Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Lịch sử Trung Quốc cận đại : Chính quyền tại lục địa đổi chủ sau Đệ nhị Thế chiến / Chính quyền Trung Quốc tại lục địa đổi chủ sau Đệ nhị Thế chiến (4/5)

Chính quyền Trung Quốc tại lục địa đổi chủ sau Đệ nhị Thế chiến (4/5)

Chương 4 : Những dấu hiệu nguy hiểm cho Quốc dân chính phủ phát sinh [1947-1948]



Chính quyền Trung Quốc
tại lục địa đổi chủ sau Đệ nhị thế chiến


Hồ Bạch Thảo




Chương bốn

Những dấu hiệu nguy hiểm
cho Quốc dân chính phủ phát sinh

[1947-1948]


tn

Trần Nghị [1901-1972]
Nguồn :
wikipedia



1. Cộng quân tiến công, chiến cuộc chuyển biến


Tháng 1/1947, Hoa đông Nhân dân giải phóng quân dưới quyền Trần Nghị, Trung nguyên Nhân dân giải phóng quân dưới quyền Lưu Bá Thừa đánh mạnh tại phía nam và tây tỉnh Sơn Đông, quân chính phủ tổn thất khoảng 6 vạn người ; khiến Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô] trở nên khẩn trương. Tháng 2, quân Trần Nghị lại đại bại quân chính phủ tại Lai Vu [Laiwu, Sơn Đông], bắt sống Lý Tiên Châu và bộ hạ 5 vạn quân. Từ tháng 3 đến tháng 4, Cộng quân dưới quyền Lưu Bá Thừa tranh đoạt đường sắt Tân-Phố [Thiên Tân, Phố Khẩu]. Tháng 5, quân chính phủ tiến công Cân Mông Sơn [Yimengshan] tại phía nam tỉnh Sơn Đông ; đạo quân rất tinh nhuệ dưới quyền Trương Linh Phố giao chiến với quân Trần Nghị tại Mông Âm [Mengyin, Sơn Đông], toàn quân 2 vạn bị tiêu diệt. Trong thời gian này, quân Trung cộng dưới quyền Niếp Vĩnh Trăn liên tiếp chiếm các thành dọc theo đường sắt Bình-Hán [Bắc Bình, Hán Khẩu] ; uy hiếp Bảo Định [Baoding, Hà Bắc], Bắc Bình. Cho đến lúc này, 25 sư đoàn quân chính phủ tương đối mạnh, với lực lượng 30 vạn đã hy sinh ; đại bộ phận tỉnh Sơn Tây vào tay quân Giải phóng dưới quyền Từ Hướng Tiền, Hạ Long ; phía chính phủ Tuy tĩnh chủ nhiệm Diêm Tích Sơn bị vây khốn tại tỉnh lỵ Thái Nguyên [Taiyuan, Sơn Tây].


Chiến tranh tại tỉnh Thiểm Tây rất được dư luận trong, ngoài nước lưu ý ; trải qua 5 ngày chiến đấu, vào ngày 19/3 Tuy tĩnh chủ nhiệm Tây An, Hồ Tông Nam, đánh chiếm Diên An, thủ phủ của trung ương Trung cộng trong 10 năm, Mao Trạch Đông phải chạy lên phía bắc. Nhưng quân Hồ Tông Nam không biết rõ vị trí quân chủ lực Trung cộng, nên trong vòng hơn 1 tháng, bị thua 3 lần. Tháng 6, quân Hồ tại phía tây bắc Diên An hoạch thắng, quân Giải phóng chuyển sang phía đông bắc Diên An ; tháng 8 lại chiến thắng tại vùng phụ cận Du Lâm [Yulin, Thiểm Tây], nhưng bổ sung khó khăn, quân lính ngày một hao tổn ; lại phân binh phía đông viện trợ cho tỉnh Sơn Tây, phòng thủ sông Hoàng Hà, lâm vào tình trạng chi trì được bên trái, thì mất bên phải.


Chiến cuộc tại miền đông bắc, quân chính phủ cũng lâm vào địa vị bất lợi. Sau khi thu phục được Tứ Bình Nhai [Sipingjie, Trường Xuân], Tham mưu trưởng Trần Thành không chấp thuận tăng quân, binh lực không đủ. Quân Lâm Bưu kinh qua bổ sung chỉnh huấn, từ tháng giêng đến tháng 3 lại vượt sông Tùng Hoa, tiến công vào vùng Trường Xuân. Tháng 5, phát động tấn công lần thứ năm, quân chính phủ cố thủ. Tư lệnh Bảo an miền đông bắc Đỗ Duật Minh không hoà mục với Quân trưởng Tôn Lập Nhân, nhân sĩ địa phương thì bất mãn với Chủ nhiệm hành doanh Hùng Thức Huy, sĩ khí xuống thấp, lòng dân dao động. Ngày 11/6 Cộng quân vây Tây Bình Nhai, Hùng Thức Huy báo cáo với bộ quốc phòng rằng “ Mấy lần hội chiến, quân lực tiêu hao, tổn thất nặng ; đã không tăng viện, mà khí giới bổ sung không đủ số, lại quá chậm… Cộng quân gia tăng mau chóng, so ra chênh lệch… Lực lượng phản công không đủ số, chia ra cố thủ cũng không dễ… Tiền đồ thiết tưởng không kham nỗi… Các mặt Liêu đông, Liêu nam đã bị hở… Tứ Bình Ngai bị vây đánh nặng nề… Hoả lực của chúng so với ta mạnh hơn ”. Ngày 14, Cộng quân đánh vào khu thị tứ của Tứ Bình Nhai, ác chiến với quân phòng thủ của Trần Minh Nhân ; Bản Khê [Benxi] tại phía nam Liêu Ninh không giữ được, Doanh Khẩu [Yingkou, Liêu Ninh] bị vây ; ngày 30, Cộng quân tuy rút, nhưng quân chủ lực không bị thiệt hại. Ngày 7/7, Hùng Thức Huy báo cáo Cộng quân tại Cáp Nhĩ Tân, Giai Mộc Tư, Tề Tề Cáp Nhĩ bổ sung 17 vạn quân ; quân chính phủ tổn thất đến 7 sư đoàn, phần nửa vũ khí vào trong tay Cộng quân. Ngày 24/7, Hùng lại bảo “ Nếu không gia tăng quân sinh lực, sự nguy hiểm trong tương lai, lại càng gia tăng hơn trước… Nguồn binh và lương đều kiệt… Tứ Bình Nhai giải vây được 1 tháng, mà tân binh bổ sung chỉ có 2400 người… Riêng tân binh Cộng phỉ được huấn luyện, lục tục bốn phương tranh nhau đến ”.


Ngày 4/7/1947, Quốc dân chính phủ tuyên bố tổng động viên toàn quốc đề dẹp tan đảng Cộng phản loạn. Cùng tháng, Cộng quân toàn diện tiến công ; quân Lưu Bá Thừa từ phía nam Hà Bắc, tây Sơn Đông vượt sông Hoàng Hà tiến đánh quân chính phủ tại biên khu Hà Nam, Sơn Đông ; quân chính phủ đánh chiếm căn cứ địa Nam Ma [Nanmazhen, Sơn Đông] tại miền trung Sơn Đông. Tháng 8, quân Lưu Bá Thừa đi xuyên qua đông nam tỉnh Hà Nam, chiếm vùng Đại Biệt Sơn [Dabie mountain, Hồ Bắc] tại biên giới Hà Nam, Hồ Bắc ; khiến thành Vũ Hán phải giới nghiêm. Cộng quân dưới quyền Trần Canh từ phía nam tỉnh Sơn Tây, vượt sông Hoàng Hà, thâm nhập vào phía tây nam tỉnh Hà Nam. Đạo quân Trần Nghị từ phía nam tỉnh Sơn Đông, tiến vào vùng sông Hoài [Huaihe, river] tại biên khu hai tỉnh An Huy, Sơn Đông, uy hiếp thành Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô] ; từ tháng 9 trở về sau, lại có một chi riêng đánh phía đông tỉnh Sơn Đông. Tháng 10, quân dưới quyền Niếp Vĩnh Trăn tại tỉnh Hà Bắc, đánh phá phía nam Bảo Định [Baoding, Hà Bắc], tháng 11 chiếm Thạch Gia Trang [Shijia zhuang, Hà Bắc]. Tháng 12 quân Lưu Bá Thừa, Trần Nghị, Trần Canh chiếm các thành thuộc tỉnh Hà Nam, như Hứa Xương [Xuchang, Hà Nam]. Quân Bành Đức Hoài đánh phá các thành phía nam Thiên An [Qian’an, Hà Bắc], quân Hạ Long tại phía nam tỉnh Sơn Tây đánh chiếm Vận Thành [Yuncheng, Sơn Tây]. Xét chung, tình thế lúc bấy giờ đảo ngược ; Cộng quân từ thế thủ chuyển sang thế công, riêng quân chính phủ rút sang thế thủ cũng không ổn. Chính phủ muốn thống nhất chỉ huy miền Hoa bắc và chi viện cho đông bắc, dùng Truyền Tác Nghĩa làm “ Tổng tư lệnh tiễu phỉ Hoa bắc ”, đặt bản doanh tại Bắc Bình.


Hùng Thức Huy tại miền đông bắc không còn cách ứng phó, lại xin rút lui. Tháng 9, Trần Thành thay thế, cùng cho triệt viên Tư lệnh bảo an. Trần Thành tỏ ra ý khí mạnh, tuyên bố không để cho Cộng quân thực hiện thế công lần thứ 6. Quân chính phủ gồm 14 quân, 55 vạn người ; Trần lo phối trí điều động đốc thúc tinh thần, lại đi đến chỗ mất nhân tâm ; như việc Trần Minh Nhân từng cố thủ Tây Bình Nhai [Sipingjie, Cát Lâm] bất mãn, phải bỏ chức. Đến tháng 10, Lâm Bưu phát động tấn công cho quý thu tại Trường Xuân [Changchun, Cát Lâm] và Liêu Tây, cắt đường sắt giao thông, quân chính phủ bị tổn thất lớn. Tháng 12, lại phát động thế công cho mùa đông, bức bách vùng ngoại ô Thẩm Dương [Shanyang, Liêu Ninh], đánh bại quân chính phủ tại trấn Bạch Kỳ [Baiqizhen, Cát Lâm] ; chính phủ bèn triệu hồi Trần Thành, dùng Vệ Lập Hoàng làm “ Đông bắc tiễu phỉ tổng tư lệnh ”.


Vào tháng 10/1947, Mao Trạch Đông với danh nghĩa Tổng bộ Giải phóng quân, phát biểu tuyên ngôn về chính trị, hiệu triệu liên hiệp công, nông, binh, học, thương, các giai cấp bị áp bức, các đoàn thể nhân dân, các đảng phái dân chủ, các dân tộc thiểu số, Hoa kiều, tổ chức thành chiến tuyến dân tộc, đả đảo chính phủ Tưởng độc tài, bắt và trừng trị tội phạm nội chiến. Đối với nhân viên của Tưởng, cũng không quá bài xích, sử dụng phương châm phân biệt đối đãi, hy vọng bọn họ lập công khởi nghĩa. Cùng tháng, cho ban bố 3 kỷ luật và 8 hạng lưu ý của quân Giải phóng. Riêng Trung cộng trung ương công bố đại cương về chính sách đất đai ; cổ vũ nhân dân tham chính, tham quân, tham chiến, chi viện tiền tuyến. Tháng 12, Mao Trạch Đông nhận định hiện tại là điểm biến chuyển của chiến tranh cách mệnh, là thời điểm cho chủ nghĩa đế quốc trên 100 năm phát triển tại Trung Quốc đến hồi tiêu diệt, là biến cố vĩ đại. Trước đó 15 tháng, Mao dự liệu phải mất khoảng 5 năm mới có thể đánh đổ quân đội chính phủ, hiện tại do thắng lợi nắm trong tay, nên ước tính thời gian không lâu. Ý khí của Mao mạnh như Tưởng Giới Thạch vào năm 1926 trên đường Bắc phạt, sau khi bình định được tỉnh Hồ Nam.


Tháng 1/1948, chính phủ đổi sang chiến lược phòng thủ phân khu ; từ phía nam sông Hoàng Hà chia thành 20 phân khu ; thanh xưng rằng trong vòng 1 năm tiêu diệt xong lực lượng nổi của Cộng quân, từ 1 đến 2 năm tảo thanh hết. Nhưng Cộng quân thế công càng thêm mạnh ; cũng vào tháng 1 Giải phóng quân vùng đông bắc đại phá quân chính phủ tại Liêu Tây ; tháng 2 chiếm Liêu Dương [Liaoyang, Liêu Ning], An Sơn [Anshan, Liêu Ninh] ; tháng 3 chiếm Tây Bình Nhai, Vĩnh Cát. Tại Hoa bắc, quân chính phủ dưới quyền Truyền Tác Nghĩa vào tháng 1, bại tại Lai Thuỷ [Laishui] phía tây bắc Bắc Bình ; tại miền tây bắc vào tháng 3, quân Hồ Tông Nam bại tại Nghi Xuyên [Yichuan, Thiểm Tây], Thiểm Tây. Ngày 22/4, Cộng quân chiếm lại Diên An, quân Bành Đức Hoài tiến chiếm vùng Kinh Thuỷ [Jingshui, Thiểm Tây], Vị Thuỷ [Weihe River, Thiểm Tây] ; vào tháng 5 bị quân Hồ Tông Nam đánh lui. Tháng 7, quân Diêm Tích Sơn bại tại miền trung tỉnh Sơn Tây, tỉnh lỵ Thái Nguyên hoàn toàn bị vây. Tại tỉnh Sơn Đông, ngoại trừ các thành như Tế Nam [Jinan], Thanh Đảo [Qingdao], Yên Đài [Yantai] ; tại miền đông bắc, ngoại trừ Trường Xuân [Changchun, Cát Lâm], Thẩm Dương [Shanyang, Liêu Ninh], Cẩm Châu [Jinzhou, Liêu Ninh], phần còn lại coi như bị Giải phóng quân chiếm hết.


Sau tháng 3, quân dưới quyền Lưu Bá Thừa, Trần Canh, Trần Nghị tung hoành tại miền trung tỉnh Hà Nam, cùng biên khu Hà Nam, Hồ Bắc. Vào ngày 5/4, Trần Canh chiếm Lạc Dương [Luoyang, Hà Nam] ; vào ngày 18/6, quân Lưu Bá Thừa, Trần Nghị vào Khai Phong [Kaifeng, Hà Nam], cùng quân chính phủ kịch chiến tại đông nam Khai Phong ; trận chiến kéo dài 10 ngày, đây là trận địa chiến quy mô, thắng bại tương đương. Tháng 7, Trần Nghị đánh chiếm Duyện Châu [Yanzhou] tại Sơn Đông ; Trần Canh đánh chiếm thành Tương Dương [Xianyang] thuộc tỉnh Hồ Bắc.


Tổng kết trong vòng 2 năm, quân chính phủ tổn thất khoảng 100 vạn, quân Giải phóng gia tăng gấp bội ; quân chính phủ từ 430 vạn, giảm xuống 365 vạn ; quân Giải phóng từ 135 vạn, tăng đến 280 vạn. Khu giải phóng diện tích 230 vạn km2 ; gồm miền đông bắc, Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ, Sơn Tây, Hà Bắc, Sơn Đông, phần lớn tỉnh Hà Nam, một phần tỉnh Giang Tô, Thiểm Tây ; nhân khẩu khoảng 168 triệu, số đảng viên Trung cộng khoảng 3 triệu.



2. Cấp bách về nội chính ngoại giao



Trong vòng năm 1947, nội chiến lan tràn ; vật giá leo thang không ngừng. Từ tháng 2, đồng Mỹ kim và giá vàng tăng cao, lòng người chao đảo. Tham chính viên Phó Tư Niên đả kích nặng bọn tư bản cửa quyền, qua bài phát biểu gây chấn động “ Không đuổi Tống Tử Văn đi, không xong ! ”, hội nghị Tham chính yêu cầu phân xử Tống Tử Văn. Tháng 3, Quốc dân đảng triệu tập Tam trung toàn hội, Tưởng Giới Thạch tuyên bố con đường giải quyết bằng chính trị với Trung cộng hoàn toàn tuyệt vọng. Trong cuộc hội, nhận định ngoại giao với Nga thất bại, tình hình tại Đài Loan nghiêm trọng ; đả kích Bộ trưởng ngoại giao Vương Thế Kiệt, Trưởng quan hành chánh Đài Loan Trần Nghi. Tháng 4, chính phủ cải tổ, Tưởng tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quốc dân chính phủ, Tôn Khoa Phó chủ tịch, Trương Quần làm Viện trưởng hành chánh. Uỷ viên quốc dân chính phủ, Uỷ viên hành chánh viện chính vụ, có sự tham dự của thành phần các đảng Thanh niên, Dân chủ xã hội, cùng nhân sĩ vô đảng phái ; có thể gọi là chính phủ liên hiệp, nhưng phạm vi không được rộng rãi.


Lúc bấy giờ kinh tế, chính trị nguy cấp, tranh luận rầm rộ ; một số Uỷ viên lập pháp, tham chính chủ trương mời đại biểu Trung cộng đến thảo luận, nhưng bị cự. Tháng 6, Tôn Khoa phát biểu chỉ trích Nga Xô đã giúp cho Trung cộng tại miền đông bắc, cùng chính sách xâm lược của nước này tại Ngoại Mông Cổ, Tân Cương ; lại bảo Quốc cộng đàm phán thất bại do Nga Mỹ mâu thuẫn, nước Mỹ cần biểu thị thái độ cương quyết.


Trước đó gần 1 năm, vào ngày 29/7/1946, nước Mỹ bắt Quốc dân chính phủ phải nhượng bộ Trung Cộng, với biện pháp cấm vận vũ khí đạn dược trong vòng 10 tháng, làm suy nhược năng lực chiến đấu. Vào ngày 4/11, ký Trung, Mỹ thương ước, nước Mỹ hưởng rất nhiều quyền lợi kinh tế, trái với nguyên tắc hai bên đều có lợi, làm tổn thương thanh danh Quốc dân chính phủ. Quốc vụ viện Mỹ tuyên bố trước khi đại cuộc Trung Quốc được cải thiện, sẽ không cho mượn tiền. Riêng Nga Xô và Trung cộng thì đả kích Mỹ can dự vào nội chính Trung Quốc, chỉ trích Quốc dân chính phủ vì lợi ích Mỹ, bán đứng Trung Quốc.


Từ tháng 7 đến tháng 8/1957 tướng A. C. Wedemeyer [Uy Đức Mại], nguyên Tổng tư lệnh quân Mỹ và Tham mưu trưởng chiến khu Trung Quốc thời chiến tranh chống Nhật, nay với tư cách là Đại biểu của Tổng thống Mỹ đến Trung Quốc quan sát. Trước khi rời Trung Quốc, Wedemeyer diễn thuyết trước các thủ trưởng Quốc dân chính phủ, nghiêm khắc chỉ trích chính phủ thi thố sai lầm về quân sự, cùng quan quân tham nhũng. Trung Quốc phục hưng cần sự lãnh đạo phấn chấn nhân tâm ; triệt để và quy mô thi hành chính trị, kinh tế cải cách ; chỉ riêng vũ lực quyết không thể tiêu diệt chủ nghĩa Cộng sản. Wedemeyer đệ trình 2 kiến nghị lên Tổng thống Truman : Đặt miền đông bắc vào sự giám hộ của 5 nước Nga, Mỹ, Trung, Anh, Pháp ; hoặc chịu sự thác quản của Liên Hiệp Quốc. Lấy 5 năm làm kỳ hạn, do nước Mỹ viện trợ kinh tế cho Trung Quốc, thiết thực cải cách, nhưng không lao vào nội chiến. Nhưng các đề nghị này không được Tổng thống Truman và Thống tướng Marshall tiếp thu.


Quốc dân chính phủ đối với cuộc hành trình đến Trung Quốc của tướng Wedemeyer, lúc đầu tỏ ra hy vọng, nhưng rồi lại tỏ ra phản cảm. Tưởng nghi rằng nước Mỹ muốn ép ông ta thoái vị, vào tháng 9 bèn thông báo cho toàn thể Uỷ viên ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng rằng không thể tiếp tục hy vọng nước Mỹ viện trợ, đáng tìm cách quan hệ với Nga. Tôn Khoa cũng nói với các ký giả rằng, Trung Quốc không thể lưỡng lự bất quyết, nếu buộc phải hướng về Nga Xô, chính phủ có thể hoà giải với Trung cộng. Tháng 11, Thống tướng Marshall tuyên bố từ năm 1948 cho vay 300 triệu Mỹ kim, tức mỗi tháng 20 triệu. Nhưng Quốc dân chính phủ cho là giúp đỡ nhỏ giọt, xin cứu tế khẩn cấp thì không được chấp nhận. Đại sứ Mỹ Stuart cho rằng chính phủ Trung Quốc có hiện tượng muốn giải thể ; không hy vọng Tưởng có thể giữ chức lãnh tụ, hiệu triệu dân chúng khôi phục ý chí tác chiến. Quốc dân chính phủ yêu cầu tiền vay là 1,500 triệu Mỹ kim, mãi cho đến tháng 7/1948 chỉ được số viện trợ kinh tế 175 triệu Mỹ kim, đặc biệt tăng thêm viện trợ quân sự là 125 triệu Mỹ kim.


Xét tổng quát, Trung cộng tại miền đông bắc được Nga xô trao cho vũ khí tịch thu từ Nhật, cũng không bằng số lượng Quốc dân chính phủ tước khí giới Nhật tại phía trong quan ải. Nhưng trong cuộc chiến Cộng quân thường chiếm thượng phong, do quân dân một lòng là lý do chính. Còn phía chính phủ, các viên chức văn võ phần lớn tự tư tự lợi, chia rẽ đố kỵ, xã hội biến động, khiến trật tự không thể bảo trì. Cơ cấu về kế hoạch tác chiến, cùng những người nắm trọng trách, vô tình hay hữu ý bị Trung cộng lợi dụng, nhất cử nhất động của quân chính phủ, Cộng quân đều biết, nên không chỗ nào họ không thắng.


Tháng 11/1947, chính phủ mở Quốc dân đại hội tuyển cử, đa số người trúng tuyển thuộc hệ C.C. 1, ứng cử viên các đảng Thanh niên, Dân chủ đều bị rớt ; nên xẩy ra kháng nghị tuyệt thực, tranh giành cho đến chết. Chính phủ bắt Quốc dân đảng thoái nhường, nội bộ sinh ra tranh đấu náo loạn. Tháng 3/1948 Quốc dân đại hội khai mạc, tháng 4 Tưởng được tuyển làm Tổng thống. Có 6 ứng viên Phó tổng thống tranh chức, Tưởng nghiêng về Tôn Khoa ; Trấn thủ Bắc Bình Lý Tông Nhân, người được nhân tâm ủng hộ, quyết tranh không chịu nhường. Vì chức Phó tổng thống có cơ hội thay Tưởng nắm quyền Tổng thống, nên cuộc tranh cử khá gay go ; qua 4 lần đầu phiếu Lý Tông Nhân thắng, Tưởng rất lấy làm bất mãn. Quốc dân đảng đề cử Tôn Khoa làm Chánh viện trưởng lập pháp, Trần Lập Phu làm Phó viện trưởng ; phái phản đối hệ C. C. chống lại nhưng không thành. Viện trưởng hành chính do cựu Bộ trưởng kinh tế Ông Văn Hạo đảm nhiệm, nhưng không được các phe ủng hộ ; bấy giờ là lúc Giải phóng quân Trung cộng rong ruổi chiếm cứ nhiều nơi tại vùng trung nguyên phía bắc sông Trường Giang.


3. Nền kinh tế suy sụp mau chóng



Sau khi Nhật Bản đầu hàng, mọi người đều cho rằng chiến tranh đã chấm dứt, không còn nạn phong toả, từ nay trở về sau không lo về vật tư. Do đó những hàng hoá tích trữ tung ra thị trường, vật giá đột nhiên xuống, vàng và đồng Mỹ kim cũng xuống theo. Không ngờ 2 tháng sau vật giá lại tăng cao, một số ngân hàng tư phải đóng cửa, công thương nghiệp trở nên đình trệ. Nguyên nhân thứ nhất, cuộc nội chiến xảy ra quyết liệt, Trung cộng đưa nhiều thủ đoạn làm khó chính phủ, ngăn chặn đường sắt, đánh phá các khu xưởng, nông thôn, mỏ khoáng ; ngăn trở sự lưu thông giữa khu vực sản xuất và tiêu thụ. Thứ 2, quân dụng tiêu quá nhiều, số dân tị nạn chính phủ cần cứu tế, kinh phí chi ra rất nhiều. Thứ ba, vùng trung tâm công nghiệp nặng tại miền đông bắc bị Nga Xô chiếm, phần lớn miển Hoa bắc do Trung cộng khống chế, số quân chính phủ tiến chiếm các vùng này, cũng cần cấp dưỡng từ hậu phương. Thứ tư do mối tệ tiếp thu hỗn loạn, các xí nghiệp cũ của Nhật Bản hoặc bị giải thể, hoặc bị đình trệ ; lại có không ít các xưởng của dân bị quân chính hoặc đặc vụ cho là xưởng nguỵ, tự tiện bắt đóng cửa ; khiến công nhân thất nghiệp, ngồi ăn không núi cũng mòn, máy móc thì bị han rỉ ; hơn nữa thuyền máy, hoả xa, công xưởng thiếu nhiên liệu, không có cách gì để hoạt động bình thường. Cơ quan đặc vụ mượn tiếng thanh trừ Hán gian, vơ vét hạch sách, tự tiện lộng hành gây hoạ phúc, khiến lòng dân căm phẫn. Càng gây nên bất mãn lớn trong xã hội là tỷ suất đổi tiền vô lý giữa tiền nhà nước và tiền nguỵ [tiền lưu hành tại vùng Nhật chiếm]. Trong thời gian Nhật chiếm đóng, tại vùng Hoa trung, Hoa nam có loại tiền giấy “ Trung trữ khoán ” do Trung ương chuẩn bị ngân hàng phát hành ; tại Hoa bắc có loại tiền “ Liên trữ khoán ” do Liên hợp ngân hàng phát hành. Chính phủ ban hành Pháp tệ, quy định giá trị đối với Trung trữ khoán theo tỷ lệ 1/200, đối với Liên trữ khoán theo tỷ lệ 1/5, hạn định thời gian đổi là 4 tháng. Trong thời gian này, nhân dân vùng mới thu phục tranh nhau dùng tiền nguỵ mua đồ, tiền Pháp tệ tại hậu phương cũng tung vào vùng mới thu phục để mua hàng và bất động sản, khiến vật giá gia tăng, lòng dân oán hận. Năm 1946, lại phát hành Đông bắc lưu thông khoán, loại tiền này du nhập vào trong quan ải [Sơn Hải Quan, Shanhaiguan, Hà Bắc] trao đổi với Pháp tệ, để mua bán vàng.


Trong thời gian chiến tranh, vùng bị chiếm do Nhật Bản hoành hành bóc lột ; riêng vùng không bị địch chiếm đóng cũng bị sưu dịch, quân lương, đóng góp vật lực, lao lực. Sau chiến tranh, nguyên khí chưa được khôi phục, thì nội chiến lại xayy ra. Năm 1946, tại các tỉnh Hà Nam, Hồ Nam, đất hoang so với số canh tác, chiếm từ 30 đến 40%. Các tỉnh khác cũng tương tự, nhưng việc đòi nạp lương, bắt lính, thì gấp như lửa cháy. Trước chiến tranh một mẫu ruộng đất nạp 1.4 nguyên, tương đương 1 đấu 5 thăng đến 2 đấu [1 đấu tương đương 28 kg] ; sau cuộc chiến ngoài số thực thu, lại quyên vay thêm, khoảng từ 6 đấu đến 9 đấu, nếu trồng lúa mạch thì không đủ để nạp.


Nông thôn điêu tàn, không còn năng lực cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cũng không có tiền để tiêu thụ thành phẩm của công nghiệp. Đơn cử về ngành dệt, hoặc do thiếu nguyên liệu bông vải, hoặc do lụa vải dệt ra không tiêu thụ được, hoặc đình công, hoặc sản xuất giảm ; vào năm 1946 các hãng xưởng tại Tứ Xuyên một nửa đình công, các xưởng tại Thượng Hải so với trước thời chiến tranh, chỉ mở lại 1/3. Tỷ suất xuất khẩu đối với nhập khẩu là 1/3.7.


Chính phủ thu thuế chỉ được 37% số tiền chi ; sự thiếu hụt một phần nhỏ dựa vào việc bán vàng, Mỹ kim, và tải sản Nhật Nguỵ bù vào ; phần lớn dựa vào việc tăng gia phát hành Pháp tệ. Năm 1935 số lượng Pháp tệ phát hành là 1.032 tỷ nguyên, năm 1946 tăng lên 4 lần, năm 1947 tăng lên 33 lần, năm 1948 tăng lên 370 lần. Sau cuộc chiến chính phủ nắm được 900 triệu Mỹ kim ngoại hối, số lượng vàng tương đương 400 triệu Mỹ kim, tài sản Nhật Nguỵ tương đương 1 tỷ mỹ kim. Viện trưởng hành chánh Tống Tử Văn cho rằng nhập khẩu hàng hoá ngoại quốc, xuất khẩu vàng và Mỹ kim có thể cải biến hiện tượng cung cầu, và làm cho đồng Pháp tệ trở nên cân bằng, hàng hoá không tăng cao. Ngoại tệ do chính phủ cung cấp, hàng xa xỉ nhập vào lại đóng thêm 50% thuế, nên được khuyến khích. Do đó hàng ngoại hoá xa xỉ đầy rẫy trên thị trường, các hãng tư cần mua nguyên liệu cơ khí thì không được chấp thuận, khiến ngăn cản sự sản xuất. Dư luận cho rằng Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy tham ô trong việc nhập khẩu hàng xa xỉ. Đầu năm 1946 đồng Mỹ kim khan dần, mới bắt đầu cấm nhập cảng hàng xa xỉ ; so đồng Mỹ kim với đồng Pháp tệ từ tỷ số 1/20 nguyên, lên đến 1/204 nguyên, rồi tăng lên đến 1/3000 nguyên cũng chưa dừng. Đầu tháng 11, số Mỹ kim tồn trữ hao đến ½. Tháng 2/1947, giá 1 đồng Mỹ kim từ 1 vạn nguyên tăng lên đến 18.000 nguyên ; vàng từ 50 vạn nguyên 1 lượng tăng lên đến 93 vạn nguyên ; ngoại tệ dự trữ từ 900 triệu Mỹ kim sụt xuống chỉ còn 100 triệu, phần lớn đều vào tay những người có quyền thế. Ngày 26/2, chính phủ tuyên bố phương án kinh tế khẩn cấp, cấm chỉ mua bán ngoại tệ, vàng ; quản lý vật giá tiền lương. Sau 1 tháng, vàng, Mỹ kim, hàng hoá xuất hiện trên chợ đen ; vật giá lên nhanh như ngựa buông cương, đặc biệt là thực phẩm, vải vóc. Tháng 5, tại Chiết Giang, Tứ Xuyên phát sinh phong trào cướp lương ; rồi bỏ việc hạn giá, chính sách quản lý của nhà nước thất bại. Tháng 8, đồng Mỹ kim lên tới 4,5 vạn nguyên ;1 lượng vàng lên tới 250 vạn nguyên. Tháng 12, phát hành đồng nguyên lớn 2 vạn, 4 vạn, 10 vạn ; giá gạo 1 thạch từ 40 vạn nguyên, lên tới hơn 100 vạn nguyên ; nói chung vật giá cao hơn năm trước 15 lần.


Chính phủ đánh giá lực lượng Trung cộng quá thấp, cho rằng trong thời gian ngắn có thể giải quyết xong vấn đề quân sự, sau đó sẽ giải quyết về kinh tế. Không ngờ chiến tranh kéo dài, mở rộng ; muốn bãi cũng không bãi được, nên phải dồn sức vào ứng phó. Lúc chính phủ biết được đối phó về mối loạn kinh tế còn nặng hơn về quân sự, thì đã chậm rồi. Trong lúc binh đao chưa chấm dứt được, thì không thể lo nổi 2 việc cùng một lúc, huống gì việc đề xuất mượn Mỹ 1.5 tỷ Mỹ kim không được đáp ứng. Tháng 1/1948 vật giá lại tăng cao, tháng 2 giá gạo 1 thạch lên đến 300 vạn nguyên, tháng 3 lên đến 440 vạn nguyên, tháng 6 đến 1.000 vạn nguyên, tháng 7 lên đến 3.000 vạn nguyên. Vào tháng 2 giá vàng 1 lượng 2.200 vạn nguyên, tháng 7 khoảng 110 triệu nguyên, tháng 8 lên quá 600 triệu nguyên. Người dân thường không no đã đành, công chức nhân viên cũng không đủ ba bữa ăn ; quan quân cao cấp lãnh được tiền lương của thuộc cấp thì đem ra mua vàng, đợi đến ngày phát lương bán ra lấy lời, thì giá trị đồng nguyên chỉ còn 2 hoặc 3/10.


Nhắm cứu vãn nguy cơ về kinh tế tài chánh, từ năm 1946 trở về sau nhiều lần bàn về việc cải cách tiền tệ. Ngày 19/8/1948, chính phủ ban bố lệnh khẩn cấp phán xét về kinh tế tài chính ; kể từ ngày hôm đó dùng đồng kim nguyên làm bản vị tiền tệ, hẹn vào ngày 30/9 đem kim nguyên đổi pháp tệ và Đông bắc lưu thông khoán. Quy định 1 đồng kim nguyên tương đương 300 vạn pháp tệ, hoặc 30 vạn Đông bắc lưu thông khoán ; 2 kim nguyên tương đương với 1 nguyên ngân tệ, 4 kim nguyên tương đương với 1 Mỹ kim. Lệnh dân không được giữ vàng, bạc, bạc nén, ngoại tệ ; phải đổi sang kim nguyên trước ngày 31/12, cùng hạn vào ngày 19/8 đăng ký nhân dân tồn giữ tư sản và ngoại tệ tại nước ngoài. Tổng ngạch phát hành kim nguyên là 2 tỷ, chỉ cần 200 triệu có thể đủ để hoán đổi pháp tệ ; như vậy với số 2 tỷ kim nguyên sẽ làm cho hàng hoá tăng giá gấp bội. Xét ra kim nguyên cũng chẳng cải cách được kinh tế, chỉ đổi một thứ tiền thành một thứ tiền khác ; hơn nữa nội chiến không ngừng, không thể bàn đến chuyện cải cách.


Nhắm thi hành triệt để pháp lệnh nêu trên, các thành phố lớn như Thượng Hải [Shanghai, Giang Tô], Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc], Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông] đều thiết lập Đốc đạo viên để quản lý kinh tế. Người phụ trách tại Thượng Hải là Tưởng Kinh Quốc, thi hành một cách mạnh mẽ, kiểm soát thương nhân đầu cơ, khống chế thị trường, sai áp tài sản phi pháp của các đại gia, ngay Dương Tử công ty của Khổng Tường Hy cũng bị dính líu về việc tích trữ thép, lụa gấm, xe hơi. Nhưng rồi trong vòng 1 tháng, vật giá dao động mạnh, công xưởng vì giá kim nguyên nên thiếu nguyên liệu, giảm công nhân. Lương thực do hạn giá, nên không nhập vào thị trường, khiến nhân tâm hoảng loạn ; nạn cướp gạo xảy ra tại nhiều nơi, như Thượng Hải, Nam Kinh. Ngày 31/10, chính phủ đành bỏ chính sách hạn giá, lương thực chiếu theo giá thị trường giao dịch, nhưng trong thành thị cũng khó tìm được chỗ bán lương thực. Ngày 11/11 quy định lại giá đổi, cứ 1.000 kim nguyên tương đương với 1 lượng vàng, 15 kim nguyên bằng 1 lượng bạc, 1 Mỹ kim bằng 30 kim nguyên. Kim nguyên phát hành được 3 tháng thì thất bại, những dân lành đã đem vàng bạc ngoại tệ ra đổi đều bị phá sản, lòng oán hận tràn ngập, khiến chế độ sụp đổ một cách nhanh chóng.


Chính sách cơ bản về kinh tế của Trung cộng, nhắm phát triển nông công nghiệp. Nông nghiệp chủ trương giảm tô, giảm tức 2, chía lại ruộng đất ; cùng đề xướng khai hoang, tu sửa thuỷ lợi ; tuy nhiên chưa đi vào tập thể hoá, nên nền kinh tế chưa bị đoạ lạc. Về công nghiệp, chú ý công nghiệp nhẹ, thủ công nghiệp ; tiền lương một nửa lãnh bằng thực phẩm. Thương nghiệp quản lý đối ngoại, không cho phép hàng hoá không cần thiết lưu nhập, cầu tự túc. Từ năm 1948 thành lập Nhân dân ngân hàng, phát hành tiền Nhân dân tệ thống nhất, vật giá tương đối ổn định.


4. Dân biến và các phong trào học sinh không ngừng tranh đấu



Vào cuối thời kháng Nhật, do việc thu lương, bắt lính, nên tại các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên dân biến xẩy ra, riêng Cam Túc nặng nề hơn. Sau khi kháng chiến thành công, vào tháng 9/1946 tại Tứ Xuyên loạn lạc lại xảy ra, có hàng chục vạn người tham gia, nhưng sau đó bình định được. Tháng 12, dân tỉnh Tây Khang [Xikang] 3 bị Chủ tịch tỉnh Lưu Văn Huy hoành hành vơ vét, nên một cuộc bạo động lớn xảy ra đông đến 50 vạn, tổ chức “ Chính trị cách tân uỷ viên hội ”, kéo dài đến 3 tháng. Năm 1947, dân tộc Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương bị Nga Xô phiến động, yêu cầu quân trung ương cùng chính quyền rút ra khỏi địa bàn, gây nên cuộc xung đột giữa người Hồi và Hán, rồi Duy Ngô Nhĩ thành lập nước tự trị mang tên Đông Thổ Nhĩ Kỳ Tư Thản, cùng các đội du kích tại các địa phương dấy lên, do vậy Chủ tịch tỉnh bị mất chức.


Nhân dân Đài Loan trải qua 50 năm bị Nhật cai trị, sau khi giải phóng hết sức hân hoan. Viên chỉ huy hành chính, Trần Nghi, mới đến trấn nhậm, độc quyền lũng đoạn kinh tế, những người giữ chức cao phần lớn là người ngoài tỉnh, nên dân Đài Loan rất bất bình. Vào ngày 28/2/1947, biến cố xảy ra tại Đài Bắc, chưa đến 3 ngày lan ra đến toàn tỉnh, tập kích quan binh, cướp đoạt vũ khí, ẩu đả những người không thuộc gốc Đài Loan. Chính phủ điều binh đàn áp, sau khi đổ bộ, tìm cách báo phục, dân Đài bị chết rất nhiều. Bộ trưởng quốc phòng Bạch Sùng Hy đến uỷ lạo, đồng ý cải cách kinh tế điều chỉnh nhân sự mới được yên; cuộc biến Đài Loan được gọi là “ Nhị nhị bát sự biến ”.


Phần lớn dân biến xảy ra tại nơi biên giới xa xôi, riêng phong trào học sinh dấy lên tại các đô thị. Các Giáo thụ đại học cùng học sinh vốn bất mãn với chính phủ từ lâu ; bắt đầu vào năm 1941, rồi ngày một gia tăng, đến sau cuộc chiến càng mãnh liệt, Trung cộng và Dân chủ đồng minh lại tìm cách cổ vũ sách động. Tháng 11/1945, Dân chủ đồng minh hiệu triệu phản đối nội chiến, các Giáo thụ tại liên hiệp đại học Côn Minh [Kunming, Vân Nam] hưởng ứng, học sinh bãi khoá yêu cầu dừng nội chiến, triệt thoái quân Mỹ tại Hoa, thành lập chính phủ liên hiệp. Ngày 1/12 xung đột với quân đội ; 8 người chết, hơn 10 người bị thương. Chính phủ tuy trừng phạt người phụ trách, nhưng cũng không chấm dứt được sự chỉ trích từ các phía.


Tháng 1/1946, vì vấn đề đông bắc, học sinh đại học Trùng Khánh [Chongqing, Tứ Xuyên] biểu tình thị uy chống Nga ; hình thành đối lập với phe chủ trương dừng nội chiến, chống Mỹ tại các thành thị khác. Nga Xô, Trung cộng chỉ trích tổ chức này phá hoại Quốc, Cộng hoà đàm, chống Nga Xô, do Quốc dân đảng xui dục, càng làm cho chính phủ thêm phần khó khăn. Sau khi chiến tranh khuếch đại, tại Thượng Hải có tổ chức “ Tranh thủ hoà bình liên hiệp hội ”, tháng 6 diễn hành phản nội chiến, yêu cầu thống nhất, kiến thiết. Tháng 7, các nhân vật quan trọng của Dân chủ đồng minh như Lý Công Phác, Văn Nhất Đa bị ám sát tại Côn Minh, càng làm cho phần tử trí thức thêm phẫn nộ. Từ tháng 9, Trung cộng công khai chỉ trích Mỹ viện trợ Tưởng nội chiến, phong trào phản Mỹ của giới học sinh lại bừng lên như lửa thêm dầu. Quân cảnh thực hành đàn áp, không ngừng bắt người. Giáo thụ yêu cầu bảo vệ nhân quyền, học sinh bãi khoá chống đối; đây là cao trào, lấy việc chống Mỹ làm chủ đề.


Sau khi chiến tranh thắng lợi, tiền lương của Giáo thụ đại học và học bổng của các học sinh thường được điều chỉnh nhưng cũng không theo kịp vật giá. Tháng 5/1947 nhân giá gạo vọt lên cao, phong trào đấu tranh của học sinh lại dấy lên mạnh, với khẩu hiệu “ Chống đói ”, “ Chống bách hại ”, bãi khoá đòi hỏi ; lãnh đạo phong trào là học sinh đại học trung ương tại Nam Kinh. Chính phủ chuẩn tăng thêm phụ cấp, phong trào phản đối lại thêm mạnh, lan ra khắp các miền nam bắc. Chính phủ tuyên bố lâm thời duy trì biện pháp trị an, không cho phép các đoàn thể thỉnh nguyện. Ngày 20/5, tại Nam Kinh, Bắc Bình học sinh xung đột với cảnh sát, mấy chục người bị thương, học sinh càng thêm khích động, đặt ngày 2/6 thành ngày “ Chống đói, chống nội chiến, chống bạo hành ”, yêu cầu thủ tiêu biện pháp trị an, trừng trị người phụ trách đàn áp. Phong trào chống đối nổi lên khắp nơi, quân cảnh bắt bớ nhiều ; học sinh cảm thấy khó nên chùn bước, do đó cuộc tổng bãi khoá, tổng diễn hành vào ngày 2/6 cuối cùng bị bãi bỏ. Quân cảnh vẫn tiếp tục đàn áp, 3 học sinh tại đại học Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc] chết, mấy trăm học sinh tại Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông], Trùng Khánh bị bắt. Tưởng Giới Thạch đến an ủi các Giáo thụ và học sinh, cách chức viên Tư lệnh cảnh bị Vũ Hán. Đây là cao trào vận động học sinh với chủ đề chống đói, chống nội chiến, chống đàn áp.


Tháng 7/1947, sau khi chính phủ tuyên bố động viên chống nội loạn, học sinh không còn dám đề xướng chống nội chiến. Tháng 10, Chủ tịch học sinh tự trị tại đại học Chiết Giang, bị bắt, tự sát ; phong trào học sinh lại dấy lên, nhưng không mãnh liệt bằng mấy tháng trước. Tháng 1/1948, tại đại học Đồng Tế, Thượng Hải, phản đối học sinh bị đuổi, ẩu đả với Thị trưởng. Tháng 4, một bộ phận học sinh tại Bắc Bình kháng nghị giải tán Học sinh liên hiệp hội, bèn bãi khoá biểu tình ; nhưng lại có một bộ phận chủ trương chống bãi khoá.


Từ năm 1946 trở về sau, phong trào công nhân phản đối cũng thường phát sinh. Tháng 2/1947, công nhân Thượng Hải lập hội chống hàng hoá Mỹ; vào tháng 5, cùng học sinh phản đối nội chiến, chống đói. Tháng 9, công nhân xe điện đòi được đãi ngộ, công ty điện lực kháng nghị viên chức công hội bị bắt, bèn bãi công. Tháng 1 và 2/1948, vũ nữ và nhân viên vũ trường phản đối việc cấm khiêu vũ, phá huỷ trụ sở cục xã hội thành phố Thượng Hải, hơn 300 người bị bắt ; công ty xưởng dệt Thân Tân, vì vấn đề tiền lương chiếm cứ công xưởng, hơn 200 người bị bắt.


Cao trào thứ ba của học sinh, với chủ đề “ Phản Mỹ phù Nhật ”, tức chống Mỹ phù giúp cho Nhật sau khi đầu hàng và chống nguy cơ dân tộc. Tháng 5/1948 khởi sự tại Nam Kinh, Bắc Bình ; dán thiếp vẽ hình làm nhục Tưởng Tổng thống ; hai phái thân Cộng, phản Cộng, công kích ẩu đả. Tháng 6, Đại sứ Mỹ Stuart diễn thuyết cảnh cáo rằng nếu cứ tiếp tục vận động chống Mỹ, khả năng có thể đi đến bất hạnh ; bị Giáo thụ và học sinh phản bác. Tháng 7, học sinh đông bắc lưu vong tại Bắc Bình phá huỷ trụ sở Tham nghị hội, số học sinh chết 9 người, quân cảnh chết 2 người, Bắc Bình giới nghiêm. Tháng 8, học sinh lưu vong thuộc các tỉnh Hà Nam, Sơn Đông gây náo động tại bộ giáo dục, viện hành chánh. Từ đó chiến cuộc biến chuyển nhanh, Trung cộng thành công trở thành định cuộc, phong trào học sinh mới hoà hoãn trở lại.


Hồ Bạch Thảo









1 Hệ C. C. : tiếng tắt cho Central Club, nhóm thuộc hai anh em Trần Lập Phu, Trần Quả Phu, là cháu Trần Kỳ Mỹ, đồng chí của Tưởng ; nhóm này nắm trung ương đảng.

2 Gỉảm tô giảm tức : giảm nạp lúa, tiền để mướn ruộng; giảm tiền lời vay nợ.

3 Tây Khang : vị trí thuộc phía đông tỉnh Tây Tạng hiện nay, do Trung Hoa dân quốc thành lập tỉnh từ năm 1939-1949.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss