Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Lịch sử Trung Quốc hiện đại : Chiến tranh kháng Nhật (giai đoạn TQ tham gia Chiến tranh Thế giới) / Lịch sử Trung Quốc hiện đại : Chiến tranh kháng Nhật (giai đoạn TQ tham gia Thế chiến)

Lịch sử Trung Quốc hiện đại : Chiến tranh kháng Nhật (giai đoạn TQ tham gia Thế chiến)

Chương 3 (vè hết) : Chiến tranh kết thúc (1945)




Chiến tranh toàn bộ kháng Nhật

(Giai đoạn Trung Quốc tham gia Đệ nhị Thế chiến)




Hồ Bạch Thảo



Chương ba



Chiến tranh kết thúc [1945]


ttv

Tống Tử Văn [1894-1971]

Nguồn : Wikipedia


1. Quân Nhật thất bại tại Thái Bình Dương


Sau khi quân Nhật tập kích Trân Châu Cảng được 5 tháng, thế công hoành hành tại Thái Bình Dương đã bị quân Mỹ lấn át. Cuộc chiến từ tháng 10 đến tháng 12/1942 tại quần đảo Solomon [La Môn], Nhật thất bại. Đầu năm 1943 quân Mỹ tấn công mạnh ; vào tháng 6 phía Nhật phải tự nhận rằng không ít chiến hạm phi cơ bị huỷ, chiến tranh khẩn cấp. Mặt trận phía tây tại Âu Châu, phe Trục thất bại ; tháng 9, Ý đầu hàng. Đầu năm 1944, quân Mỹ luôn luôn thắng tại Thái Bình Dương, tháng 6 đổ bộ Saipan [Tái Ban], từ đó máy bay có thể oanh kích thẳng đến đất Nhật. Cùng tháng, hải không quân Mỹ chiến thắng lớn tại quần đảo Mariana, đây là thắng lợi quyết định ; hải không quân Nhật Bản suy sụp. Tháng 9, quân Mỹ chiếm đảo Palau [Cẩm Châu], oanh kích Phi Luật Tân. Tháng 10, đổ bộ Leyte [Lai Đặc, Phi Luật Tân], cùng oanh kích Đài Loan. Cuộc chiến tại Phi Luật Tân rất mãnh liệt, quân Nhật thất bại nặng. Từ tháng 11, không quân Mỹ lấy Saipan làm căn cứ, oanh kích mạnh vào thủ đô Tokyo và các thành thị lớn. Tháng 12, chiến tranh tại đảo Leyte kết thúc, 11 vạn quân Nhật bị tiêu diệt. Tháng 2/1945 quân Mỹ tiến chiếm Phi Luật Tân, và đổ bộ lên đảo Iwo Jima, tháng 3 toàn bộ quân Nhật trên đảo này bị tiêu diệt. Tháng 4, quân Mỹ đổ bộ đảo Okinawa ; lúc này Nhật Bản chủ trương phòng thủ nội địa, dùng đội phi cơ tự sát Thần Phong lao vào chiến hạm Mỹ oanh tạc, nhưng cũng không thể cứu vãn thế nguy. Tháng 6, khoảng 60 vạn quân Nhật tại Okinawa bị tiêu diệt. Tháng 7, phi cơ Mỹ không ngừng oanh tạc các thành thị và khu công nghệ Nhật ; sử dụng từ 500 đến 1000 máy bay, khiến Nhật Bản mất năng lực chiến đấu.


Tại Trung Quốc, sau khi các tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây gặp nguy cấp, bèn hiệu triệu thanh niên trí thức tòng quân, đề cao chất lượng quân đội. Vào tháng 12/1944 số nhập ngũ lên đến 12 vạn người, tổ chức thành Thanh niên quân. Lại thi hành kế hoạch chỉnh quân của tướng A. C. Wedemeyer, biên chế thành 36 sư đoàn xung kích, 9 sư đoàn phòng thủ, chia ra huấn luyện tại các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây và phía tây Hồ Nam ; nước Mỹ phụ trách trang bị và cấp dưỡng, do quan quân Mỹ huấn luyện. Chuẩn bị kế hoạch đánh Liễu Châu, Quế Lâm, Nam Ninh tại tỉnh Quảng Tây ; rồi chiếm bán đảo Lôi Châu [Leizhou] thuộc Quảng Đông, làm bàn đạp tiến ngược lên Quảng Châu và Cửu Long. Tại chiến trường Miến Điện Tư lệnh liên quân Mỹ, Trung D. Z. Sultan điều quân theo hai cánh : thứ nhất, từ Ấn Độ theo hướng đông đến Miến Điện ; thứ hai, từ Vân Nam theo hướng tây chiếm thị trấn Bhamo ; ngày 21/1/1945 hai cánh quân bắt tay, đường giao thông Ledo từ Ấn Độ đến Vân Nam được giải toả.


Từ ngày 9/4 đến 7/6 quân Nhật thực hiện cuộc tấn công tại huyện Chỉ Giang [Zhijiang] phía tây tỉnh Hồ Nam. Đây là cuộc tấn công lớn cuối cùng của quân Nhật trên đất Trung Quốc, với ý đồ chiếm phi trường tại nơi này và làm bàn đạp tiến đánh thủ phủ Trùng Khánh. Phía Nhật gồm 90 ngàn quân, do tướng Ichiro Banzai chỉ huy ; phía Trung Quốc gồm 110 ngàn, phần lớn là tân quân do Mỹ huấn luyện, cùng 400 máy bay yểm trợ, do Hà Ứng Khâm chỉ huy tổng quát. Quân Nhật chưa kịp đặt vững chân, thì quân Trung Quốc dựa thế rừng núi tấn công mãnh liệt. Trước hoả lực mạnh của bộ binh, lại bị phía Trung Quốc khống chế về không quân [phần lớn thuộc không lực Mỹ], quân Nhật khổ sở cầm cự, rồi phải rút lui. Phía Nhật bị đuổi bén gót, thiệt hại lớn ; Trung Quốc chiếm lại được nhiều đất. Thống kê về cuộc chiến, Nhật công nhận tử thương 27.000, nhưng Trung Quốc tuyên bố quân Nhật chết 36.358 ; riêng phía Trung Quốc tử thương 20,660 trong đó có 823 Sĩ quan.


Lúc này cuộc chiến tại Okinawa trở nên khẩn cấp, Nhật sợ Mỹ đổ bộ tại bờ biển Trung Quốc, nên điều quân về Thượng Hải, và phía nam tỉnh Sơn Đông. Tân quân tại Quảng Tây, Quí Châu thừa cơ tiến đánh, tháng 6 thu phục Liễu Châu, tháng 7 thu phục Quế Lâm.


2. Hội nghị tam cường tại Yalta, cùng Trung Nga đồng minh điều ước


Do Nga Xô thắng Đức tại chiến trường Âu châu, nước Mỹ mong mỏi Nga tuyên chiến với Nhật, do đó đối với Trung Quốc có phần coi nhẹ ; cuộc hội nghị tại Tehran [Đức Hắc Lan, Iran] giữa 3 cường quốc Mỹ, Anh, Nga vào tháng 12/1943 biểu lộ rõ. Năm 1944, cuộc chiến tại Quảng Tây, Hồ Nam thất bại ; Trung Quốc càng bị khinh khi. Lãnh đạo Mỹ ước tính rằng cuộc chiến tại Âu Châu thắng lợi không còn xa, tuy nhiên chiến thắng Nhật cũng phải cần thời gian ; Mỹ muốn Nga tham gia để bớt gánh nặng hy sinh. Nhưng muốn cho Nga Xô tham gia, phải có quyền lợi báo đáp, tức được chia sẻ một số lợi ích của Trung Quốc ; như vậy cần phải có sự bàn thảo ổn định giữa Nga Xô và Trung Quốc trước, để Mỹ khỏi phải can thiệp. Nếu không vậy, khi Nga Xô đánh Đức xong, chuyển sang đánh Nhật, lại mang đất giao cho Trung cộng, tạo thành thế lực mới ; thì chẳng khác gì việc đuổi cọp lại rước gấu vào.


Trong hội nghị tại Tehran, Tổng thống Roosevelt hy vọng Nga Xô tham gia đánh Nhật ; Stalin cũng muốn giành được các hải cảng tại Thái Bình Dương, những cảng này không bị đông đá trong mùa đông như tại Hắc Hải. Rồi Mỹ, Nga tiếp tục đàm phán việc Nga Xô tham gia đánh Nhật. Stalin bảo rằng sau khi đánh bại quân Đức khoảng 3 tháng, quân Nga sẽ quay sang đánh Nhật ; yêu cầu phía Mỹ chuẩn bị vận chuyển vật tư đến Tây Bá Lợi Á trước, cùng hoàn thành hiệp định quy định rõ những quyền lợi Nga Xô được báo đáp. Tưởng Chủ tịch hay tin, định phái Ngoại trưởng Tống Tử Văn đến Nga Xô. Thống soái Stalin bảo rằng hãy từ từ, đợi ông ta gặp Roosevelt trước ; rồi vào tháng 12/1944 gặp Đại sứ Mỹ Harriman nói rõ những điều kiện tham gia đánh Nhật bao quát Ngoại Mông độc lập, được mướn [tô tá] các cảng Lữ Thuận, Đại Liên và đường sắt Trung Đông 1. Harriman báo cáo với Roosevelt rằng nếu như không hoàn thành hiệp nghị, Nga xô có thể giúp Trung cộng chiếm miền đông bắc, tây bắc Trung Quốc để lập chính quyền ; nếu lập hiệp nghị Nga Xô sẽ giúp Tưởng Giới Thạch lãnh đạo và ủng hộ chính sách của Mỹ.


Ngày 4/2/1945, Roosevelt, Stalin, Churchill họp tại Yalta, bên bờ Hắc Hải ; một mặt bàn về Âu Châu sau cuộc chiến, một mặt thảo luận điều kiện Nga Xô tham gia đánh Nhật. Tại Âu Châu, xử lý về vấn đề Ba Lan hai bên tranh chấp gay go, Stalin lại chính thức đề xuất điều kiện trong cuộc chiến chống Nhật. Roosevelt đem hết tâm lực vào việc sớm đánh bại Nhật Bản, cố vấn quân sự của ông cho biết rằng hải quân Nhật Bản tuy thất bại, riêng lục quân coi như còn hoàn chỉnh, mấy chục vạn quân Quan Đông vốn nổi tiếng chiến đấu giỏi ; Nga Xô tham chiến, hy vọng có thể đánh tan đám quân này. Ngày 10/2 Roosevelt nhượng bộ, hôm sau ban bố cáo định ngày triệu tập hội nghị Liên hiệp quốc, đặt biện pháp quản chế nước Đức. Còn hiệp định về việc Nga Xô tham gia chiến tranh tại châu Á thì giữ kín không công bố ; nội dung sau khi chiến tranh Đức chấm dứt khoảng 2, 3 tháng, Nga Xô sẽ tuyên chiến với điều kiện như sau :


1. Bảo trì Ngoại Mông (Mông Cổ nhân dân cộng hoà quốc) nguyên hiện trạng.

2. Khôi phục quyền lợi Nga Xô trước khi Nhật Bản xâm lược vào năm 1904, gồm :

– Khôi phục phần đất phía nam đảo Sakhalin [Nga].

– Đặt Đại Liên [Dalian, Liêu Ninh] thành thương cảng quốc tế, bảo đảm quyền lợi ưu việt của Nga Xô tại đây. Riêng hải cảng Lữ Thuận [Lushun, Liêu Ninh], Nga Xô sẽ mướn [tô tá] cho hải quân dùng.

– Đường sắt Trung Đông và Nam Mãn do Trung Quốc và Nga Xô hợp doanh, bảo trì Nga Xô quyền lợi ưu việt. Duy trì toàn bộ quyền lợi Trung Quốc tại Mãn Châu.

3. Giao cho Nga Xô quần đảo Thiên Đảo [Kurils Island, Nga]


Đối với vấn đề Ngoại Mông và Mãn Châu ghi trong hiệp định, trù tính rằng sau khi Roosevelt yêu cầu Chủ tịch Tưởng đồng ý, Stalin sẽ cùng Trung Quốc ký Hữu hảo đồng minh điều ước.


Trong thời Đệ nhất thế chiến, các nước nhiều quyền lực trong Hiệp ước quốc bàn riêng với nhau, đem quyền lợi Trung Quốc ra bán ; nay trong hiệp định Yalta, quyền lợi Trung Quốc lại bị đem bán lần nữa. Roosevelt đã quên mất chuyện 4 năm về trước cùng Churchill tuyên bố trong Hiến chương Đại Tây Dương nguyên tắc rằng nếu chưa được nhân dân địa phương liên quan đồng ý, sẽ không cải biến lãnh thổ. Riêng Stalin thì cũng không thèm chiếu cố đến lời tuyên bố của Nga Xô đối với Trung Quốc rằng nguyện từ bỏ quyền lợi Nga Hoàng tước đoạt tại Mãn Châu cùng các nơi khác và từ bỏ các đất tô tá. Lại bỏ qua cả Trung Nga hiệp định ký năm 1924 thừa nhận Ngoại Mông Cổ là bộ phận của Trung Quốc, chủ quyền đường sắt Trung Đông do Trung Quốc xử lý. Trung Quốc tuy là thành viên của đồng minh, nhưng là nước yếu, vận mệnh do các cường quốc quyết định. Ngày 19/3 Chủ tịch Tưởng nhận được điện của Đại sứ tại Mỹ, Nguỵ Đạo Minh báo cáo việc Roosevelt gọi Nguỵ đến, bàn bạc về nội tình. Roosevelt nói rằng Stalin yêu cầu 3 việc : thứ nhất, chủ quyền Mông Cổ đáng thuộc về Trung Quốc ; thứ hai, đường sắt Trung Đông do Nga, Mỹ, Trung cùng quản lý ; thứ ba, Nga Xô mướn hải cảng Lữ Thuận. Roosevelt không nói hết sự thực, chắc còn có ý thăm dò phản ứng của Trung Quốc.


Roosevelt đối với hành động của Stalin tại Trung Quốc cũng không an tâm, nên vào đầu tháng 4/1945 sai Đại diện Patrick J. Hurley đến thăm Nga Xô. Sau khi Roosevelt mất được 3 ngày [15/4] Stalin và Ngoại trưởng Molotov [Mạc Lạc Thác Phu] lại thân minh rằng tán thành chính sách Mỹ tại Hoa, tôn trọng sự lãnh đạo của Tưởng Chủ tịch, để quân đội Trung Quốc thống nhất. Tổng thống mới của Mỹ, Truman [Đỗ Lỗ Môn], sai Hopkins [Hoắc Phổ Kim Tư] đến Nga, hy vọng Stalin khẳng dịnh rõ thái độ của Nga về địa vị và chủ quyền của Trung Quốc đối với Mãn Châu, cùng vai trò điều giải của Mỹ. Vào ngày 28/5, Stalin nhấn mạnh rằng vào tháng 8 Nga sẽ tuyên chiến với Nhật, nhưng trước tiên Trung Quốc cần tiếp thụ hiệp định Yalta ; ông ta sẽ hết sức xúc tiến việc Tưởng Giới Thạch lãnh đạo nước Trung Quốc thống nhất, thừa nhận Mãn Châu thuộc Trung Quốc, hy vọng trước tháng 7, Ngoại trưởng Tống Tử Văn sẽ đến Nga đàm phán.


Ngày 22/5, Đại diện Patrick J. Hurley đem nội dung hiệp định Yalta báo cho Tưởng Chủ tịch. Ngày 3/5 Tưởng triệu kiến Đại sứ Nga Xô Petro [Bỉ Đắc La Phu], ngỏ lời hy vọng Nga Xô tham gia chiến tranh chống Nhật, giúp Trung Quốc khôi phục Đông Tam Tỉnh 2, chính quyền hoàn chỉnh, nhưng không nên tô tá các hải cảng Lữ Thuận, Đại Liên. Vào ngày 10/8, Tưởng điện cho Ngoại trưởng Tống Tử Văn, lúc bấy giờ đang tham dự hội nghị thành lập Liên hiệp quốc tại Nữu Ước, nói rõ với Mỹ rằng quân cảng Lữ Thuận tối thiểu do Trung, Nga cùng sử dụng, thì không mất quyền tự chủ của Trung Quốc ; còn cho mướn, hoặc chiếm riêng một mình thì không thể thi hành. Tháng 9, Tổng thống Truman trao hiệp định Yalta cho Tống Tử Văn ; ngày 13, cho biết rằng Stalin tình nguyện giúp Trung Quốc phục hưng. Sứ giả Hopkins cũng cho biết Stalin xác nhận rằng sẽ chi trì Chủ tịch Tưởng và chính phủ, Trung cộng không có quan hệ gì với Nga Xô. Ngày 15/8, Đại diện Patrick J. Hurley yêu cầu Tưởng Chủ tịch chiếu theo hiệp định Yalta, lập đính ước với Nga Xô. Ngày 30/6 bọn Tống Tử Văn và Tưởng Kinh Quốc 3 đến Nga Xô. Ngày 2/7 phái đoàn Nga, Trung bắt đầu đàm phán, Stalin với thái độ ngạo mạn bảo rằng mọi việc cần căn cứ theo hiệp định Yalta trước đây Roosevelt đã ký, xếp các cảng Lữ Thuận, Đại Liên thành khu quân sự ; đường sắt Trung Đông, Nam Mãn thuộc sở hữu Nga Xô ; đặc biệt nhấn mạnh Trung Quốc phải thừa nhận Ngoại Mông độc lập, nếu không sẽ bị nước khác lợi dụng, Nga có thể mất vùng Viễn Đông. Tống Tử Văn biểu thị chấp thuận Ngoại Mông thành nước tự trị cao độ, có quyền cho Nga Xô trú quân. Stalin kiên trì xếp Ngoại Mông độc lập, nếu như không giải quyết, sẽ không đàm phán tiếp Trung, Nga điều ước.


Ngày 6/7, Tưởng Chủ tịch điện cho Tống Tử Văn rằng vấn đề Ngoại Mông chờ khi Trung Quốc được chân chính thống nhất, lãnh thổ không khiếm khuyết, mới xét đến. Nếu như Nga Xô bảo đảm lãnh thổ Đông Tam Tỉnh hoàn chỉnh, không chi trì Trung cộng cát cứ, không cổ vũ phản loạn tại Tân Cương ; Trung Quốc tình nguyện sau khi thắng Nhật, qua sự đầu phiếu của dân Mông Cổ, hứa cho độc lập. Đó là nguyện vọng cuối cùng của Trung Quốc, nếu không có sự bảo đảm, thì đàm phán sẽ ngừng. Ngoài ra với tư cách cá nhân, mệnh Tưởng Kinh Quốc gặp Stalin trình bày lý do không muốn cho Ngoại Mông độc lập. Stalin bảo rằng : “ Hôm nay không phải ta nhờ các ngươi đến giúp, nếu nước các ngươi có lực lượng đánh thắng Nhật, tất ta không đặt ra vấn đề yêu cầu… Ta sở dĩ cần Ngoại Mông Cổ, hoàn toàn tại quan điểm chiến lược quân sự… Nếu có một lực lượng quân sự từ Ngoại Mông tiến công Nga Xô, khống chế đường sắt Tây Bá Lợi Á, chúng ta gặp nguy hiểm ” Tưởng Kinh Quốc nói “ Nếu như các ông tham gia đánh Nhật, một khi Nhật Bản bại thì không còn lực lượng nào có thể chiếm Mông Cổ… Trung Quốc và các ông đính lập hữu nghị điều ước sẽ không nghĩ đến việc đánh các ông ; giá như Trung Quốc có tham vọng đó, cũng không có đủ lực lượng ”. Stalin nói “ Dân tộc Nhật Bản không phải không có khả năng dấy lên, điều ước ràng buộc cũng không thể dựa được ; riêng Trung Quốc chỉ cần thống nhất so với các nước khác sẽ tiến bộ nhanh… Anh bảo rằng Nhật Bản và Trung Quốc không đủ lực lượng chiếm Ngoại Mông đánh lại nước Nga ; nhưng lại không nói đến lực lượng thứ ba có thể làm điều đó ”. Tưởng Kinh Quốc hỏi phải chăng đó là nước Mỹ, Stalin đáp “ Đương nhiên ”.


Đại sứ Mỹ tại Nga, Harriman, nói với Tống Tử Văn rằng nếu như đàm phán bị đình đốn, Nga Xô vẫn khai chiến với Nhật, tiến công Mãn Châu, Mông Cổ, rồi vào trong Sơn Hải Quan [Shanhaiguan, Hà Bắc] không có ai ràng buộc, đối Trung Quốc càng thêm bất lợi. Một viên tham mưu quan trọng của Nga Xô nói với Tưởng Kinh Quốc rằng nếu như đàm phán Trung, Nga thành công ; Stalin sẽ giúp cho Quốc dân chính phủ thống nhất. Ngày 9/7, Tống Tử Văn đề xuất 3 điểm với Stalin : thứ nhất, Nga Xô bảo đảm chủ quyền, hành chính Đông Tam Tỉnh hoàn chỉnh ; thứ hai, Trung Quốc dùng phương thức chính trị xử lý cuộc phản loạn tại Tân Cương, Nga Xô đừng tiếp tế vũ khí cho bọn này ; thứ ba, Nga Xô viện trợ cho Trung Quốc chỉ giao cho chính phủ trung ương mà thôi. Trung Quốc tình nguyện sau khi quân Nhật bị đánh bại và Nga Xô thực hiện 3 điểm nêu trên, sẽ chấp nhận Ngoại Mông độc lập. Trung Quốc đã nhượng bộ về Ngoại Mông, Nga Xô cảm thấy mãn ý ; rồi qua 2 lần đàm phán tiếp, Tống Tử Văn trở về nước báo cáo. Ngày 17, Stalin dự hội nghi Potsdam [Đức] với Tổng thống Truman và Thủ tướng Churchill ; vấn đề đàm phán Trung, Nga tạm qua một giai đoạn.


Trong thời gian hội nghị Potsdam, Stalin kiên trì đòi sau khi ký xong hiệp định Trung Nga, Nga Xô sẽ khai chiến với Nhật. Lúc bấy giờ tại Mỹ đã thí nghiệm thành công bom nguyên tử, không cần Nga Xô tham chiến ; nhưng không có cách gì ngăn cấm Nga Xô tấn công miền đông bắc Trung Quốc. Ngày 26/7, Mỹ, Anh cùng Trung Quốc đưa ra công cáo, nhắc lại nghị quyết Cairo, đòi Nhật đầu hàng vô điều kiện. Tống Tử Văn không muốn tự mình ký Trung Nga điều ước, khi trở về Trùng Khánh bèn từ chức kiêm nhiệm bộ ngoại giao, người kế nhiệm là Vương Thế Kiệt. Ngày 7/8, Tống cùng Vương Thế Kiệt, Tưởng Kinh Quốc, Hùng Thức Huy, Thẩm Hồng Liệt, Tiền Xương Chiếu lại đến Mạc Tư Khoa đàm phán ; nhưng vẫn còn có tranh chấp. Stalin cho rằng Nhật Bản đã bị ném bom nguyên tử, sẽ đầu hàng ngay ; sợ mất cơ hội tham chiến, nên vào ngày 9/8 tuyên chiến với Nhật ; đồng thời cấp tốc đàm phán với Trung Quốc, doạ rằng nếu bàn không xong thì quân Trung cộng sẽ tiến vào Mãn Châu.


Ngày 10/8, do Nhật Bản đầu hàng, Tống Tử Văn triệu tập các đại biểu hội nghị, bàn luận sẽ không sửa đổi những điều quan trọng, phần đông chủ trương nguyên tắc bất biến, mong sớm ký hiệp ước. Đại sứ Mỹ Harriman khuyên Tống đừng nhượng bộ quá những điều ghi trong hiệp định Yalta ; chiều hôm đó Tống và Vương Thế Kiệt hội đàm thêm với Stalin, khẳng định đường biên giới Ngoại Mông do Trung Quốc đưa ra không cần thảo luận lại. Ngày 12, Tưởng Chủ tịch lại gửi điện khuyên rằng nếu đối phương không chấp nhận đường biên giới do Trung Quốc đưa ra thì cứ tỏ ra quyết liệt. Đoàn đại biểu cho rằng cần cấp tốc giải quyết, không nên khăng khăng về biên giới ; đề nghị Tống, Vương điện cho chính phủ Trùng Khánh xin được toàn quyền. Đồng thời Tưởng Kinh Quốc cũng đánh điện về, nội dung nếu như kiên trì, cuộc hội đàm sẽ bị phá vỡ. Đêm 13, nhận điện phúc đáp cho Tống, Vương toàn quyền xử sự.


Ngày 14/8, Vương Thế Kiệt cùng Ngoại trưởng Nga Xô Molotov ký “ Trung Nga hữu hảo đồng minh điều ước ”, lấy biên giới hiện tại của Ngoại Mông làm căn cứ. Tổng Tử Văn nói điều ước dẫn đến Trung Nga hoà bình hợp tác trong 30 năm ; Stalin nâng rượu chúc mừng và tuyên bố “ Chúc quân đội Trung Hoa mãi mãi cường thịnh. Nhật Bản và Đức thất bại vì dã tâm quá lớn ; tham đất đai người, sau đó sẽ bại.”


Những điểm quan trọng về điều ước như sau :

– Thứ nhất, hai nước hiệp đồng tác chiến chống Nhật.

– Thứ hai, hai bên hứa tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ hoàn chỉnh ; không xâm phạm chính trị nội bộ.

– Thứ ba, sau cuộc chiến hai bên giúp đỡ nhau viện trợ kinh tế.

– Thứ tư, điều ước hữu hiệu trong thời gian 30 năm.

– Thứ năm, vì đạo nghĩa Nga Xô đồng ý cấp cho chính phủ trung ương, tức Quốc dân chính phủ quân nhu và vật tư viện trợ.

– Thứ sáu, Nga Xô thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Đông Tam Tỉnh, tôn trọng lãnh thổ cùng hành chính hoàn chỉnh.

– Thứ bảy, Nga Xô đối với sự kiện Tân Cương gần đây, không có ý can thiệp vào nội tình xứ này.

– Thứ 8, nếu như chiếu theo công dân đầu phiếu tại Ngoại Mông Cổ chứng thực nguyện vọng độc lập, Trung Quốc căn cứ vào đó thừa nhận. Nga Xô thanh minh tôn trọng độc lập và lãnh thổ hoàn chỉnh của xứ này.

– Thứ chín, đường sắt Trung Đông và Nam Mãn hợp thành đường sắt Trường Xuân, giao cho Trung Quốc và Nga Xô cộng quản, Trung Quốc đảm nhiệm bảo hộ. Các tuyến nhánh, cùng đất đai phụ cận do Trung Quốc quản lý.

– Thứ mười, Đại Liên được xếp thành cảng tự do, Trung Quốc nắm quyền hành chính ; bến tàu, kho hàng, một nửa do Nga Xô mướn.

– Thứ mười một, Lữ Thuận trở thành cơ sở cho hải quân Trung, Nga cùng dùng ; thành lập Trung, Nga quân sự uỷ viên hội, Nga Xô đảm nhiệm bảo hộ, Trung Quốc phụ trách dân sự hành chánh.

– Thứ mười hai, sau khi Nga Xô vào Mãn Châu, Trung Quốc sai phái viên đến những nơi thu phục lập cơ sở hành chánh.

– Thứ mười ba, Nga Xô thanh minh sau khi Nhật Bản đầu hàng được 3 tuần, Nga Xô bắt đầu triệt thoái, trong 3 tháng hoàn tất.


Trung Quốc tuy mất Ngoại Mông, không thể thu hồi đường sắt Trung Đông, Nam Mãn, cùng các hải cảng Lữ Thuận, Đại Liên ; nhưng cho rằng có thể đổi được với những điều như Nga Xô tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ hoàn chỉnh, và không can thiệp vào nội chính, cùng vấn đề Tân Cương ; nhưng Nga Xô có giữ lời hứa hay không, đều nằm trong tay Stalin quyết đoán.


3. Nhật Bản đầu hàng


Tháng 9/1943, Nhật Bản có ý xin hoà, nhưng không muốn đầu hàng vô điều kiện. Tháng 7/1944 Tiểu Ky Quốc Chiêu kế tục Đông Điều làm Thủ tướng, tìm cách thăm dò Trung Quốc ; định bỏ chính phủ Uông Tinh Vệ tại Nam Kinh, nhưng không thực hiện. Tháng 3/1945, quân Mỹ chiếm đảo Iwo Jima ; Nhật Bản lại hướng Nga Xô liên lạc để tìm cách kết thúc chiến tranh. Tháng 4, Nga Xô phế bỏ Nhật Nga trung lập điều ước, Tiểu Ky từ chức, Linh Mộc Quán Thái Lang tổ chức nội các mới. Ngày 7/5 nước Đức đầu hàng ; 2 ngày sau đó Tổng thống Mỹ, Truman tuyên bố không có ý huỷ diệt hoặc nô lệ nhân dân Nhật Bản ; nhưng hải, lục quân Nhật phải bỏ khí giới xuống, đầu hàng vô điều kiện. Ngày 4/6, nguyên Ngoại trưởng Quảng Điền Hoàng Nghị đến họp mật với Đại sứ Nga Yakov Malik. Sau khi đảo Okinawa bị chiếm, Thiên hoàng ra lệnh cho Thủ tướng Linh Mộc tìm cách hội đàm gấp với Nga Xô ; ngày 2/7 sai cựu Thủ tướng Cận Vệ Văn Ma làm Đặc sứ đến Mạc Tư Khoa. Lúc bấy giờ cuộc đàm phán Trung Nga gần kết thúc ; hội nghị tam cường Anh, Mỹ,Nga đang tiến hành tại Potsdam [Đức] ; Nga Xô sắp sửa tuyên chiến với Nhật, nên cự tuyệt Cận Vệ Văn Ma đến Nga. Ngày 26/7, ba nước Mỹ, Anh, Trung Quốc ra công cáo, Nhật Bản nhận thấy rằng nếu không đầu hàng vô điều kiện thì không khỏi bị tiêu diệt ; tuy nhiên trong công cáo chỉ nói trong tương lai căn cứ ý nguyện của dân thành lập một chính phủ hoà bình, nhưng không đề cập thẳng vấn đề Nhật Bản quan tâm là bảo vệ Thiên Hoàng, nên vẫn không chấp nhận. Giả sử vấn đề đầu hàng được giải quyết lúc này, khiến Nga Xô không có dịp tham chiến, Nga sẽ không thừa dịp lợi dụng để thu hoạch lợi ích lớn như đã xảy ra ; còn riêng Nhật sẽ không bị thảm hại vì hai trái bom nguyên tử.


Stalin biết rằng Nhật Bản nôn nóng muốn hoà, vào ngày 29/7 kiến nghị với Tổng thống Truman mong Anh, Mỹ chính thức yêu cầu Nga Xô tham chiến. Ngày 6/8, Mỹ ném một quả bom nguyên tử tại Hiroshima [Quảng Đảo] ; ngày 8, lại ném quả thứ hai tại Nagasaki [Trường Kỳ] ; sau đó 1 ngày Nga Xô tuyên chiến với Nhật. Ngày 10, Nhật thông báo với 4 nước Mỹ, Anh, Nga, Trung Quốc, chấp nhận mọi điều kiện trong công cáo Potsdam, nhưng xin duy trì quyền vị của Thiên Hoàng. Ngày 11, bốn nước phúc đáp chấp nhận ; nhưng Thiên Hoàng phải nghe lệnh vị Thống soái quân đồng minh. Ngày 14, Thiên Hoàng ra sắc lệnh bảo đảm thi hành mọi điều kiện trong công cáo Potsdam.


Ngày 15, Tưởng Giới Thạch tuyên bố “ Không nghĩ đến điều ác cũ, giữ lòng thiện với người ” ; chỉ coi quân phiệt Nhật là kẻ địch, nhưng không mưu báo thù, dùng lời người xưa “ Lấy đức báo oán ”. Ngày 21/8, quân Quan Đông chính thức đầu hàng Nga Xô. Ngày 2/9, đại biểu chính phủ Nhật Bản gồm Ngoại trưởng Trùng Quang Quỳ, Tổng trưởng tham mưu Mai Tân Mỹ Trị Lang lên chiến hạm USS Missouri đậu tại vịnh Tokyo ký văn kiện làm lễ đầu hàng, dưới sự chấp thuận của Thống soái MacArthur. Vào ngày 9 Tổng tư lệnh quân viễn chinh Nhật Bản tại Trung Quốc, Cương Thôn Ninh Thứ, làm lễ đầu hàng với Tư lệnh lục quân Trung Quốc Hà Ứng Khâm ; chấm dứt 8 năm Trung, Nhật chiến tranh. Trung Quốc trước sau điều động đến 14 triệu quân, thương vong khoảng 320 vạn, tính mệnh nhân dân hy sinh có đến hàng ngàn vạn, tài sản tổn thất đến 480 tỷ Mỹ kim.


Hồ Bạch Thảo


(Tham khảo từ : Cận Đại Trung Quốc Sử Cương, Quách Đình Dĩ ; Xô Nga Tại Trung Quốc, Tưởng Trung Chính ; Trương Học Lương Thế Kỷ Truyền Kỳ, Vương Thư Quân ; Bí Danh, Lâm Ngữ Đường ; Wikipedia Anh văn, Trung văn ; Bản đồ Google)




1 Đường sắt Trung Đông tức “ Trung Đông thiết lộ ” là tiếng gọi tắt của “ Trung Quốc đông Thanh thiết lộ ” do Nga Hoàng xây từ 1896-1903, trung tâm là Cáp Nhĩ Tân [Harbin, Hắc Long Giang], tây đến Mãn Châu Lý [Manzhouli, Nội Mông], nam đến cảng Đại Liên [Dalian, Liêu Ninh]. Sau cuộc chiến tranh Nga Nhật, đoạn phía nam từ Trường Xuân [Changchun, Cát Lâm] đến Đại Liên bị Nhật chiếm.

2 Đông Tam Tỉnh : ba tỉnh phía đông bắc Trung Quốc, tức Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh.

3 Tưởng Kinh Quốc là con trai của Tưởng Giới Thạch. Vào năm 1925 Kinh Quốc được đưa đi học trường đại học Tôn Trung Sơn tại Mạc Tư Khoa, rồi sau đó có sự mâu thuẫn giữa Tưởng Giới Thạch và Nga Xô nên bị giữ lại. Đến tháng 4/1937 trở về nước, năm 1938 giữ chức quản đốc giám sát phía nam tỉnh Giang Tây, năm 1944 làm trưởng ban giáo dục trường Tam dân chủ nghĩa thanh niên đoàn.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss