Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Lược khảo về dịch bệnh ở Việt Nam hồi thế kỷ 19

Lược khảo về dịch bệnh ở Việt Nam hồi thế kỷ 19


Lược khảo về dịch bệnh
ở Việt Nam hồi thế kỷ 19
qua ghi chép trong Đại Nam thực lục1


Phạm Hoàng Quân



Dịch bệnh được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam cho đến cuối thế kỷ thứ 18 rất sơ lược. Suốt trong Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biênKhâm định Việt sử thông giám cương mục (từ khởi thuỷ đến 1789) chỉ đề cập chừng 10 lần xảy ra dịch bệnh, lần đầu thấy chép vào năm 1100 (Lý Nhân Tông, năm Canh Thìn)2. Trong số 10 lần ấy, với những ghi nhận tối giản của sử quan, người sau chỉ có thể biết được có 5 trận dịch với phạm vi lan rộng toàn quốc (toàn miền Bắc) ; 4 trận thuộc phạm vi địa phương như Lạng Sơn, Quốc Oai, Tam Đái [Yên Lạc, Vĩnh Phúc], Sơn Tây, Nghệ An ; và 1 trận chủ yếu trong doanh trại quân Trịnh đóng ở Châu Ổ (Quảng Ngãi) hồi năm 1775 đã làm chết rất nhiều quân lính đến nỗi Hoàng Ngũ Phúc phải bí mật rút quân3. Trận dịch trầm trọng nhất được biết là tại các huyện thuộc Sơn Tây hồi tháng 10 năm 1757, dân chết do bệnh dịch và đói lên đến 8,9 phần.

Đại Nam thực lục (Thực lục) của nhà Nguyễn ghi chép có khá hơn những sách sử trước đó, không gian địa lý của thời này cũng tương ứng với nước ta ngày nay nên những ghi nhận này có thể phản ánh bao quát tình hình dịch bệnh toàn quốc trong thế kỷ 19. Có thể còn thiếu sót do chưa rà soát thật kỹ, trước mắt có thể thấy Thực lục chép khoảng 80 trận dịch lớn nhỏ trong thời gian gần 100 năm (từ năm 1801 đến năm 1895, trung bình hơn 1 năm xảy ra 1 trận)4. Tần suất kể trên khá dày nếu so với tình hình dịch bệnh ở Trung Quốc, thống kê trong một nghiên cứu cho biết dịch bệnh thời nhà Thanh (1644-1911) ghi nhận trong Thanh sử cảo là 98 trận lớn với cấp độ nguy hại nghiêm trọng (trong 267 năm, trung bình hai năm rưỡi 1 trận)5.

Tuy ghi chép vắn tắt nhưng Thực lục đã cho biết cụ thể nhiều số liệu quan trọng, đó là những báo cáo tổng kết sau dịch từ các địa phương gởi về, hoặc sự tổng hợp báo cáo đối với những trận dịch phạm vi toàn quốc. Ba trận đại dịch đáng lưu ý là trận dịch tả năm 1820, trận đại dịch (chưa rõ tên) năm 1849, và trận dịch đậu mùa năm 1888.



I. Phân loại sơ bộ và lược tả


Dịch tả


Năm 1820 (Canh thìn – Minh Mạng năm đầu), tháng 6 dịch khởi phát ở các trấn Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường (ứng với khu vực Tây Nam Bộ) rồi lan ra toàn quốc, đến tháng 12 mới ngưng, quân và dân đều mắc, số tử vong thống kê được là 206.835 người (dân số lúc này khoảng 7 triệu), triều đình phát chẩn 73 vạn quan tiền. Tuy không chép rõ tên dịch bệnh nhưng qua câu “ Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp ” thì có thể biết đây là trận dịch tả. Thi hào Nguyễn Du đương chức Hữu tham tri bộ Lễ, sắp đi sứ thì nhiễm bệnh dịch mà chết, Thực lục chép Nguyễn Du chết trong tháng 8, không nói bệnh chứng, nhưng riêng thấy trong bài thơ của danh sĩ Nguyễn Hành cảm tác khi hay tin chú mất có câu “ Dịch lệ sao vội làm chết ông ”, thì chắc rõ ông chết do dịch.6

Sau Việt Nam, Trung Quốc phải hứng chịu trận dịch này suốt năm 1821, phần “ Chí ”, mục “ Tai dị ” trong Thanh sử cảo ghi nhận dịch phát vào tháng 3 tại huyện Nhâm Khâu (Thương Châu, Hà Bắc, phía Nam Bắc Kinh khoảng 150km), sau đó bùng phát ở khoảng 30 địa phương của nhiều tỉnh, tuy không ghi con số thống kê tử vong cụ thể nhưng mô tả nhiều nơi ở mức đại dịch, người chết vô số, không đếm xuể.7 Trên bình diện quốc tế, theo giới nghiên cứu lịch sử bệnh truyền nhiễm Trung Quốc thì nguồn cơn trận dịch tả này khởi phát ở Ấn Độ vào năm 1817, sau đó theo các thuyền buôn lan về phía đông đến khắp Đông Nam Á rồi Trung Quốc, lan về phía tây đến các xứ ven Địa Trung Hải.

Thực lục chép “ dịch phát ở Hà Tiên rồi lan ra toàn quốc ”, và trong khi vua Minh Mạng còn đang lo cầu đảo với tâm trí rối bời bảo với các quan : “ Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay ”, thì Thượng thư bộ Lễ kiêm quản Khâm thiên giám Phạm Đăng Hưng tâu rằng : “ Thần nghe dịch bệnh từ Tây dương sang ”. Lời tâu của Phạm Đăng Hưng cho thấy triều thần đã có người biết dịch bệnh do truyền nhiễm từ xa, mà nay cũng có vẻ hợp với vấn đề nguồn gốc lây truyền dịch bệnh qua các thuyền buôn đến từ Ấn Độ mà các học giả Trung Quốc nêu ra.

Tháng 7 năm 1826, một trận dịch tả lớn bùng phát ở Gia Định (Nam Bộ) rồi lan rộng đến Quảng Bình, riêng Gia Định chết hơn 18.000 người. Tuy sự việc ở thành Gia Định không được chép rõ là dịch tả, nhưng cùng thời điểm xảy ra dịch bệnh, qua ghi chép về cái chết của Thái Bình công Mỹ Thuỳ (con của Hoàng thái tử Cảnh) thì xác định được đây là trận dịch tả. Thực lục chép : “ Năm Bính Tuất, Tháng 7… Thái Bình công Mỹ Thùy mất, công là con Anh Duệ hoàng thái tử. Khi vua mới được tin công mắc chứng hoắc loạn cấp tính, tức thì sai đại thần đem ngự y tới thăm. Đến nơi thì công đã chết rồi 8 [ng.v, Phụ lục 2]. Về bệnh chứng được chép với tên hoắc loạn (霍乱), y thư cổ Trung Quốc là sách Tố vấn dùng để chỉ bệnh thổ tả, về sau cũng chỉ bệnh dịch tả truyền nhiễm ; danh y Lê Hữu Trác cũng đã dùng từ hoắc loạn để chỉ bệnh thổ tả, do bản dịch Thực lục không dịch rõ ra chữ “ thổ tả ” và cũng không chú thích nên khó nhận biết.9


Những trận dịch chưa rõ tên


Trận dịch rất lớn xảy ra vào năm 1849 (Tự Đức năm thứ 2), số người chết gấp 3 lần so với trận năm 1820. Tháng 7, Kinh sư và nhiều tỉnh phát dịch, các trường thi Hương đều hoãn sang năm sau. Tháng 12, ghi nhận số người chết ở Vĩnh Long đến 43.400, ở Quảng Bình chết 23.300 người (còn ở nhiều tỉnh khác chưa báo cáo). Tháng 1 năm 1850, thống kê của bộ Hộ cho biết số tử vong trong năm 1849 là 589.460 người (dân số lúc này khoảng 7 - 8 triệu). Trận dịch này cực lớn nhưng thông tin rất ít, không nói tên dịch bệnh, chỉ nói dịch tràn lan do lệ khí (癘氣/ khí độc) phát tán. Cũng thấy Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập chép : “ (Tự Đức) Năm thứ 2. Mỹ Đường ốm chết. Kinh thành có lệ khí, xuống chiếu tìm cách để dẹp yên thiên tai.”. Trong thời điểm này, cách chép trong Liệt truyện có phải muốn nói Mỹ Đường (con lớn của Hoàng thái tử Cảnh) đã chết do dịch bệnh.10

Những năm kế tiếp lại thêm nhiều trận rất lớn ở các tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc, như năm 1851 ở Lạng Sơn dịch bệnh kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, tử vong đến 4.480 người ; và thống kê trong hai năm 1852-1853 ở một số tỉnh Bắc Kỳ cho thấy số tử vong đến 9.074 người.

Những trận dịch phạm vi vùng miền hoặc tỉnh, phủ, huyện cấp độ khá lớn có thể kể vào các năm 1839-1840, 1863, 1875, 1876, 1887, 1888.

Trận dịch kéo dài trong 2 năm, từ tháng 2 năm 1839 đến cuối năm 1840 trên khắp các tỉnh toàn miền Bắc. Số liệu cho thấy trận dịch này tổng cộng (2 năm) ước có đến 60.000 người chết (nặng nhất là Hải Dương, chết hơn 23.000 người ; kế đến là Bắc Ninh, chết hơn 21.500 người)

Từ tháng giêng đến tháng 5 năm 1863, dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường nghiêm trọng. Thừa Thiên và Quảng Trị chết 3.600 người, Định Tường chết 1.670 người, tháng 8 năm này dân Nam Kỳ lâm nạn đói.

Tháng 11 năm 1875, dịch bệnh cùng lúc phát ở nhiều tỉnh như Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên, Sơn Tây, Tuyên Quang, Phú Yên, Bình Thuận, nặng nhất là ở Khánh Hòa.

Địa bàn cấp huyện bị dịch bệnh nặng nề nhất là 2 huyện Hải Lăng và Minh Linh phủ Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị), trong 2 năm 1876-1877 số tử vong lên đến 4.326 người. Năm 1887, ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa dịch phát từ tháng 4 đến tháng 9 mới lắng, số liệu riêng tỉnh Thanh Hóa chết đến 9.500 người.


Đậu mùa


Từ tháng 11 năm 1887 đến tháng 6 năm 1888, trận dịch đậu mùa hoành hành dữ dội ở tỉnh Quảng Ngãi, thống kê thấy cả đàn ông và đàn bà chết mất 13.934 người. Triều đình Huế phải phối hợp với thầy thuốc Tây lo việc chủng ngừa đậu mùa diện rộng cho người dân. Trận dịch được ghi rõ tên đậu mùa sớm hơn thấy chép vào tháng 6 năm 1848 ở Quảng Bình, làm chết hơn 2.100 người. [Phụ lục 5]

Bệnh đậu mùa trong ghi chép thấy xuất hiện năm 1801 qua cái chết của Đông cung Cảnh tại Gia Định, năm này không nói có dịch trong dân nhưng lại chép rõ bệnh chứng làm chết Đông cung [Phụ lục 1]. Tương tự, vào năm 1829 (Minh Mạng 10) cũng thấy chép “ tháng 4, Quảng Oai công là Quân chết, Công bị đậu, sinh chứng hiểm. Vua sai ngự y ngày đêm điều trị, không khỏi mà chết.”, năm này cũng không thấy chép có dịch đậu mùa trong dân.

Một trận dịch khác được chép với tên dịch sởi (疹氣 / chẩn khí / sởi truyền nhiễm) vào tháng 5 năm 1842 (Thiệu Trị thứ 2) ở Thừa Thiên và Quảng Trị. [Phụ lục 4].

Tại Trung Quốc, trận dịch bệnh ghi rõ tên đậu mùa có thể là vào đầu thế kỷ 16, sách Đậu chứng lý biện của danh y Uông Cơ cho biết trận dịch đậu mùa khủng khiếp năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530) khiến dân chết hơn nửa phần11. Dịch đậu mùa được chép trong sử thì mãi đến cuối thế kỷ 17 mới thấy xuất hiện, Thanh sử cảo (Chí, Tai dị) chép vào năm Khang Hi thứ 20 (Tân dậu/1681) “ Tấn Ninh (Vân Nam) có dịch, người và trâu bò chết nhiều ; Khúc Dương (Hà Bắc) có dịch lớn ”.12

Liên quan đến tên gọi bệnh đậu, cũng cần nhắc đến loại tin nhảm thời xưa, số là, Viên Mai chép trong Tùy Viên thi thoại (quyển 2) : “ Danh y Tô Châu Tiết Sanh Bạch nói : Trước thời Tây Hán, không nghe nói trẻ con mắc bệnh đậu. Từ lúc Mã Phục Ba (Viện) đi đánh Giao Chỉ, lính tráng mang bệnh về, gọi là lỗ sang (虜瘡/bệnh mụn rợ), không phải tên bệnh đậu (痘) ”13

Viên Mai (Tử Tài) nổi tiếng văn đàn thời Thanh nhưng khi làm sách đã thu thập câu nói của Tiết Sanh Bạch giống như loại tin nhảm, không biết Tiết danh y nghe vụ này ở đâu, bởi từ Tây Hán về trước không riêng đậu mùa mà nhiều chứng dịch khác cũng đều chưa rõ tên, sử chỉ chép chung là dịch tật, dịch bệnh, ôn dịch. Mặc khác, Truyện Mã Viện trong Hậu Hán thư không thấy nói bệnh lỗ sang, mà chỉ nói : “ Kiến Võ thứ 20, Giáp thìn (44 scn), Mã Viện chinh Giao chỉ, quan quân trải chướng dịch, mười phần chết hết bốn, năm ”. Chướng dịch (瘴疫) hay chướng lệ (瘴癘) là bệnh do nhiễm khí độc rừng núi, về sau cũng chỉ sốt rét.

Cũng liên quan đến tên gọi bệnh đậu, thời nay, nói thêm về một thông tin thiếu chính xác trên trang Wikipedia, mục từ “ Đậu mùa ” ở trang này có đoạn viết là :

“ Lịch sử Việt Nam có ghi lại một số những nhân vật chết vì bệnh đậu mùa. Trong đó có Hoàng tử Cảnh, người con cả của vua Nguyễn Thế Tổ (niên hiệu Gia Long). Hoàng tử Cảnh mất năm 22 tuổi, để lại một vợ và hai con. Vua Tự Đức cũng bị bệnh đậu mùa và bị vô sinh nên nhận một người con nuôi lên làm vua và chỉ tại vị được 3 ngày, đó là vua Dục Đức.

Sử nhà Nguyễn cũng ghi hai nạn dịch lớn trước thời Pháp thuộc :

–  " Năm Canh Thìn (1820) tháng 11 (âm lịch) bệnh dịch lan tràn, khởi đầu từ Hà Tiên đến Bắc Thành. Nhiều người chết. Nhà nước chẩn cấp cho dân tổng cộng 73 vạn quan tiền."

–  " Năm Canh Tý (1840) tháng 9 (âm lịch) ở Sơn Tây từ mùa xuân đến mùa thu có hơn 4.900 người chết dịch." (Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1987. trang 425, 454.) ” 14


Hai trận dịch được dẫn trên đây không thể lấy làm tiêu biểu cho mục từ “ Đậu mùa ”, bởi trận đại dịch toàn quốc năm 1820 là trận dịch tả, còn trận dịch ở Sơn Tây năm 1840 hiện chưa xác định được tên dịch bệnh. Nếu cần nêu những trận dịch đậu mùa tiêu biểu trong lịch sử thì phải nói đến trận dịch ở Quảng Bình năm 1848 và ở Quảng Ngãi năm 1888.

Việc chủng đậu theo y thuật Tây phương được thực hiện lần đầu năm 1805 tại Macau, cùng lúc với sự kiện xuất bản tài liệu Anh Cát Lợi quốc tân xuất chủng đậu kỳ thư (Phép chủng đậu mới lạ ở nước Anh) bằng tiếng Trung do bác sĩ của công ty Đông Ấn (Anh) A. Pearson biên soạn. Việc này được tiếp tục vào những năm 1815 tại Quảng Châu, 1841 tại Thượng Hải, 1961 tại Triệu Khánh (Quảng Đông), 1863 tại Phật Sơn (Quảng Đông), 1864 tại Bắc Kinh, 1882 tại Cửu Giang (Giang Tây), 1883 tại Nghi Xương (Hồ Bắc), 1886 tại Trấn Giang (Giang Tô), 1890 tại Thành Đô (Tứ Xuyên).15


Dịch hạch


Dịch hạch tuy được biết đến ở phương Tây rất sớm nhưng ở Trung Quốc và nước ta thấy sử liệu ghi chép về nó khá hiếm hoi. Dựa vào nhiều nguồn, Trương Đại Khánh (sđd) thống kê được trong 50 năm (1840-1910), ở Trung Quốc có 3 loại dịch bệnh xảy ra nhiều nhất là : dịch tả (霍乱 / hoắc loạn) 45 lần, dịch hạch (鼠疫 / thử dịch) 34 lần, đậu mùa (天花 / thiên hoa) 11 lần.5 Một số chuyên khảo khác thì cho biết vào thời Minh Vạn Lịch, trong 10 năm (1579-1588) số tử vong do dịch hạch ở Sơn Tây và Hà Bắc lên tới 5 triệu người.16

Trong Thực lục, suốt các ghi chép không thấy nhắc đến tên bệnh dịch hạch, cũng không thấy những chi tiết miêu tả bệnh chứng để có thể suy đoán. Riêng thấy một trận dịch kéo dài từ tháng 5 năm 1894 đến tháng giêng năm 1895 ở phủ Thừa Thiên được ghi nhận, rơi vào thời điểm trùng hợp với trận dịch hạch ở Trung Quốc. Năm 1894 (Quang Tự thứ 20), dịch hạch khởi phát ở Hương Cảng, rồi lan bùng thành dịch lớn, trận này được cho là có quan hệ với trận dịch hạch ở Vân Nam hồi năm 1855. Tuy nhiên, đây chỉ là sự trùng hợp thời điểm, nếu nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử dịch bệnh thì cần có thêm nhiều tư liệu chắc chắn.



II. Việc mô tả bệnh chứng, xác định tên dịch bệnh


Sử nước ta nói chung và Thực lục nói riêng ghi chép về dịch bệnh quá đỗi sơ lược, thi thoảng mới chép rõ tên dịch bệnh, còn phần lớn chỉ nói chung chung là “ dịch ” (疫), “ đại dịch ” (大疫), “ dịch khí ” (疫氣), “ dịch lệ ” (疫癘), “ lệ khí ” (癘氣). Việc mô tả dấu hiệu và triệu chứng cá nhân người bệnh hoặc diễn biến dịch bệnh trong cộng đồng cũng rất ít khi được sử quan lưu ý. Cho nên, với gần 100 đoạn trích nói về khoảng 80 trận dịch lớn nhỏ được liệt kê, chỉ có 3 trận nêu tên dịch bệnh (2 trận dịch đậu mùa, 1 trận dịch sởi), còn 3 trận chỉ có thể gián tiếp nhận định qua những ghi chép liên quan. [xem bảng Biên niên dịch bệnh trích lục, đoạn từ 1801 đến 1895]

Các lần hiếm hoi ghi rõ tên bệnh có thể kể là : dịch đậu mùa (2 lần : Quảng Bình 1848, Quảng Ngãi 1888), dịch sởi (1 lần : Thừa Thiên – Quảng Trị 1842), cá nhân bị bệnh đậu tử vong (2 lần : Đông cung Cảnh năm 1801 và Quảng Oai công Quân năm 1829), cá nhân bị thổ tả cấp tử vong (1 lần : Mỹ Thùy năm 1826).

Trận dịch tả lớn năm 1820 gián tiếp có thể xác định qua ghi chép về phương thuốc chữa trị, nêu tên vị bạch đậu khấu (白荳蔻), vốn là thành phần gia thêm đối với trường hợp tiêu chảy nặng.

Trận dịch tả tháng 7 năm 1826 gián tiếp có thể xác định qua ghi chép bệnh chứng Thái Bình công Mỹ Thùy, hoắc loạn cấp chứng (霍亂急症).

Trận dịch tả trong trại lính ở Nghệ An tháng 7 năm 1827, gián tiếp có thể xác định qua thông tin “ cấp 20 cân bạch đậu khấu để chữa trị ”. Hồi tháng 6 năm này, cũng có dịch trong ngoài Kinh thành ở Thừa Thiên, do liên đới địa lý và trùng hợp thời điểm, nghi cũng là dịch tả.

Trận dịch sởi được chép do “ chẩn khí ” (疹氣) phát tán vào tháng 5 năm 1842.

Cái chết của Đông cung Cảnh năm 1801 được chép bệnh chứng “ chẩn đậu ” (疹痘)

Quảng Oai công là Quân chết hồi tháng 4 năm 1829, do bị lên đậu, biến chứng nặng (公發痘迭出險症).

Nói thêm, có vài đợt dịch trong những năm đầu thế kỷ 20 được chép trong Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ phụ biênĐệ thất kỷ, là : dịch cúm (năm 1902), thương hàn (1905), thương hàn và sốt rét (1907), hủi (1914), sốt rét và lỵ trong trại giam (1917). Tuy nhiên, do giai đoạn này nằm ngoài phạm vi khảo sát và một phần cũng do dịch giả bản dịch hai bộ Thực lục nói trên không công bố bản gốc, nên chưa biết rõ tên gốc chữ Hán của bệnh chứng được viết ra sao, nay tạm nêu ra chờ xét sau.15

Còn lại, trận dịch cực lớn năm 1849-1850 làm chết gần 10 % dân số và hơn 70 trận lớn nhỏ khác vẫn chưa rõ tên dịch. Để đi sâu tìm hiểu vấn đề này và coi nó như một chuyên đề lịch sử thì cần phải tham khảo nhiều nguồn tư liệu, từ châu bản, từ sách thuốc cổ xưa của các nhà, địa phương chí, du ký, du khảo, tùy bút, thơ văn các loại v.v… , đây là công việc tốn rất nhiều thời gian.



III. Sự ứng phó dịch bệnh của triều đình


Liệu pháp tinh thần


Đọc qua Thực lục, sau những trận dịch bệnh, đa phần với con số tử vong khủng khiếp, điều dễ nhận thấy là thời ấy không có biện pháp phòng tránh nào được áp dụng mỗi lần dịch bệnh ập đến. Câu “ Lúc bịnh thì vái tứ phương ”, lời rủa “ dịch ôn vật mày ”, hay lời ví “ đồ ôn hoàng dịch lệ ”, “ đồ mắc dịch mắc toi ”… lưu truyền trong cửa miệng dân gian là sự phản ánh tâm thức hoảng sợ từ những trận dịch, là nỗi ám ảnh về sự chết chóc tràn lan do lây nhiễm.

Mỗi khi có dịch bệnh, Triều đình liền tổ chức cầu đảo (lập đàn cúng vái) hoặc lệnh cho quan địa phương có dịch cầu đảo, song song với việc phái thầy thuốc tới điều trị. Hầu hết những ghi chép về mấy trận dịch lớn đều nói việc vua sai các quan lập đàn cầu đảo hoặc đến những đền miếu thiêng cúng vái. Trong trận đại dịch năm 1849-1850, trước tình hình căng thẳng, vua Tự Đức sai 3 đại thần cùng lúc lo việc cầu đảo ở 3 đền miếu : “ (Tự Đức năm thứ 2) Tháng 12, Phủ Thừa Thiên lệ khí cũng lại phát ra nhiều. Vua sai Tả tham tri bộ Hộ là Tôn Thất Thường đến miếu Đô thành hoàng ; Phó đô ngự sử Đô sát viện là Bùi Quỹ đến miếu Hội đồng ; Kinh doãn [~chủ tịch thành phố trung ương] là Vũ Trọng Bình đến đền Thai Dương phu nhân, đều làm lễ cầu đảo. Lệ khí rồi giảm bớt, gió mưa thuận thường. Vua khen, bọn Thường đều được thưởng…”. Tuy hình thức cầu đảo chỉ là liệu pháp tinh thần nhằm nhất thời giảm nhiệt cho cơn hoảng loạn, nhưng có lẽ nó cũng là sự thể hiện trách nhiệm của kẻ chăn dân nên thấy Thực lục cũng chép có lần quan địa phương không chịu tổ chức cầu đảo liền bị vua khiển trách. Đến năm 1874, có thể là do qua thời gian được tiếp cận kiến thức khoa học Tây dương, trong một trận dịch bệnh thấy Tự Đức nói : “ Phàm cầu đảo không có công hiệu, nhưng cứ yên lặng ngồi nhìn thì không yên tâm, mà không có phép gì cho khỏi được. Chỉ dốc sức các phủ huyện đi xuống làng ấp gia tâm thăm hỏi, người bệnh thì cho thuốc, người đói thì cho cơm, xét khuyên những nhà giàu thương nhau chu cấp cho nhau, không đủ thì cấp gạo kho công cho chóng được yên ”.

Lối tuyên truyền chân mệnh Thiên tử (vua do trời định) thời xã hội quân chủ cũng có điểm hay là nó đính kèm một số trách nhiệm vô hình ràng buộc, khi hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh xảy đến thì người đứng đầu nhà nước, đứng đầu địa phương phải biết tự nhận trách nhiệm và ít nhiều cũng bị điều tiếng về hành vi, đức độ. Cho nên cầu đảo là một hình thức van xin, mong trời nhẹ tay.

Tranh đoạt mối lợi đẩy dân vô đường cùng và để xảy ra án oan là những vấn đề tự vấn của nhà cai trị. Trong trận đại dịch năm 1849, đình thần đề nghị xét lại oan án, giảm hạn tù ; phục hệ tôn thất và cấp lương bổng cho con cháu Mỹ Đường (dòng Hoàng thái tử Cảnh) ; cho con cháu công thần Trung hưng (thời theo Nguyễn Ánh bôn ba) dự ấm, cấp bổng ; khoan miễn tội trước cho Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất ; bỏ lệ đưa con cháu nhà Lê vào định cư Tả Kỳ, trùng tu đền miếu nhà Lê ; chọn Kinh lược đại thần để sửa đổi lề lối và quan lại. Vua Tự Đức đều nghe theo. Trong trận dịch năm 1852, Tự Đức nghĩ để xảy ra nhiều án oan, dân nhiều người cùng cực thì có thể sinh tai họa dịch bệnh, nên lệnh cho Phủ doãn Thừa Thiên lo giải trừ. Hay như trong trận dịch năm 1853 ở Bắc Ninh và Thái Nguyên, vua Tự Đức sắc cho Tổng đốc Nguyễn Quốc Hoàn rằng : “ quan lại mọt nát chưa trừ bỏ, nhân dân đau khổ chưa hồi lại, để đến nỗi can phạm khí hòa. Nay nên vì đức, vì dân, làm hết chức phận.”

Nói chung, quan niệm thời bấy giờ cho nguồn căn dịch bệnh là do phạm vào hòa khí của trời đất tuy có duy tâm nhưng cũng được nhiều điểm có lợi về đường nhân đạo.


Việc chữa trị


Tuy chưa đủ kiến thức ngăn chặn lây nhiễm nhưng việc tổ chức chữa trị của triều đình được nói đến khá tích cực. Nhiều ghi chép cho thấy trong một số trận dịch có sự hiện diện của Thái y viện (một cơ quan chuyên môn bào chế thuốc và chữa bệnh quốc gia) ; thuốc men được cấp phát miễn phí ; tùy theo mức độ và địa điểm, có thầy thuốc do chính quyền trung ương hoặc địa phương điều động đến điểm dịch.

Một ghi chép hiếm hoi cho biết việc áp dụng biện pháp cách ly để điều trị tập trung hồi năm 1814 : “ (Gia Long năm thứ 13) Tháng 2, Quảng Đức [Thừa Thiên] có dịch. Sai quan coi dinh lập sở dưỡng tế ở xã Thế Lại cho người bịnh ở, cấp cho tiền gạo thuốc thang. Người chết thì cho tiền và vải để chôn (tiền 1 quan, vải 10 thước) ”. Các ghi chép thời Minh Mạng và Tự Đức không thấy nói đến hình thức thiết lập một cơ sở điều trị biệt lập như vậy.

Cấp thuốc là hoạt động thường xuyên được nói đến qua các trận dịch, như hồi tháng 7 năm 1820 “ Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp ”, hồi tháng 4 năm 1843 “ Hạt Thừa Thiên lại phát lệ khí. Sai viện Thái y đem thuốc ở kho chia nhau đi chữa bệnh.” ; và sau này được nhắc lại nhiều lần ; việc phổ biến bài thuốc chữa bệnh thấy được đề cập đôi lần, như hồi tháng 8 năm 1864 “ Hà Nội phát bệnh dịch lệ. Sai quan tỉnh chế nhiều thuốc hoàn tán, chia cấp cho các nơi. Lại sai thông chép đơn thuốc, theo đó mà làm và chế nhiều thêm để cấp cho trại quân ”.

Việc ban thưởng cho thầy thuốc giỏi thấy được ghi nhận sau trận dịch tả tháng 7 năm 1826, Thực lục chép : “ (Minh Mạng thứ 7) tháng 7, Khi dịch bệnh rút lui, sai bộ Hộ xét những y sinh nào trị giỏi thì khen thưởng ”.

Việc phòng dịch bằng biện pháp chủng ngừa phải đợi đến năm 1888, tuy nhiên công việc này do thầy thuốc Tây đảm trách chính, còn thầy thuốc ta chỉ phụ giúp thêm, Thực lục chép : “ Cho Cơ mật viện bàn với viên Công sứ chọn phái quan thầy thuốc nước Pháp, đem cả thầy thuốc ta, người đã quen biết cách trồng đậu, đến trồng để đỡ tai hại cho dân ”, nội dung này cho thấy thầy thuốc ta cũng có người đã được học phép chủng ngừa từ trước đó.


Việc trợ cấp


Chủ trương chung của triều đình là nhanh chóng trợ cấp để giảm bớt đau khổ cho người nhiễm bệnh trong cơn dịch và những nhà có người chết vì dịch. Tuy nhiên, do hạn chế phương tiện thông tin, nên tình hình dịch bệnh các nơi chỉ do quan địa phương tự lo liệu và báo cáo thiệt hại sau dịch. Những người chết vì dịch bệnh được trợ cấp trung bình từ 2 đến 3 quan tiền (việc chẩn cấp qua các trận dịch có sai lệch, thường thấy là phân 3 hạng : hạng tráng đinh 3 quan, người lớn và đàn bà 2 quan, trẻ con 1 quan). Trận dịch tả năm 1820, là năm có chép rõ tổng số tiền ngân sách chi cấp 73 vạn quan tiền, tức cấp đều mỗi người 3 quan, cho hơn 206.835 người. Những người trong quân đội thì được thêm trợ cấp khác.

Cá biệt cũng thấy trong trận dịch năm 1849, Phủ Thừa Thiên – nơi gần mặt trời – người nghèo còn được cấp cho quan tài và vải.

Một ý chỉ của vua Tự Đức vào tháng 7 năm 1874 cũng đề cập đến vấn đề vận động xã hội tương tế, khuyên những nhà giàu có giúp đỡ cho người nghèo mắc bệnh.

Sau dịch, nhà nước thường xét hoãn việc gọi lính, hoãn thu thuế hoặc giảm thuế cho các xã có dân bị chết dịch, xuất kho công bán gạo giảm giá. Tuy nhiên, những chính sách ứng phó dịch bệnh và an sinh xã hội sau dịch cũng có lúc bế tắc, gặp những năm trùng nạn, dịch bệnh đi kèm với thiên tai khác như hạn hán, lũ lụt khiến dân chúng mất mùa nhà nước thất thu thì tình cảnh tệ đi. Bi kịch nhất là trong thời điểm khủng hoảng chính trị trước sau năm 1863. Lúc này triều đình rối, chỉ tập trung lo việc đối phó với Pháp, tình hình dịch bệnh bị bỏ lơ, dịch bệnh từ năm trước (1862) mà đến năm 1863 mới tóm gọn nói chung vài dòng, còn cả năm 1862 không thấy Thực lục chép về dịch bệnh. Sau dịch thì đến tháng 8 dân Nam Kỳ xứ gạo bị nạn đói ; và tiếp đến là dân Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Bình, Lạng Sơn, Hải Dương bị đói. Báo cáo tình hình chết dịch năm 1862-1863 cũng cho thấy thảm cảnh dân nghèo đói bệnh chết được chôn cất qua quít lộ bày thi thể, sự cùng khổ đến vậy chỉ càng khiến dịch bệnh lây lan.


Thất xuất trong việc cai quản


Bộ máy hành chánh với cơ cấu quan đầu tỉnh nắm toàn quyền cộng với sự hạn chế truyền tin lộ rõ nhiều bất cập khi xử lý dịch bệnh. Có rất nhiều vụ giấu dịch hoặc báo cáo chậm trễ được ghi nhận, như trận dịch tháng 8 năm 1839, “ Năm huyện Nam Xang [nay là Lý Nhân, tỉnh Hà Nam], Thượng Phúc [Thường Tín], Thanh Trì, Thanh Oai, Thanh Liêm [nay thuộc tỉnh Hà Nam] thuộc Hà Nội lại phát lệ khí nhân dân nhiễm bệnh chết hơn 1.600 người. Các quan phủ huyện sở tại vì chậm báo cáo việc này, đều bị phạt. (cảnh cáo)”. Hoặc như hồi tháng 2 năm 1843, Hữu tham tri bộ Binh Phan Thanh Giản dâng sớ nói : “…Tôi nghe trong khoảng tháng 4 tháng 5 năm ngoái, ở Nam Kỳ đã có dịch lệ mà quan địa phương không đem tâu lên…”.

Trong năm 1840 có 3 vụ đáng lưu ý : tháng 5, các quan đầu tỉnh Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Bình không báo dịch, khi bị phát hiện mới chịu báo số thiệt hại, bị khiển trách ; tháng 9 dịch ở Hưng Yên chết đến 3.000 người, dịch bệnh phát từ đầu xuân đến cuối thu mới báo cáo, không hiểu sao quan địa phương chỉ bị kỷ luật “ khiển trách ”; tháng 10 tỉnh Sơn Tây có dịch, chết 4.900 người, dịch bệnh phát từ đầu xuân đến cuối thu mới báo, vụ này giống như Hưng Yên, “ Tổng đốc Nguyễn Công Hoan tâu báo chậm trễ, truyền Chỉ sức quở (khiển trách) ”.

Hai vụ vi phạm với tính chất khác cũng đáng lưu ý : năm 1840, tháng 6, quan tỉnh Thanh Hóa báo cáo láo nâng số người chết dịch nhằm xin hoãn tuyển lính, “ Vua ghét tội dối trá, bắt Thự đốc Trần Hữu Thăng, Bố chính Nguyễn Nhược Sơn đều cách chức, đưa về Kinh, giao cho bộ Lại nghiêm bàn định tội.” ; sau trận dịch năm 1820, đến năm 1822 thanh tra phát hiện “ Cai bạ Bình Thuận Nguyễn Văn Khiêm, trước đây làm bản sách tâu về việc cấp tuất cho người chết dịch, số người và số tiền không phù hợp, giao xuống cho bộ Hình nghị xử, phải cách chức ”.

Qua những vụ vi phạm nêu trên, có thể tạm nhận định rằng, triều đình có vẻ nới tay đối với những vụ tắc trách gây hậu quả nghiêm trọng liên quan đến nhiều sinh mạng, chỉ khiển trách hoặc cảnh cáo đối với người đứng đầu địa phương ; và cũng không mạnh tay lắm đối với trường hợp lợi dụng dịch bệnh để biển thủ của công. Những ghi chép dạng này trong Thực lục không nhiều, như một góc tối trong vùng tối, hình như chúng cũng vừa đủ cho người sau thấy được trọn vẹn một khung cảnh chung mà xã hội phải gánh chịu thêm hơn trong cơn dịch bệnh khổ đau.



IV. Kết luận


Tùy theo mức độ nhận thức và kiến thức y học, những ghi chép của người xưa cũng tiến dần theo chừng mực có thể. Trong Đại Nam thực lục, cho dù có khá hơn nhiều so với ghi chép trước nó, những hạn chế của sử quan ở phần miêu thuật tình trạng cá nhân người bệnh cũng như những diễn biến dịch bệnh trong cộng đồng khiến cho việc tìm hiểu về kiến thức y học hay dịch tễ học không mấy thuận lợi. Tuy nhiên, đâu đó trong những ghi chép cũng có thể cho người sau góp nhặt được những kinh nghiệm cần thiết.

Nhưng ở góc độ khác, thông qua những trận dịch có thể tìm hiểu về một số mặt của mô hình quản lý xã hội đương thời. Sự ứng phó dịch bệnh qua việc tổ chức chữa trị rất tích cực ; công tác hành chánh khá sát sao qua việc thống kê tử vong ; chính sách an sinh xã hội qua những việc chẩn cấp ủy lạo, cho quân dân nghỉ ngơi, giãn thuế, miễn thuế, xuất kho bình ổn giá sau dịch v.v… đều có thể cho là đã cận nhân tình. Tuy có vài điểm đen thuộc ý thức cá nhân đáng chê trách, nhưng trên tổng thể, hoạt động quản lý xã hội thời nhà Nguyễn đã cho thấy được sự quý trọng sinh mạng dân đen.

Dịch bệnh ảnh hưởng rất lớn đến nhiều hoạt động xã hội, có thể có thể làm ngưng những hoạt động có tổ chức, như buộc quân đội giải tán, dập tắt thương vụ, xóa sổ địa bàn dân cư. v.v…. Bệnh tật và dịch bệnh luôn đồng hành với con người, cho nên y tế nói chung và dịch bệnh nói riêng là một bộ phận không thể thiếu trong xã hội sử. Nghiên cứu về dịch bệnh ở Việt Nam trong lịch sử có lẽ là một đề tài cần được thực hiện có tính chuyên môn hơn, so với sự khảo tả sơ lược này.

P.H.Q.




Chú thích


  1. Bài viết này được phát triển trên cơ sở bài “ Lược đàm về dịch bệnh ở nước ta trong thế kỷ 19 ” đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, 1-3-2020.

  2. Đại Việt sử ký toàn thư/ĐVSKTT (khởi thủy đến 1656) và Đại Việt sử ký tục biên/ĐVSKTB (1676 đến 1789) chỉ chép 6 lần xảy ra dịch bệnh. Khâm định Việt sử thông giám cương mục/KĐVSTGCM (khởi thủy đến 1789) chép 10 lần, KĐVSTGCM do sử quan nhà Nguyễn biên soạn, vốn căn cứ trên các bộ sử có trước (như Toàn thưTục biên), nhưng thấy chép 4 trận dịch vào các năm 1715, 1736, 1762, 1765, trong khi Sử ký tục biên không thấy chép.

  3. ĐVSKTB chép số quân chết do dịch bệnh đợt 1 khoảng 600 lính, đợt 2 khoảng 300 lính [bản dịch, in 2011, tr.396, 398, 400]; KĐVSTGCM chép “Ngũ Phúc đóng quân ở Châu Ổ lâu ngày, lúc ấy phát sinh bệnh dịch, quân sĩ nhiều người chết, bèn bí mật trù tính rút quân về”; Đại Nam thực lục Tiền biên chép: “Gặp có dịch bệnh, quân Trịnh chết già nửa. Vì vậy Phúc bí mật định kế hồi binh”. Những mẩu tin nói trên cho nhiều nghi vấn: 1/Có phải sử quan bên Trịnh giấu bớt số lính chết do dịch và có phải Hoàng Ngũ Phúc do nhiễm dịch bệnh mà chết. 2/ Có phải Đại Nam thực lục Tiền biên phóng đại số quân Trịnh chết dịch (quân số bên Trịnh 3 vạn, nếu chết già nửa thì trong khoảng gần 2 vạn); 3/ KĐVSTGCM và Đại Nam thực lục Tiền biên đều do sử quan nhà Nguyễn soạn, mà cách đề cập số quân Trịnh chết dịch sao lại không nhất quán.

  4. Đại Nam thực lục, gồm Tiền biên (chép về các đời Chúa), Chính biên (Nguyễn Ánh kế ngôi Chúa 1778 - đến 1925, gồm 7 kỷ). Trong bài chỉ khảo sát giới hạn trong thế kỷ 19, nhưng các ghi chép thuộc thế kỷ 18 và thế kỷ 20 (đến năm 1925) sẽ được trích lục trong “Bảng thống kê” để độc giả tiện tham khảo.

  5. Trương Đại Khánh, Trung Quốc cận đại tật bệnh xã hội sử, NXB Giáo dục Sơn Đông, 2006. [張大庆,中国近代疾病社会史 (1912-1937),山东教育出版社,济南, 2006]

  6. Người cháu gọi Nguyễn Du bằng chú là danh sĩ Nguyễn Hành (阮行) trong bài “Văn thúc phụ Lễ bộ tham tri công phó âm cảm tác” (Cảm tác khi nghe báo tang chú là Lễ bộ Tham tri) có câu: “Ngô gia hậu phúc công xảo hoàn, Dịch lệ hà năng tốc công tử” (Nhà ta phúc dày ông được vẹn, dịch lệ sao vội làm chết ông) [聞叔父禮部参知公訃音感作 : “…吾家厚福公巧完, 疫癘何能速公死…”].

  7. Thanh sử cảo, quyển 40, Chí 15, Tai dị. [清史稿·志, 灾异“道光元年,辛巳年,三月,任邱大疫;六月,冠县、武城、范县大疫,巨野疫,登州府属大疫,死者无算;七月,东光、元氏、新乐、通州、济南大疫,死者 无算,东阿、武定、滕县、济宁州大疫;八月,乐亭大疫,青县时疫大作,至八月始止,死者不可胜计;清苑、定州瘟疫流行,病毙无数;滦州、元氏、内邱、唐 山、蠡县、望都大疫,临榆疫,南官、曲阳、武强、平乡大疫;九月,日照、沂水大疫] (Bản in Trung Hoa thư cục (48 cuốn), cuốn 6, tr.1530).

  8. Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập chỉ nói Mỹ Thùy bị bệnh chết, không nói rõ bệnh chứng như trong Thực lục. Liệt truyện chép: “(Minh Mạng) Năm thứ 7, Mỹ Thùy bị quân lính ở Dực Chấn kiện, sắp giao xuống cho đình thần nghị tội thì Mỹ Thùy bị bệnh chết, không có con…” (Quyển 2, Truyện các Hoàng tử, bản dịch, Thuận Hóa 2005, Tập 2, tr.53).

  9. Hải Thượng Y tông tâm lĩnh, bản dịch viết “Hoắc loạn (thiên thời, dịch tả)”, và “Tiết tả (ỉa chảy)”.

  10. Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập, quyển 2, (bản dịch, Thuận Hóa 2005, Tập 2, tr.57).

  11. Uông Cơ (Thạch Sơn Cư Sĩ, 1463-1539), Đậu chứng lý biện, Lời tựa [痘症理辨 汪機, 明嘉靖九年 (1530),庚寅年,痘灾盛行,死者过半。(《痘症理辨·序》)]

  12. Thanh sử cảo, quyển 40, Chí 15, Tai dị [清史稿·志, 灾异 “康熙二十年 (1681),辛酉年,晋宁疫,人牛多毙;曲阳大疫”] (Bản in Trung Hoa thư cục (48 cuốn), cuốn 6, tr.1527).

  13. Viên Mai (1716-1797), nổi tiếng với tác phẩm Tùy Viên thi thoại, đã được dịch sang Việt văn.

  14. https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%ADu_m%C3%B9a (truy cập lúc 4:25 PM, 3/5/2020)

  15. Bành Trạch Ích, “Tây Dương chủng đậu pháp sơ truyền Trung Quốc khảo”, tạp chí Khoa Học, số 32, 7/1950 [彭泽益,西洋种痘法初传中国考](dẫn lại của Trương Đại Khánh, đd)

  16. Trần Kiếm Quang, trả lời phỏng vấn trên Văn Hối báo (18-2-2020) [陈剑光答文汇报]. Trần Kiếm Quang, Giáo sư Đại học Sư phạm Thượng Hải, chuyên gia về lịch sử dịch bệnh, tác giả Ba ngàn năm dịch bệnh [三千年疫情/Tam thiên niên dịch tình, 1999] và Lược sử chống dịch bệnh ở Trung Quốc [中国抗疫简史/Trung Quốc kháng dịch giản sử, 2020]

  17. Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ phụ biên (Nxb Văn hóa-Văn nghệ, 2011) và Đại Nam thực lục Chính biên Đệ thất kỷ (Nxb Văn hóa-Văn nghệ, 2012), Cao Tự Thanh dịch.

  18. Những đoạn trích Đại Nam thực lục trong bài viết này và trong bảng “Biên niên dịch bệnh trích lục” đều căn cứ theo bản dịch Viện Sử học (bộ 10 tập, NXB Giáo dục, 2007), chỉ sửa một vài chữ cho dễ hiểu hơn. Một số chi tiết liên quan đến tên dịch bệnh hoặc số liệu đã đối chiếu văn bản gốc chữ Hán.


Phụ lục


PL1
Phụ lục 1: Đệ nhất kỷ, quyển 30, tờ 12 [Bản Khánh Ứng, t.3, tr.514],
Đông cung Cảnh bị bệnh đậu chết.


PL2
Phụ lục 2, Đệ nhị kỷ, quyển 40 [Bản Khánh Ứng, t.6, tr.1920], 
Thái Bình công Mỹ Thùy bị dịch tả chết

PL3
Phụ lục 3, Đệ nhị kỷ, quyển 59, tờ 11 [Bản Khánh Ứng, t.6, tr.2219],
Quảng Oai công bị bệnh đậu chết.

PL4
Phụ lục 4, Đệ tam kỷ, quyển 20, tờ 15 [Bản Khánh Ứng, t.13, tr.5041],
Thừa Thiên, Quảng Trị có dịch sởi truyền nhiễm

Ll5
Phụ lục 5, Đệ tứ kỷ, quyển 2, tờ 44 [Bản Khánh Ứng, t.15, tr. 5733],
Quảng Bình có dịch đậu mùa



Phụ lục 6:


Biên niên dịch bệnh,

trích lục ĐẠI NAM THỰC LỤC (trước, trong, và sau thế kỷ 19)




ĐẠI NAM THỰC LỤC

Chú thích

Th.11- Quý hợi


(1683)


Nam Hà có dịch lớn.

“Bệnh dịch phát, quân và dân chết rất nhiều. Chúa sai cầu đảo các đền thần mới yên.”

(c.1, tr.93)



Th.7- Ất mùi

[Chúa Nguyễn] Duệ Tông năm 10


(1775)


Dịch lớn ở Nam Hà, quân Trịnh chết quá nửa.

“Gặp có dịch bệnh, quân Trịnh chết già nửa. Vì vậy [Hoàng Ngũ] Phúc bí mật định kế hồi binh.”

“Tháng 10, Hoàng Ngũ Phúc dẫn quân về Phú Xuân. Sau bị bệnh, trở về [bắc] chết giữa đường…”

(c.1, tr.185)


Đại Việt sử ký tục biên (SKTB ) chép: chết đợt 1 khoảng 600 lính, đợt 2 chết 300 lính. [bản in 2011, tr.396, 398, 400] Có thể sử quan bên Trịnh giấu bớt số lính chết do dịch. Hoàng Ngũ Phúc cũng có thể do nhiễm dịch bệnh mà chết. Quân số bên Trịnh khoảng 3 vạn.

Th.2 -Tân dậu.

Nguyễn Ánh giám quốc năm thứ 22


(1801)


Đông cung Cảnh chết vì bệnh đậu mùa tại Gia Định.

“Ngày Quý sửu, Đông cung Nguyên súy quận công Cảnh mất. Trước kia Đông cung từ Tây dương về, từng theo đánh giặc, đến nay lưu trấn Gia Định, bị bệnh đậu mùa mất, 22 tuổi.”

(c.1, tr.433)


TL không nói có dịch đậu mùa trong dân, nhưng chép rõ bệnh chứng khiến Đông cung Cảnh chết. Nghi năm này có dịch đậu mùa ở Gia Định.

Ng.v viết “疹痘”

Phụ lục 1

Th.7- Giáp tý

Gia Long thứ 3


(1804)

Bình Định có dịch.

“Bình Định có bệnh dịch, sai quan coi dinh bãi công tác không cần gấp.”

(c.1, tr.612)



Th.2- Giáp tuất

Gia Long 13


(1814)

Dinh Quảng Đức (Thừa Thiên) có dịch.

“Quảng Đức có dịch. Sai quan coi dinh lập sở dưỡng tế ở xã Thế Lại cho người bịnh ở, cấp cho tiền gạo thuốc thang. Người chết thì cho tiền và vải để chôn (tiền 1 quan, vải 10 thước)”

(c.1, tr.878)


Biện pháp cách ly, điều trị tập trung

Th. 3 (1814)

Thanh, Nghệ ra Bắc có dịch lớn

“Từ Thanh Nghệ trở ra bắc có dịch lớn. Sai quan các trấn lập đàn tế nhương”

(c.1, tr.879)

Tế Nhương (禳祭): Cầu cúng trừ tai.

11- Ất hợi

(1815)


“Nghệ An có dịch.”

(c.1, tr.910)



Canh thìn.

Minh Mạng năm đầu


(1820)


Dịch phát ở Hà Tiên rồi lan khắp nước, hơn 207.000 người chết, nhà nước phát chẩn 73 vạn quan.

“Tháng 6, Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường dịch bệnh phát to. Dụ cho sở tại làm lễ cầu đảo, Người bị bệnh không kể quan, quân hay dân đều cho thuốc men. Người chết, quân lính thì cấp tiền tuất và cấp thêm 1 tấm vải; dân thì mỗi người cấp 3 quan tiền. Người nào hài cốt bộc lộ thì nhà nước liệm táng. Lại cho quan triều tuyên dụ cho quan địa phương phải thân đi cấp tiền tuất, hỏi thăm dịch khí nhẹ hay dữ, số quân dân bị bịnh chết, cứ ngày 1 lần tâu.”

(c.2, tr.70)

“Tháng 7, từ Bình Thuận trở ra Quảng Bình báo tin có bệnh dịch. Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp. …Vua bảo bầy tôi rằng: Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay…, Phạm Đăng Hưng tâu: thần nghe dịch bệnh từ Tây dương sang…

Vua lấy thuốc viên mới chế chia cho bầy tôi”.

(c.2, tr.75)

“Dụ cho ở Kinh và các thành dinh hoãn việc bắt lính…”

(c.2, tr.82)

“Tháng 9, Vua bảo với các quan: năm nay dịch lệ phát ra từ Hà Tiên, lan tới Bắc Hà, trước kia chưa có thế…”

(c.2, tr.91)

“Vua nghe rằng những lại dịch từ Quảng Trị trở ra ngoài phần nhiều bớt xén tiền tuất…”

(c.2, tr.92)

“Tháng 12, Bộ Binh dâng sớ tâu: Khoảng mùa hạ mùa thu khí trời không được điều hòa, Hoàng thượng ta xét thấu tình dân, hoãn việc bắt lính thiếu. Nay lệ khí đã yên, xin lệ đòi điền cho đủ ngạch binh

Vua dụ rằng: Dân đau ốm mới khỏi, người đi lánh nạn chưa trở về hết, nếu vội vã bắt lính, há chẳng nhiễu dân sao. Không cho”

(c.2, tr.103)

“Tháng 12, quan ở thành tâu lên nạn dịch ở Bắc Thành đã lui.

Năm nay bệnh dịch phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu ở Hà Tiên, sau rốt đến Bắc Thành. Số hộ khẩu chết tất cả là 206. 835 người, không kể số nam phụ lão ấu ngoài hộ tịch. Trước sau chẩn cấp tổng kê hơn 73 vạn quan tiền.”

(c.2, tr.108)

Đại dịch (lần 1). Tình trạng toàn quốc.

Diễn biến: tr. 70, 75, 76, 82, 91, 92, 103, 108.

Dân số lúc này khoảng 7 triệu.

Sau Việt Nam, Trung Quốc phải hứng chịu trận dịch này suốt năm 1821, phần “Chí”, mục “Tai dị” trong Thanh sử cảo ghi nhận dịch phát vào tháng 3 tại huyện Nhâm Khâu (Hà Băắc), sau đó bùng phát ở khoảng 30 địa phương của nhiều tỉnh, tuy không ghi con số thống kê tử vong cụ thể nhưng mô tả các nơi đều là đại dịch, người chết vô số, không đếm xuể. Trên bình diện quốc tế, theo giới nghiên cứu lịch sử bệnh truyền nhiễm Trung Quốc thì nguồn cơn trận dịch tả này khởi phát ở Ấn Độ vào năm 1817, sau đó theo các thuyền buôn lan về phía đông đến khắp Đông Nam Á rồi Trung Quốc, lan về phía tây đến các xứ ven Địa Trung Hải.

Đương thời, Phạm Đăng Hưng nói: dịch bệnh từ Tây dương sang, tức cũng nắm được dịch bệnh do truyền nhiễm từ nước ngoài.

Th.3- Nhâm ngọ

Minh Mạng 3


(1822)


“Cai bạ Bình Thuận Nguyễn Văn Khiêm, trước đây làm bản sách tâu về việc cấp tuất cho người chết dịch, số người và số tiền không phù hợp, giao xuống cho bộ Hình nghị xử, phải cách chức”

(c.2, tr.204)

Sau dịch 1820, thanh tra xử lý cán bộ phạm pháp. Cách chức.

Th.7- Bính tuất.

Minh Mạng 7


(1826)


Dịch lớn ở Gia Định (Nam Bộ), chết 18.000 người.

“Ở Gia Định có bệnh dịch lớn, quân dân chết hơn 18.000 người. Từ Bình Thuận đến Quảng Bình cũng có báo nạn dịch.

Vua hạ lệnh cho các xứ ấy đều đặt đàn trừ tai…Lại sai thái y các trại quân điều trị những lính bị bệnh. Lính có trốn hay chết đều hoãn đòi bắt. Khi dịch bệnh rút lui, sai bộ Hộ xét những y sinh nào trị giỏi thì khen thưởng. Lại miễn thuế thân năm nay cho dân bị dịch ở Gia Định”

(c.2, tr.518)

“Thái Bình công Mỹ Thùy mất, công là con Anh Duệ hoàng thái tử (Cảnh)

Khi vua mới được tin công mắc chứng hoắc loạn cấp tính, tức thì sai đại thần đem ngự y tới thăm. Đến nơi thì công đã chết rồi”

(c.2, tr.520)

Đây là trận dịch tả, đoạn trước không nói tên bệnh dịch, nhưng đoạn sau nói rõ bệnh chứng “hoắc loạn cấp tính” của Thái Bình công Mỹ Thùy. Trung y dùng chữ hoắc loạn (霍乱) để chỉ bệnh thổ tả và dịch tả, đây cũng là bệnh dịch xảy ra nhiều nhất trong lịch sử. Trương Đại Khánh (sđd) thống kê trong 50 năm (1840-1910), có 3 loại dịch bệnh xảy ra nhiều nhất là: dịch tả (霍乱/hoắc loạn) 45 lần, dịch hạnch (鼠疫/thử dịch) 34 lần, đậu mùa (天花/thiên hoa) 11 lần.

Ng.v viết: “霍乱急症”

Phụ lục 2

Th.6- Đinh hợi

Minh Mạng 8

(1827)

Thừa Thiên có dịch.

“Người dân trong ngoài kinh thành có người mắc bệnh dịch. Phủ doãn Ngô Phước Hội đem việc tâu lên”

(c.2, tr.639)

Nghi là dịch tả.

Th.7


(1827)

Trại lính ở Nghệ An có dịch.

“Binh sĩ ở Nghệ An ngày càng nhiều người bệnh. Phát 20 cân bạch đậu khấu trong kho nội, sai thị vệ đem cấp.”

(c.2, tr.642)

Dịch tả trong doanh trại quân đội.

Th.4- Kỷ sửu

Minh Mạng 10


(1829)

Quảng Oai công bị bệnh đậu, chết.

“Quảng Oai công là Quân chết, Công bị đậu, sinh chứng hiểm. Vua sai ngự y ngày đêm điều trị, không khỏi mà chết.”

(c.2, tr.851)

Quảng Uy công chết do bệnh đậu, nhưng năm này không thấy chép có dịch bệnh trong dân.

Phụ lục 3

Th.3- Canh dần

Minh Mạng 11

(1830)

“Quảng Ngãi có dịch”

(c.3, tr.31)


Th.6- Tân mão

Minh Mạng 12

(1831)


Dịch ở Bình Hòa (nay là Khánh Hòa)

(c.3, tr.192)


Th.3- Quý Tỵ

Minh Mạng 14

(1833)

Dịch ở Hải Dương.

(c.3, tr.501)



Th.12- Quý Tỵ

Minh Mạng 14


(1834)

“Tỉnh Phú Yên có bệnh dịch, nhân dân bị truyền nhiễm, chết hơn 5.000 người. Quan tỉnh tâu lên, vua bảo lập đàn cầu an và chuẩn bị nhiều thuốc thang điều trị. Người nào chết thì cấp cho tiền tuất (đinh nội tịch, mỗi người 3 quan tiền, còn thì đều 2 quan, trẻ con đều 1 quan)”

(c.3, tr.914)



Th.6- Giáp ngọ

Minh Mạng 15


(1834)


Dịch ở Hà Tiên.

“Tỉnh Hà Tiên có dịch bệnh. Quân và dân nhiều người bị nhiễm. Sai quan tỉnh cho thầy thuốc đến điều trị. Những biền binh ra trú phòng, có ai chết, thì những người do Kinh phái đi và những người ở Bình Thuận trở ra Bắc đều cho tiền tuất gấp đôi; người 6 tỉnh Nam Kỳ, mỗi người cấp 3 quan tiền.”

(c.4, tr.218)



Th.12- Giáp ngọ


(1835)

“Tỉnh Bình Thuận phát bệnh dịch, lính và dân nhiễm bệnh chết hơn 590 người. Vua sai quan tỉnh xuất của kho, cấp tiền tuất (nội tịch mỗi người 3 quan, ngoài ra mỗi người 2 quan, trẻ con 1 quan).”

(c.4, tr.469)


Th.10- Ất mùi

Minh Mạng 16

(1835)


“Tỉnh Hưng Yên có bệnh dịch. Dân trong hạt bị truyền nhiễm chết đến hơn 700 người. Lệnh cho quan tỉnh lấy của kho cấp cho tiền tuất”

(c.4, tr.785)


Th.6- Bính thân

Minh Mạng 17

(1836)


“Tỉnh Khánh Hòa có bệnh dịch. Sai quan tỉnh lập đàn tế cầu an.”

(c.4, tr.966)


Th.2- Kỷ hợi

Minh Mạng 20


(1839)


“Các tỉnh Bắc Kỳ (Hà Nội, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Yên) bị bệnh dịch nhiều. Vua sai bày đàn cầu đảo, cho thầy thuốc điều trị. Sai lấy của kho cấp cho tiền tuất (nội tịch mỗi người 3 quan, ngoài ra mỗi người 2 quan, trẻ con 1 quan).”

(c.5, tr.456)

Trận dịch này kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8, lây lan nhiều tỉnh. Tổng cộng chết gần 46.000 người


Th.4 - Kỷ hợi


(1839)

“Các tỉnh Bắc Kỳ lần lượt tâu báo nạn dịch lệ, riêng Hải Dương, Bắc Ninh rất nặng (dân hai tỉnh ấy nhiễm bệnh chết, Hải Dương trên 23.000 người, ở Bắc Ninh hơn 21.500 người)”

(c.5, tr.490)

Hai tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh chết hơn 44.500 người.


Th.8- Kỷ hợi


(1839)

Năm huyện Nam Xang, Thượng Phúc, Thanh Trì, Thanh Oai, Thanh Liêm thuộc Hà Nội lại phát lệ khí nhân dân nhiễm bệnh chết hơn 1.600 người. Dụ quan tỉnh cứ tuân theo Chỉ trước đây mà cấp tiền tuất. Các quan phủ huyện sở tại, vì chậm báo cáo việc này, đều bị phạt”

(c.5, tr.562)

Năm huyện thuộc tỉnh Hà Nội chết hơn 1.600 người. Các quan địa phương báo cáo chậm trễ, bị kỷ luật “phạt cảnh cáo”

Th.5- Canh tý

Minh Mạng 21


(1840)

Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An chết hơn ngàn người.

“Thự Công khoa Chưởng ấn là Đặng Quốc Lang trước đây nhân đi công sai từ Nam Định về, dâng sớ nói: Nghe được các huyện Giao Thủy, Nam Chân, Thượng Nguyên, Thiên Bản ở hạt ấy nhân dân chết dịch có đến hàng nghìn người. Và đi đường qua huyện Kỳ Hoa tỉnh Hà Tĩnh, huyện Phong Lộc tỉnh Quảng Bình cũng nghe nói có bệnh dịch. Xin xuống sắc hỏi rõ để cứu chữa.

Vua truyền cho lập tức xét hỏi tình hình thực tại, làm sớ tâu ngay.

Đến bây giờ ba tỉnh ấy tâu nói: Hiện nay lệ khí đều đã lui bớt. Vua bèn dụ cho chiếu số người chết dịch, xét cấp tiền tuất (Nam Định hơn 200 người, Hà Tĩnh hơn 400 người, Quảng Bình hơn 800 người (dân nội tịch mỗi người 3 quan, ngoài ra mỗi người 2 quan, trẻ con 1 quan). Quan tỉnh vì báo chậm đều bị sức quở, Dân Nghệ An cũng có bị dịch hại, chết hơn 200 người, cấp tiền tuất như lệ.

(c.5, tr.716)

Quan địa phương giấu dịch, bị kỷ luật “khiển trách”


Th.6


(1840)

“ Đến kỳ duyệt tuyển quân, Thanh Hoa tâu nói: hạt ấy từ tháng giêng đến giờ, nhân dân chết dịch hơn 2.000 người, bệnh dịch vẫn chưa thôi dứt, tình hình đương lúc quẫn bách, xin hoãn việc duyệt tuyển.

Vua bảo bộ Hộ: Hạt Thanh Hoa từ trước vẫn tâu báo nói gạo rẻ lúa tốt, không nghe nói có dịch bệnh đau khổ gì, nên lệ khóa duyệt tuyển đã cho cử hành. Nay kỳ tuyển đến nơi, mới đem việc tai nạn báo lên. Vả lại, xét trong lời tâu, bệnh dịch phát ra từ mồng một tháng giêng, nếu dân gian có sự ngặt nghèo, sao không tâu trước….

Phái Thự Hộ khoa Cấp sự trung Phan Tĩnh mật đi dò xét, về nói rằng: Hạt ấy khí dịch lệ đã lui 8,9 phần, chỉ vì tỉnh thần quên việc duyệt tuyển, cho nên nói thác ra mà xin hoãn để che lỗi. Vua ghét tội dối trá, bắt Thự đốc Trần Hữu Thăng, Bố chính Nguyễn Nhược Sơn đều cách chức, đưa về Kinh, giao cho bộ Lại nghiêm bàn tội.”

(c.5, tr.734)

Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương có dịch lệ.

(c.5, tr.734-735)

Thanh Hóa báo cáo láo, nâng số người chết. Quan địa phương bị kỷ luật “cách chức”


Th.9


(1840)

Hưng Yên hơn 3.000 người chết dịch.

“Quan tỉnh Hưng Yên tâu nói: hạt ấy độ đầu xuân có bệnh dịch lệ hơn một tháng thì thôi. Đến tháng 5 lại phát ra bị truyền nhiễm chết đến hơn 3.000 người, nay mới yên hẳn. Vua dụ theo lệ cấp cho tiền tuất. Còn việc tâu báo chậm trễ, truyền Chỉ sức quở.

(c.5, tr.748)

Dịch phát từ đầu xuân đến cuối thu mới báo cáo. Quan địa phương bị kỷ luật “khiển trách”


Th.10


(1840)


Sơn Tây chết dịch hơn 4.900 người.

“Các huyện thuộc hạt Sơn Tây, từ xuân tới thu, bệnh dịch lại phát, dân nhiều người bị truyền nhiễm chết (hơn 4.900 người). Đến bây giờ mới đem việc tâu lên, Vua sai phát tiền tuất, xét từng người cấp cho. Tổng đốc Nguyễn Công Hoan tâu báo chậm trễ, truyền Chỉ sức quở.”

(c.5, tr.818)

Quan địa phương giấu dịch, bị kỷ luật “khiển trách”. Trên tổng thể, thấy dịch hoành hành liên tiếp 2 năm, từ tháng 2 năm 1839 đến cuối năm 1840. Diện rộng, toàn miền Bắc. Nhiều tỉnh giấu dịch. Số liệu cho thấy trận dịch này tổng cộng (2 năm) ước có đến 60.000 người chết.

Th.2- Tân sửu

Thiệu Trị năm đầu


(1841)

“Phủ Thừa Thiên và các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa có bệnh dịch. Vua sai các quan ở tỉnh hạt ấy lập đàn cầu cúng. Người bị bệnh thì cấp cho thuốc, người chết thì cấp tiền tuất.”

Dịch

(c.6, tr.88)

Vùng

Th.5- Nhâm dần

Thiệu Trị thứ 2


(1842)

Dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị.

“Dân 2 hạt Thừa Thiên, Quảng Trị phần nhiều bị bệnh sởi truyền nhiễm (疹氣). Vua sai các quan ở tỉnh hạt ấy lập đàn cầu cúng và sai thầy thuốc cắt thuốc đem đi khắp nơi để điều trị. Qua một tháng, dịch sởi rút bớt, dân trong hạt được yên…”

(c.6, tr.359)

Tên bệnh viết “疹氣” (chẩn khí)

Phụ lục 4

Th.2- QúyQuý mão

Thiệu Trị thứ 3


(1843)

Dịch bệnh ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.

“Bình Định và Quảng Ngãi có bệnh dịch. Các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Phú Yên và Thừa Thiên cũng lần lượt bị truyền nhiễm.

(c.6, tr.462)

Hữu tham tri bộ Binh Phan Thanh Giản dâng sớ nói: …Tôi nghe trong khoảng tháng 4 tháng 5 năm ngoái, ở Nam Kỳ đã có dịch lệ mà quan địa phương không đem tâu lên…”

(c.6, tr.464)

Thừa Thiên và các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi sau đó tâu báo về tin dịch lệ đã lui bớt…”

(c.6, tr. 469)

Thực lục ghi chép khá rõ về cách ứng phó lôi thôi của triều đình.

Nam Kỳ giấu dịch năm ngoái (1842)

Th.4


(1843)

“Hạt Thừa Thiên lại phát lệ khí. Sai viện Thái y đem thuốc ở kho chia nhau đi chữa bệnh.”

(c.6, tr.488)

Dịch bệnh tái phát

Th.1- Giáp thìn

Thiệu Trị thứ 4


(1844)


“Các tỉnh Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Bình, Phú Yên, Khánh Hòa và Biên Hòa từ sang xuân đến giờ, chứng lệ khí lại phát, hạt Thừa Thiên lại càng nhiều hơn.

Dụ cho quan Kinh doãn và các tỉnh đều phải lập đàn cầu đảo, phái thầy thuốc đi điều trị. Các hạng biền binh ở Kinh cũng có người bị cảm nhiễm. Chuẩn cho người nào quán thuộc Thừa Thiên, Quảng Trị thì tha cho về; quán ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh thì về kinh thao diễn, lượng cấp cho tiền gạo (người cảm nặng đều được 5 bát gạo trắng và 3 tiền, người cảm nhẹ được 3 bát gạo trắng và 2 tiền)…”

(c.6, tr.573)


Th.10



(1844)

“Triển hoãn việc gọi lính, thu thuế cho các xã dân bị chết dịch. Trước đây, các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa, Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, Hà Tiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An và Hà Tĩnh, bệnh dịch phát ra, những người chết đã được cấp tiền tuất và miễn thuế. Lại dụ sai các địa phương phải xét nghiệm các xã thôn có chứng lệ khí, nơi nào bị hại nặng chia ra từng hạng, làm thành danh sách. Các tỉnh lần lượt làm tập tâu lên. Vua giao xuống cho bộ Hộ bàn. Bộ cho rằng các nơi bị tai hại nặng nhẹ khác nhau, xin nghĩ chia ra từng hạng, chước lượng cứu giúp.”

(c.6, tr.672)


Th.11


(1844)

“Hai huyện Mỹ Lộc, Thư Trì thuộc tỉnh Nam Định, huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An lại phát bệnh dịch. Sai lập đàn cầu đảo và tìm thuốc điều trị.”

(c.6, tr.676)


Th.2- Ất tỵ

Thiệu Trị thứ 5

(1845)


Dịch bệnh ở Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An.

“Huyện Phong Lộc và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, huyện Hưng Yên [Nguyên] tỉnh Nghệ An và huyện Minh Linh tỉnh Quảng Trị lại phát bệnh dịch. Vua sai lập đàn tế cầu an và phát thuốc để chữa.”

(c.6, tr.710)



Th.3


(1845)

Dịch bệnh ở Nam Định, Hà Tĩnh.

“Tỉnh Nam Định, tỉnh Hà Tĩnh lại phát bệnh dịch (xã Bình Cách huyện Đông Quan tỉnh Nam Định chết 68 người; 5 phủ, huyện Nghi Xuân, Hương Sơn, Cẩm Xuyên, Hà Thanh, Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh chết hơn 550 người), đều sai quan tỉnh phát thuốc điều trị, đặt đàn tế cầu an.”

(c.6, tr.723)


Th.2- Bính ngọ

Thiệu Trị thứ 6

(1846)

“Các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Nghệ An có bệnh dịch…”

(c.6, tr.838)


Th.1-Đinh mùi

Thiệu Trị thứ 7


(1847)

Dịch bệnh ở Nam Định, Hà Tĩnh, Biên Hòa.

Tỉnh Nam Định (hai huyện Chân Định [nay là huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình], Thư Trì nay thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình]), tỉnh Hà Tĩnh (huyện Thạch Hà) và tỉnh Biên Hòa có bệnh dịch. Đều sai đem thuốc đến điều trị; người chết thì cấp cho tiền tuất.”

(c.6, tr.961)


Th.8


(1847)

Dịch bệnh ở Bắc Ninh.

“Khoa đạo Đỗ Danh Thiếp tâu: Nghe nói tỉnh hạt Bắc Ninh từ mùa đông năm ngoái đến mùa hạ năm nay chết dịch đến hơn 300 người mà quan tỉnh không tâu lên. Vua lệnh cho Thự tổng đốc Phạm Duy Trinh phải tâu ngay về. Duy Trinh tâu nói: Ngẫu nhiên có 1, 2 người bị bệnh chết nhưng không phải do bệnh dịch khí truyền nhiễm, nay đã yên rồi.”

(c.6, tr.1056)


Th.2-Nhâm thân

Tự Đức năm đầu


(1848)


Dịch bệnh ở Hà Nội, Bắc Ninh.

“Hà Nội, Bắc Ninh bệnh dịch có lúc phát ra, chuẩn cho phát thuốc cứu chữa và cầu cúng cho khỏi, nếu ai chết thì cho tiền tuất.”

(c.7, tr.60)


Th.6


(1848)

Quảng Bình chết hơn 2.100 người vì bệnh đậu mùa.

“Dân tỉnh Quảng Bình bị bệnh lên đậu mùa chết nhiều (hơn 2.100 người). Lập đàn cầu cúng và cho nhiều thầy thuốc điều trị. Những dân bị bệnh chết chiếu hạng cấp tiền tuất (hạng tráng mỗi tên cấp 3 quan tiền, con trai và đàn bà cấp 2 quan, trẻ con 1 quan)”

(c.7, tr.78)

Nguyên văn ghi rõ tên dịch “痘” (đậu)

Phụ lục 5

Th.9


(1848)

Dịch bệnh ở Hưng Yên.

“Tỉnh Hưng Yên bị bệnh dịch lệ, sai thầy thuốc điều trị và lập đàn cầu cúng. Người dân bị bệnh chết chiếu hạng cấp tiền tuất.”

(c.7, tr.94)


Th.7- Quý dậu

Tự Đức thứ 2


(1849)


Dịch bệnh ở Kinh sư và nhiều tỉnh, hoãn thi.

“Ở Kinh sư và các địa phương ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ có bệnh dịch lệ lớn (dịch lệ từ tháng 3 đến nay càng lớn, dân chết và nhiễm bệnh rất nhiều). Vua sai phát thuốc điều trị và cầu cúng, người chết thì cấp cho tiền tuất. Phủ Thừa Thiên lại cấp quan tài và vải cho người nghèo.

Hoãn kỳ thi Hương về văn ở các trường Thừa Thiên, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định (vì lệ khí và mưa lụt, 2 trường Nghệ An, Thanh Hóa hoãn đến tháng 2 sang năm; trường Thừa Thiên hoãn đến tháng 3; trường Nam Định, Hà Nội hoãn đến tháng 4. Thi Hội hoãn đến tháng 7; riêng trường Gia Định y lệ thi vào tháng 9 năm nay). Cũng hoãn kỳ thi võ ở Kinh (hoãn đến tháng 3 sang năm, sau kỳ thi Hương về văn).”

(c.7, tr.134)

Dịch phát từ tháng 3, đến tháng 7 nặng hơn.


Th.8


(1849)

“Khoa đạo là Đặng Minh Trân lấy cớ là có lệ khí trái hòa, xin xét lại án về mùa thu năm nay, đình hoãn 1 lần.

Vua nói: Kỳ xét án mùa thu năm nay, ngoài những tù tội nặng chuẩn cho đình hoãn thì không kể, còn kẻ nào tình đáng thương, đáng ngờ và tội trạng tầm thường thì ty Tam pháp tức thì trích bàn làm bản tâu lên, lượng cho khoan giảm.

Lệ khí hơi lui.”

(c.7, tr.138)


Th.9


(1849)

“Văn võ đình thần lấy cớ là dịch lệ chưa yên hẳn, nhân tâu bày 5 việc: (tóm ý) 1/ phục hệ tôn thất và cấp lương bổng cho con cháu Mỹ Đường; 2/ cho con cháu công thần Ttrung hưng dự ấm, cấp bổng; 3/ khoan miễn tội trước cho Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất;

4/ bỏ lệ đưa con cháu nhà Lê vào định cư Tả kỳ, trùng tu đền miếu nhà Lê; 5/chọn Kinh lược đại thần để sửa đổi lề lối và quan lại.

Vua đều nghe theo.”

(c.7, tr.139-140)


Th.12 -Quý dậu



(1850)

Dịch bệnh ở nhiều tỉnh, ở Vĩnh Long chết 43.400 người, ở Quảng Bình chết 23.300 người.

“Các tỉnh Bình Định, Vĩnh Long, Định Tường, Hà Tĩnh, Sơn Tây, Quảng Bình, Hải Dương, Quảng Yên lệ khí lại phát ra; tỉnh Vĩnh Long, Quảng Bình nhiễm lệ khí rất nặng (Vĩnh Long có hơn 43.400 người chết, Quảng Bình có hơn 23.300 người chết).

Phủ Thừa Thiên lệ khí cũng lại phát ra nhiều. Vua sai Tả tham tri bộ Hộ là Tôn Thất Thường đến miếu Đô thành hoàng; Phó đô ngự sử Đô sát viện là Bùi Qũuyỹ đến miếu Hội đồng; Kinh doãn là Vũ Trọng Bình đến đền Thai Dương phu nhân, đều làm lễ cầu đảo. Lệ khí rồi giảm bớt, gió mưa thuận thường. Vua khen, bọn Thường đều được thưởng”

(c.7, tr.148)

“Phủ Thừa Thiên lúa vụ mùa hơi tốt, cũng gián hoặc có nơi tổn hại, nhân vì tháng ấy có dịch lệ, giá gạo cao vọt lên. Vua sai Phủ doãn Vũ Trọng Bình xuất gạo kho 20.000 phương để bán ra. Dân ở ba huyện Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vinh gần liền kinh thành, chuẩn cho lãnh ở kho Kinh; ba huyện Phú Lộc, Phong Điền, Quảng Điền đường xá hơi xa, do viên Kinh doãn lãnh gạo ở kho chở đến bán, để tiện cho dân (1 phương gạo trị giá 2 quan 2 tiền 30 đồng, giảm xuống là 1 quan 8 tiền)

(c.7, tr.149-150)

“Dân nộp thuế bằng vàng ở Quảng Nam bị nhiễm lệ khí chết (293 người) chuẩn cho bỏ tên ở sổ ra và miễn thuế cho. Thuế để thiếu lại (130 lạng có lẻ) cho hoãn sang năm sẽ thu.”

(c.7, tr.151)

Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập, quyển 2, chép: “Năm thứ 2. Mỹ Đường ốm chết. Kinh thành có lệ khí, xuống chiếu tìm cách để dẹp yên thiên tai.” (bản in Thuận Hóa 2005, Tập 2, tr.57)

Th.1-Giáp tuất

Tự Đức thứ 3


(1850)


Thống kê số người chết dịch trong năm 1849 là 589.460 người.

“Tả, Hữu hai kỳ và 6 tỉnh Nam Kỳ từ năm ngoái đến nay nhân dân nhiễm khí dịch lệ nặng. (Hộ bộ thông tính các hạt Nam, Bắc bị chết cộng 589.460 người) và ruộng lúa phần nhiều thu hoạch kém.”

(c.7, tr.155)

Tháng 2, …sau lễ tế Nam Giao, ban chiếu 15 điều:

(điều 10) – Các hạt từ Thanh Hóa trở ra Bắc, hiện nay dân có tên ở sổ, dân bị chết dịch là bao nhiêu, chuẩn cho tức thì bỏ tên trong sổ ra, miễn thuế cho và triển hoãn cho 3 năm…”

(c.7, tr.158)

Cấp độ đại dịch (lần 2, số người chết gấp 3 lần trận đại dịch lần 1 năm 1820, cao nhất trong thế kỷ 19). Tình trạng toàn quốc. Dịch phát từ tháng 3 năm 1849, đến tháng 7 đỉnh dịch, đến tháng giêng năm 1850 mới ngưng. Chết gần 590.000 người (dân số khoảng 7 -8 triệu)

Th.5-11 - Ất hợi

Tự Đức thứ 4


(1851)

Lạng Sơn chết dịch hơn 4.480 người.

“Tỉnh Lạng Sơn khí dịch lệ lại phát ra (từ tháng này đến tháng 11 mới yên), những người bị nhiễm bệnh chết hơn 4.480 người, chiếu theo từng hạng cấp tiền tuất. Còn dân ở sổ dời hạn nạp thuế ruộng.”

(c.7, tr.201)


Th.4- Bbính tý

Tự Đức thứ 5


(1852)


Nhiều tỉnh Bắc Kỳ, Trung Kỳ có dịch.

“Các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Nguyên bị hạn hán. Các tỉnh Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên dịch lệ phát ra. Vua sai quan các tỉnh ấy đến tế trận vong tướng sĩ, chẩn cấp và tế các quân dân chết dịch, cho được yên ủi vong hồn, đem lại khí hòa.”

(c.7, tr.244)


Th.12- Bính tý


(1853)

Nhiều tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc có dịch.

“Vua thấy từ Bắc Kỳ đến Quảng Trị có dịch lệ phát ra, bèn dụ quan phủ Thừa Thiên phải dẹp yên trước, đi làm cho rõ lẽ oan uổng, cứu chữa những kẻ quẫn bách, để tiêu tai họa lúc chưa xảy ra”

(c.7, tr.257)

Tự Đức nghĩ để xảy ra nhiều án oan, dân nhiều người cùng cực thì có thể sinh tai họa dịch bệnh, nên lệnh cho Phủ doãn Thừa Thiên lo giải trừ. Cách nghĩ tuy có duy tâm nhưng có lợi về đường nhân đạo.

Th.2- Đinh sửu

Tự Đức thứ 6


(1853)

Dịch bệnh ở Thái Nguyên, Bắc Ninh.

“Bắc Ninh, Thái Nguyên bị bệnh dịch lệ. Vua sắc cho đốc thần Nguyễn Quốc Hoàn rằng: quan lại mọt nát chưa trừ bỏ, nhân dân đau khổ chưa hồi lại, để đến nỗi can phạm khí hòa. Nay nên vì đức, vì dân, làm hết chức phận.”

(c.7, tr.267)



Th.9


(1853)

Thống kê trong hai năm (1852-1853), ở một số tỉnh có 9.074 người chết dịch.

“Các tỉnh Hà Nội, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên do thời tiết bị chết dịch đều chiểu hạng cấp cho tiền tuất. Về số dân hiện biên ở sổ đinh, tính suốt từ năm ngoái đến nay, chết dịch cộng 9.047 người, cho hoãn hạn điền vào sổ đinh 2 năm, hoặc 3 năm, hoặc 10 năm ”

(c.7, tr.287)


Th.4- Bính thìn.

Tự Đức thứ 9


(1856)

Dịch bệnh ở Hà Nội.

“Hà Nội có bệnh dịch lệ, trong đó có thôn Tiêu Thiều xã Đông Lỗ (số dân có 7 người chết mất 5 người), xã Nội Lưu (số dân có 13 người chết mất 8 người) [đều thuộc huyện Ứng Hòa] nguyên số đinh ít, số chết ấy không đủ lệ (10 người trở lên mới cho tiền tuất, mà về tình thì rất hại, quan tỉnh vì các xã thôn ấy làm tập tâu xin hộ. Vua gia ơn cho tiền tuất và bỏ tên hoãn điền đều theo như lệ…”

(c.7, tr.435)



Th.9


(1856)

55 xã ở các tỉnh Sơn Tây, Hưng Yên, Tuyên Quang bị bệnh dịch.

“Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên là Nguyễn Bá Nghi dâng sớ tâu 55 xã thuộc hạt ấy dân bị chết dịch. Trong số đó có 50 rất là thiệt hại, tâu xin giúp đõ. Chuẩn cho theo lệ cấp tiền tuất, xóa sổ miễn thuế, hoãn cho 2 năm mới phải điền tục (nộp tiếp thuế đất)”

(c.7, tr.469)


Th.12- Bính thìn


(1857)

Dịch bệnh ở Hà Tĩnh.

“Đạo Hà Tĩnh có bệnh dịch. Sai làm lễ cầu cúng và chữa thuốc; những người bị chết đều cho tiền tuất”

(c.7, tr.482)


Th.1-5- Đinh tỵ.

Tự Đức thứ 10


(1857)


Dịch bệnh ở Bắc Ninh, Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định, Nghệ An, Hưng Yên, Sơn Tây.

“Các địa phương về Thừa Thiên, Bình Định, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương và Quảng Yên thỉnh thoảng có chỗ có dịch bệnh phát ra (từ tháng giêng, hai, ba đến nay.”

(c.7, tr.559)

Từ Thừa Thiên ra Bắc, nhiều tỉnh có dịch từ tháng giêng đến tháng 5.

Th.4- Kỷ mùi

Tự Đức thứ 12


(1859)

Dịch bệnh ở Kinh sư.

“Trong Kinh kỳ mới phát bệnh dịch. Vua dụ cho phủ Thừa Thiên hội đồng với bộ Lễ cầu đảo cho dân (đặt đàn tế cầu an, lại tế ma vô tự một tuần), để trừ bệnh truyền nhiễm”

(c.7, tr.604)


Th.1-5- Quý hợi

Tự Đức thứ 16


(1863)


Dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường. (Thừa Thiên, Quảng Trị chết 3.600 người, Định Tường chết 1.670 người)

“Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường thỉnh thoảng có phát ra bệnh lệ khí (từ năm trước đến nay), sai đều cho thuốc chữa trị và cúng lễ, ai chết thì cấp cho tiền tuất (Thừa Thiên, Quảng Trị vừa đàn ông vừa đàn bà hơn 3.600 người, Định Tường vừa đàn ông vừa đàn bà 1.670 người). Về dân trong sổ sau cũng cho gia hạn thuế đất theo lệ”

(c.7, tr.815)

Lúc này triều đình rối việc đối phó với Pháp. Tình hình dịch bệnh bỏ lơ, dịch bệnh từ năm trước mà đến nay mới tóm gọn nói chung (cả năm 1862 không thấy chép về dịch bệnh)


Th.7


(1863)

Nhiều tỉnh trong cả nước bị dịch,

“Từ Quảng Trị, Quảng Bình trở vào Nam, đến cả Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương, Cao Bằng bệnh dịch lệ thỉnh thoảng phát ra, đều chẩn tuất cho. Tháng ấy trong Kinh kỳ lại có bệnh dịch lệ. Vua nghe nói những dân nghèo chôn cất người chết phần nhiều để bộc lộ. Sai quan phủ lập đàn chẩn tế ”

(c.7, tr.818)

Tháng 8 năm này dân Nam kỳ bị nạn đói; Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Bình, Lạng Sơn, Hải Dương bị đói.

Báo cáo tình hình chết dịch năm 1862-1863, thảm cảnh dân nghèo đói bệnh chết chôn cất qua quít, càng khiến dịch bệnh lây lan.

Th.5- giáp tý

Tự Đức thứ 17


(1864)

Dịch bệnh ở Cao Bằng, Nghệ An.

“Quan tỉnh Cao Bằng đem những dân có tên trong sổ năm ngoái bị bệnh dịch chết (3.392 người) dâng lên, xin chia hạng cho trừ hoặc hoãn thuế. Vua y cho. Nghệ An bị bệnh truyền nhiễm chết (1.655 người), cũng chẩn cấp tiền tuất và hoãn thu thuế”

(c.7, tr.852)

Năm 1863, chết do bệnh dịch ở Cao Bằng 3.392 người; ở Nghệ An 1.655 người.


Th.6


(1864)

Dịch bệnh ở Hà Nội.

“Hà Nội phát bệnh dịch lệ. Sai quan tỉnh chế nhiều thuốc hoàn tán, chia cấp cho các nơi. Lại sai thông chép đơn thuốc, theo đó mà làm và chế nhiều thêm để cấp cho trại quân”

(c.7, tr.858)


Th.7- Giáp tuất

Tự Đức thứ 27


(1874)

Dịch bệnh ở Bình Thuận, chết 700 người.

“Tỉnh Bình Thuận có bệnh dịch (nhiễm bệnh chết 700 người). Vua bảo rằng: Phàm cầu đảo không có công hiệu, nhưng cứ yên lặng ngồi nhìn thì không yên tâm, mà không có phép gì cho khỏi được. Chỉ dốc sức các phủ huyện đi xuống làng ấp gia tâm thăm hỏi, người bệnh thì cho thuốc, người đói thì cho cơm, xét khuyên những nhà giàu thương nhau chu cấp cho nhau, không đủ thì cấp gạo kho công cho chóng được yên, rồi tâu lên.”

(c.8, tr.51-52)

Quan điểm về cầu đảo.

Vận động xã hội tương tế.

Th.10


(1874)

Dịch bệnh ở Khánh Hòa.

“Tỉnh Khánh Hòa nhiễm lệ khí, vua sai quan tỉnh cùng phủ, huyện làm nhiều thuốc để chữa, người dân bị chết thì cấp tiền tuất.”

(c.8, tr.73)


Th.7- Ất hợi

Tự Đức thứ 28


(1875)

Dịch bệnh ở Sơn Tây, Hưng Yên, Khánh Hòa, Phú Yên.

“Các tỉnh Sơn Tây, Hưng Yên, Khánh Hòa, Phú Yên nhiễm chứng dịch lệ, sai các tỉnh, phủ huyện cầu đảo, chữa thuốc, dân bị chết cấp cho tiền tuất.”

(c.8, tr.131)



Th.11


(1875)

“Từ mùa thu đến mùa đông, các tỉnh Phú Yên, Bình Thuận, Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên, Sơn Tây, Tuyên Quang bị nhiễm dịch lệ nhiều, mà Khánh Hòa là nặng nhất. Vua nhiều lần giáng dụ sai cứu chữa.”

(c.8, tr.157)


Th.7- Bính tý

Tự Đức thứ 29


(1876)

Dịch bệnh ở Thừa Thiên,

“Thừa Thiên có bệnh dịch. Vua sai quan phủ ấy đến khắp đền thiêng cầu đảo, người bị bệnh thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền tuất.”

(c.8, tr.184)


Th.2- Đinh sửu

Tự Đức thứ 30


(1877)

Dịch bệnh ở Bình Định, Bình Thuận

“Hai tỉnh Bình Định, Bình Thuận, dân phần nhiều truyền nhiễm chứng lệ khí, sai quan tỉnh tìm thuốc chữa và cấp tuất cho.”

(c.8, tr.227)


Th.4


(1877)

Dịch bệnh ở Kinh sư.

Dịch bệnh ở Bình Thuận, Bình Định, Thanh Hóa, chết rất nhiều người.

(c.8, tr.234-235)


Th.6

(1877)

Dịch bệnh ở Quảng Trị.

(c.8, tr.243)


Th.12- Đinh sửu


(1878)

Dịch bệnh ở Bắc Ninh.

“Tỉnh Bắc Ninh có bệnh dịch (3 tổng Phụng Công, Hòa Bình, Đa Ngưu thuộc huyện Văn Giang chết vì dịch rất nhiều), sai quan tỉnh cầu đảo, chữa thuốc và cấp tuất.”

(c.8, tr.265)


Th.1- Mậu dần

Tự Đức thứ 31


(1878)


Dịch bệnh ở Bình Định.

“Ba huyện Tuy Viễn, Tuy Phước và Phù Cát thuộc tỉnh Bình Định bị nạn lệ khí”

(c.8, tr.275)


Th.2


(1878)

Dịch bệnh ở Quảng Trị

“Tỉnh Quảng Trị năm trước bị tai nạn dịch lệ (2 huyện Hải Lăng, Minh Linh thuộc phủ Triệu Phong từ tháng 8 năm thứ 29 (1876) đến tháng 8 năm ngoái (1877), đàn ông đàn bà chết 4.326 người).

(c.8, tr.277)

Địa bàn 2 huyện, dịch lớn, kiểm đếm số người chết của hai năm trước (1876-1877)

Th.1- Canh thìn.

Tự Đức thứ 33


(1880)

Dịch bệnh ở Bình Định, chết 3.220 người, cấp tiền tuất (người lớn 3 quan, trẻ con và đàn bà 2 quan)

(c.8, tr.391)


Th.5- Nhâm ngọ

Tự đức thứ 35


(1882)

Dịch bệnh ở Phú Yên.

“Tỉnh Phú Yên có dịch bệnh. Vua sai quan tỉnh ấy gia tâm chữa chạy, hơn 1 tháng dần bớt.”

(c.8, tr.531)


Th.2- Đinh hợi.

Đồng Khánh 2

(1887)

“Các tỉnh Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hải Dương bị nạn dịch lệ, đều chiểu lệ tính toán chế thuốc để điều trị.”

(c.9, tr.311)


Th.4 nhuận.


(1887)

“Tỉnh Thanh Hóa bị nạn dịch lệ (từ tháng này đến tháng 9, cả tỉnh nhiễm bệnh chết 9.500 người). Tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh cũng vài nơi phát dịch.”

(c.9, tr.338)

Trận dịch này từ tháng 4 nhuận đến tháng 9 mới ngưng.

Th.8


(1887)

Dịch bệnh ở Thanh Hóa.

“Tỉnh Thanh Hóa dịch lệ phát ra từ tháng 2, đến nay chưa yên (bị nhiễm chết hơn 9.500 người). Sai quan tỉnh, phủ và huyện hết lòng thành cầu đảo, cốt sớm yên, để làm ơn cho dân bị tai nạn.”

(c.9, tr.358)

Trước nói khởi từ tháng 4 nhuận, đây nói khởi dịch từ tháng 2.

Đồng Khánh chính yếu, quyển 2, Ái dân: “Tháng 8, Thanh Hóa bị lệ khí lâu ngày.”

Th.4- Mậu tý.

Đồng Khánh 3

(1888)

Dịch bệnh ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

(c.9, tr.407)

Dịch kéo dài từ tháng 4 năm 1887 đến nay.

Th.6


(1888)

Quảng Ngãi có bệnh đậu mùa, chết 13.934 người.

“Bệnh đậu và thời khí phát dữ ở Quảng Ngãi. Từ tháng 11 năm ngoái đến tháng này (th.6), bị nhiễm bệnh chết 13.934 người cả đàn ông và đàn bà. Quan Phòng ngự là Nguyễn Thân đem việc tâu lên. Cho Cơ mật viện bàn với viên Công sứ chọn phái quan thầy thuốc nước Pháp, đem cả thầy thuốc ta, người đã quen biết cách trồng đậu, đến trồng để đỡ tai hại cho dân”

(c.9, tr.418-19)

Địa bàn 1 tỉnh, dịch rất lớn, tên dịch rõ ràng, số người chết kiểm đếm chi tiết. Đã cố gắng ngăn dịch, phối hợp chữa trị Tây y với thuốc ta.

(Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1898-Thành Thái thứ 10 - hộ khẩu là 25.568 người. Thống kê này có lẽ không đúng)

Th.7

(1888)

Dịch bệnh ở Nghệ An.

(c.9, tr.424)


Th. 2 nhuận. Canh dần.

Thành Thái năm thứ 2.


(1890)

Nhiều tỉnh có dịch.

“Phủ Phụ chính tâu nói từ mùa đông năm trước (1889) đến nay, các tỉnh các phủ dịch khí lan tràn, vẫn chưa yên ổn…”

(Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên/ CBĐLKPB, tr.107)

[Trở xuống, trích từ bản dịch Cao Tự Thanh]


Th.4-

(1894)

Nghiêm định điều cấm về dịch trâu bò…

(CBĐLKPB, tr.204)



Th.5

(1894)

Phủ Thừa Thiên có dịch.

“Phủ Thừa Thiên có bệnh dịch, sai quan phủ cấp thuốc chữa trị.”

(CBĐLKPB, tr.204)

Ở Trung Quốc, năm này, Quang Tự thứ 20, dịch hạch khởi phát ở Hương Cảng, rồi lan bùng thành dịch lớn. Có quan hệ với trận dịch hạch ở Vân Nam hồi năm 1855.

Th.1


(1895)

Phủ Thừa Thiên có dịch.

“Các hạt ở Thừa Thiên báo có dịch lệ, sai chế các thuốc hoàn tán theo kinh nghiệm và sao chép bố cáo phương thuốc chữa trị cho sớm để chữa bệnh cho dân.”

(CBĐLKPB, tr.219)

Dịch kéo dài từ tháng 5 năm 1894 đến nay, có vẻ lan rộng.

Th.5- Nhâm dần. Thành Thái 14


(1902)


Phủ Thừa Thiên có dịch cúm.

“Thời chứng lan rộng, nhân dân quanh kinh thành và ở thôn xóm nhiều người mắc bệnh.”

(CBĐLKPB, tr.388)

Ở Trung Quốc, năm này, Quang Tự thứ 28, tháng 6 dịch tả phát ở Bắc Kinh và Thiên Tân, chết hơn 1 vạn người.

Th.7- Quý mão


(1903)


Bình Thuận có dịch.

“Quan tỉnh Bình Thuận báo tin bệnh dịch (từ ngày 2 đến ngày 25 dân các xã thôn ở hai phủ huyện Hàm Thuận, Hòa Đa có 115 ngưởi nam nữ nhiễm bệnh, đã sức cho Tri phủ, Tri huyện đích thân tới các linh từ thành kính cầu đảo)”

(CBĐLKPB, tr.407)


Th.9


(1903)

Các tỉnh từ Bình Thuận tới Quảng Nam có dịch.

“Lúc bấy giờ dịch khí lưu hành, các tỉnh Tả Trực kỳ đều báo về tình hình hoạn nạn của dân (dân bị cảm nhiễm các chứng hàn nhiệt ghẻ lở, súc vật có con bị dịch chết, trong đó tỉnh Bình Thuận là thiệt hại nặng nhất)”

(CBĐLKPB, tr.407)


Th.4- Giáp thìn


(1904)


Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An có dịch gia súc.

“Các hạt có dịch (huyện Gio Linh Quảng Trị, huyện xã Xuân Án Nghi Xuân Hà Tĩnh, xã Xuân Án Nghệ An đều báo tin có dịch, trong đó Quảng Trị là nặng nhất, có khi trâu bò không bêệnh không già nhưng gặp mưa thì cứng đờ ra mà chết)”

(CBĐLKPB, tr.420)


Th.7


(1904)

Đảo Phú Quý (Thuận Tĩnh) tỉnh Bình Thuận có dịch.

“Đảo Thuận Tĩnh tỉnh Bình Thuận bị hạn hán dịch bệnh, dân đói xiêu tán hơn 200 người. Sai quan tỉnh tra xét trù tính chẩn cấp để giúp dân qua lúc cấp bách…”

(CBĐLKPB, tr.428)


Th.12- Giáp thìn


(1905)

Thừa Thiên có dịch gia súc. Định lệ xử phạt những người không làm theo hướng dẫn phép vệ sinh phòng dịch.

“Thân định lệ phạt trong việc phòng dịch trâu bò. Lúc bấy giờ ở phủ Thừa Thiên dịch trâu bò lan ra…(Sửa đổi điều lệ tháng 7 năm 1881). Gồm 5 khoản: 1/ Cách ly súc vật bị bệnh, trình báo quan trên; 2/ Nghiêm cấm vận chuyển súc vật, da sừng ở nơi có dịch bệnh đi nơi khác; 3/Súc vật bệnh chết phải chôn trong 24 giờ, đào hố sâu 1 thước Tây trở lên; 4/ Nghiêm cấm ném súc vật chết xuống sông; 5/ Nghiêm cấm mua bán súc vật có bệnh. Vi phạm phạt đánh 100 trượng”

(CBĐLKPB, tr.433-434)


Ảnh hưởng trận lụt lớn.

Th.7- Ất tỵ


(1905)

Quảng Trị có dịch thương hàn.

“Hai tổng Mộc Ba, Hồ Xá huyện Vĩnh Linh và hai tổng Cam Vũ, Mai Lộc phủ Cam Lộ nhân dân cảm nhiễm thương hàn rất nhiều, có người đến nỗi phải chết. Sai quan tỉnh phái y sinh cấp thuốc men tị liệu”

(CBĐLKPB, tr.439)



Th.7- Bính ngọ


(1906)

Định lại điều lệ xử phạt những người không làm theo hướng dẫn phép vệ sinh phòng dịch. Sửa đổi bổ sung điều lệ 12/1904, tăng nặng hình phạt (nhẹ: phạt đánh 40 roi, phạt tiền 12 đồng, không nạp nổi thì giam 5 tháng; nặng, phạt đánh 50 roi, phạt tiền 15 đồng, không nạp nổi thì giam 6 tháng)

(CBĐLKPB, tr.439)



Th.4- Đinh mùi.

Thành Thái 19


(1907)

Quảng Nam có dịch thương hàn, sốt rét.

“Dân gian nhiều người phát bệnh thương hàn, về sau sinh ra sốt rét, hoặc bệnh nặng hoặc chết, ở Quế Sơn, Thăng Bình là nặng nhất, Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ, Hòa Vang đỡ hơn. Chuẩn cấp tiền mua thuốc ký ninh chia cấp cho.”

(CBĐLKPB, tr.478)



Th.11

Duy Tân năm đầu


(1907)

Ban dụ cho dân dự phòng bệnh truyền nhiễm. Nội dung do Khâm sứ Pháp soạn. Gồm 8 khoản: 1/ Về việc trình báo; 2/ Chủng ngừa đậu mùa; 3/ về việc cách ly người bị các bệnh truyền nhiễm; 4/ về việc tẩy uế khử trùng cho người bệnh, cho cộng đồng và môi trường; 5/Thầy thuốc Tây và Nam khám nghiệm tử thi những ca ngờ dịch; 6/ quy định việc chôn cất người chết do dịch bệnh; 7/ Vệ sinh môi trường, bảo vệ đường nước và khu dân cư; 8/ Vệ sinh môi trường, chợ và quanh chợ.

(CBĐLKPB, tr.488-490)

Xem thêm toàn văn bản Pháp ngữ và Quốc ngữ

“Nghị định ngày 20/11/1908 về y tế cộng đồng”

(CBĐLKPB, Phụ lục 08, tr.741)

Hoặc: Journal officiel de l’Indochine Francaise, 14-12-1908


Th.7- Giáp dần.

Duy Tân 8


(1914)

Chuẩn y lời hội thương về cách thức đề phòng bệnh hủi lây lan.

(CBĐLKPB, tr.607)



Th.1- ất mão


(1915)


Ban dụ về việc phòng dịch gia súc.

(CBĐLKPB, tr.617)

Chuẩn y lời hội thương bàn định về lệ cấm săn bắn

(CBĐLKPB, tr.618)


Th.2- Đinh sửu.

Khải Định thứ 2


(1917)

Thanh Hóa vào nam có dịch đậu mùa.

“Các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào nam đều phát dịch đậu mùa, thỉnh thoảng có người chết (Công sứ và quan các tỉnh bàn bạc ủy cho phái viên bệnh viện đem thuốc chủng đậu chủng rộng ra để đề phòng bệnh ấy lây lan)”

“Dân ở tổng Lý Sơn và hai phường Vĩnh An, An Hải tỉnh Quảng Ngãi vì bệnh đậu mùa đến nỗi chết và chết đói hơn 400 người (người xứ ấy cư trú trên đảo, đường sá xa cách, sinh kế quẫn bách nên nhiều người chết). Bang tá Võ Huấn giấu diếm không báo lên, chuẩn triệt chức tra xét, kế cách chức vĩnh viễn không được bổ dụng nữa.”

(Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ/CBĐTK, tr.135)

Quan địa phương ở Quảng Ngãi giấu dịch, bị cách chức.


Th.11


(1917)

Sốt rét và lỵ ở nhà ngục nhiều nơi

“Lúc bấy giờ mưa lụt nối nhau, khí ẩm thấp rất thịnh, lại thêm mùa đông rét buốt, tù phạm giam ở các địa phương nhiều người bệnh chết (bệnh sốt rét và bệnh lỵ)”

(CBĐTK, tr.178)


Th.4- Kỷ mùi.

Khải Định 4


(1919)

Nghệ An có dịch lớn, chết 12.900 người.

“Quan tỉnh Nghệ An thống kê tổng số nhân dân trong hạt chết vì bệnh dịch (tráng đinh và trai gái già trẻ hơn 12.900 người. Tháng chạp năm trước bệnh dịch phát ra truyền nhiễm lây lan, đến hạ tuần tháng ấy mới chấm dứt) gửi cho Cơ mật viện tâu lên.”

(CBĐTK, tr.235)

Đại dịch, kéo dài 5 tháng (từ tháng 12 năm 1918 đến cuối tháng 4, 1919). Dân số Nghệ An năm này khoảng 700.000 người.


Th.8- Tân dậu.


(1921)

Chuẩn cho sao phương thuốc kinh nghiệm đề phòng bệnh dịch ra gởi khắp Trung Kỳ để lâm thời nhân dân biết mà phòng bệnh, là theo nghị định của Tòa Khâm sứ.”

(CBĐTK, tr.344)


Th.11


(1921)

Quảng Bình có dịch.

“Giáp Mỹ Hòa phủ Quảng Trạch bị bệnh dịch. QúyQuý quan thầy thuốc ở Đồng Hới bàn nghĩ phàm nhà người bệnh cư trú ắt phải thiêu hủy để tránh truyền nhiễm. Quan tỉnh đem việc gửi điện văn trình với Cơ mật viện, bề tôi ở viện cho rằng thôn ấy không may bị bệnh dịch, nhà ở lại bị thiêu hủy thì thiệt hại rất nhiều, bàn nghĩ nếu bất đắc dĩ việc phải làm thế thì nên theo tình cảnh từng nhà chước lượng cấp tiền để tránh làm khổ dân. Quý Tòa trả lời ưng thuận, bèn làm phiến đem việc tâu lên, vua chuẩn cho thi hành.”

(CBĐTK, tr.347-348)



Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss