng sự thực chỉ nửa số, dùng hào lớn để vây Thiên Kinh, tự cho rằng sớm muộn công lớn có thể thành ; nhưng thực chất thì “ tướng kiêu binh lười, suốt ngày say sưa không để ý đến giặc, hoặc ưa chuyện trai gái, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc tụ họp ca hát, hoặc cờ bạc nghiền hút. Cứ 45 ngày phát lương tháng 1 lần, nên quân lính nguyền rủa mong cho giặc đến.”

Trung vương Lý Tú Thành, Can vương Hồng Nhân Can muốn phá vây khốn, bèn sử dụng kỵ binh cơ động đánh phía bắc An Huy rồi xuống Giang Tô, Chiết Giang phía nam, nhắm bọc sau lưng đại doanh Giang Nam, cắt đường tiếp tế, chia binh lực. Lúc bấy giờ quân Thái bình đã tấn chiếm được các thành xung quanh tại Cao Lương [Gulou, Giang Tô], Cú Dung [Rujong, Giang Tô] ; hoặc giả quan quân chiếm đột kích Phiêu Dương [Liyang, Giang Tô]. Tháng 3/1860, Lý Tú Thành tập kích Hàng Châu [Hangzhou, Chiết Giang], rồi ngày đêm hành quân phía tây phối hợp với Trần Ngọc Thành đánh mạnh vào đại doanh Giang Nam. Qua 10 ngày kịch chiến, vào đầu tháng 5 quân của Hòa Xuân, Trương Quốc Lương bị đánh tan, Thiên kinh được giải vây ; từ đó trở về sau trong vòng 2 năm, không có dấu vết quân Thanh ngoài thành.

Trong vòng 7 năm, trọng yếu chiến lược của quân Thái bình chủ trương thế công tại thượng du sông Trường Giang, thủ tại hạ du ; về hạ du sông Trường Giang, chưa bao giờ vượt quá Ðan Dương [Dan yang, Giang Tô]. Sau lần thứ hai giải vây Thiên kinh, bèn quyết định đánh Tô Châu [Suzhou, Giang Tô], Hàng Châu [Hangzhou, Chiết Giang], Thượng Hải [Shanghai] ; sau đó liệu biện thuyền máy, ngược dòng Trường Giang đánh phía tây. Vào ngày 19/5 Lý Tú Thành đuổi dài sang phía đông, Hòa Xuân và Trương Quốc Lương thua chết, nhân dân tranh giết quân Thanh để đón. Lúc này ngoại trừ vùng chu vi Thượng Hải, Trấn Giang [Zhenjiang, Giang Tô] ; phần còn lại đều bị quân Thái bình đánh cuốn chiếu, chiếm sạch. Vào tháng 8 đánh Thượng Hải không hạ được, đồng thời tại miền thượng du chiến sự gấp, quân Thái bình phải phân đánh từ hai tuyến.


5. Tăng Quốc Phiên thống lãnh miền đông nam


Sau khi đoạt lại Vũ Hán vào tháng 12/1856, Tương quân không thừa lúc nội bộ quân Thái Bình biến loạn, mang toàn lực tiến thẳng ; lý do không hẳn lực bất tòng tâm, nhưng do Mãn Thanh thiếu tín nhiệm người Hán. Thời Tương quân đầu tiên chiến thắng tại tỉnh Hồ Bắc, có viên Ðại thần tâu rằng Tăng Quốc Phiên chỉ là một dân thường quật khởi, người theo có đến hành vạn ; sợ không phải là điều phúc cho Vương triều, vua Hàm Phong nghe qua biến sắc. Bởi vậy trách nhiệm của Tăng được giao rất nặng, nhưng quyền lực bị hạn chế, chỉ có hư hàm “ Khâm sai Binh bộ hữu thị lang ”.

Vào tháng 3/1857 nhân cha mất, xin nghĩ để chịu tang, trong lòng đã có ý muốn rút lui. Tháng 7 xin từ chức, trình bày mấy năm qua làm việc gặp nhiều khó khăn : thứ nhất, các quan chức dưới quyền lập công phải trình lên để xin chức, chứ không được bổ ngay chức ; thứ hai, việc trù hoạch điều động nằm trong tay Tổng đốc, Tuần phủ, đối với các viên chức này Tương quân chỉ là khách ; thứ ba, lệnh phụng mệnh chỉ huy quân không được minh bạch, có lời dị nghị, ấn tín thường bị thay đổi, nên các châu huyện nghi ngờ cho là giả tạo.

Tăng Quốc Phiên nghỉ tại nhà hơn một năm, vào năm 1858 Thạch Ðạt Khai mang quân tiến về phía đông, mới được gọi trở lại chức. Trước hết mệnh tăng viện Chiết Giang, rồi lại mệnh đến Tứ Xuyên ; cuối cùng mệnh tăng cường quân An Huy, khiên chế quân Thái bình, để cho Hòa Xuân [người Mãn] một mình lập công đánh Thiên Kinh. Trong vòng 3 tháng, giữa các năm 1859-1860, Tương quân của Tăng Quốc Phiên giao tranh với quân Thái bình của Trần Ngọc Thành tại vùng phụ cận An Huy, lúc này chỉ nhận được sự trợ giúp của Tuần phủ Hồ Bắc Hồ Lâm Dực.

Lúc đại doanh Giang Nam bị đánh, chính là lúc Tăng Quốc Phiên, Hồ Lâm Dực, và Tả Tông Ðường họp bàn tại Túc Tùng [Susong, An Huy]. Tả Tông Ðường nói : “ Ý trời muốn thay đổi chăng ? Ðại doanh Giang Nam tướng kém quân mệt làm sao đương thuỷ giặc ! ”. Hồ Lâm Dực nói “ Bĩ cực thái lai ” và liệu tính rằng thời đã đến, triều đình sẽ trọng dụng Tương quân. Ðến lúc Tô Châu thất thủ, triều Thanh xem lại trong nước, chỉ có Tương quân tướng lãnh có khả năng, quân lính mạnh ; ngoại trừ lực lượng này thì không biết dựa vào đâu. Nên tháng 6/1860 mệnh Tăng Quốc Phiên quyền Tổng đốc Lưỡng Giang, hai tháng sau thăng thực thụ, lại giao chức Khâm sai đại thần biện lý quân vụ Giang Nam, tiết chế các quân thuỷ bộ hai bên nam, bắc sông Trường Giang. Kể từ đó, Tăng được “ phá lệ thăng tướng, thêm binh ” Tương quân danh xứng với thực, thay thế quân Lục kỳ.

Nhắm tấn công vùng đông nam để tương lai thu phục Nam Kinh, Tăng Quốc Phiên di chuyển đến Kỳ Môn [Qimen, An Huy] và lưu quân công kích An Khánh. Chẳng bao lâu quân Anh, Pháp đánh Bắc Kinh, triều đình gọi tăng viện, đối với Tăng có phần nan giải. Trước đó Tăng tự nguyện đi, nhưng do thế bắt buộc chứ không phải phát xuất tự lòng thành, Tăng từng nói với em, Tăng Quốc Thuyên, rằng “ viện trợ Bắc Kinh không cần nhiều quân, Hồ Lâm Dực hoặc ta, sẽ có một người đi ; đến chốn hành tại để làm rõ nghĩa vua tôi, tròn chức phận của tướng soái ; còn ổn thỏa hay không, thì chỉ biết nghe lệnh mà thôi.” Lại nói với Hồ Lâm Dực rằng : “ Trong thiên hạ có lý và thế, giữ 3 tỉnh Giang Tây , Lưỡng Hồ là thuộc về thế ; chức vụ chúng ta trước mắt cầu khỏi vi phạm vào thế, nhưng cũng không phản lại lý ”. Xem qua lời nói, Tăng nặng lòng củng cố lưu vực sông Trường Giang để sớm dẹp quân Thái bình. 

(Còn tiếp)

Hồ Bạch Thảo




1 Lục kỳ : dưới thời nhà Thanh, lính gốc Mãn Châu biên chế thành Bát kỳ, lính Hán biên chế thành Lục kỳ, hiệu cờ màu xanh.

2 Phụng thiên thảo Hồ hịch : phụng mệnh trời dẹp giặc Hồ, tức Mãn Thanh.

3 Thảo Việt hịch : Việt tức Quảng Tây, Quảng Ðông ; ý chỉ dẹp giặc Quảng Tây, Quảng Ðông, vì Thái bình thiên quốc phát xuất từ nơi này.

4 Lưỡng Hồ : các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam.

5 Tam giang : Chỉ 3 sông Tương giang, Hán thuỷ, Trường Giang.

6 Niệm : nguyên nghĩa là một nhóm, một bọn. Ðây là lực lượng nông dân dấy lên [1853-1868] tại phía bắc An Huy, cùng các tỉnh Giang Tô, Sơn Ðông, Hà Nam.

7 Phạt đánh trượng : phạt đánh bằng gậy.

8 Dung Hoành : [1828-1912] người huyện Hương Sơn, Quảng Ðông, lúc nhỏ học trường Tây dương tại Áo Môn, Hương Cảng ; năm 1854 tốt nghiệp tại Mỹ, Yale University


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss