Bạn đang ở: Trang chủ Biên khảo Qua sử chí Trung Quốc hãy tìm hiểu về chủ quyền nước này tại Biển Đông (III)

Qua sử chí Trung Quốc hãy tìm hiểu về chủ quyền nước này tại Biển Đông (III)





Qua sử chí Trung Quốc hãy tìm hiểu
về chủ quyền nước này tại Biển Đông (III)


Hồ Bạch Thảo



4. Đời Tống



1. Tống Sử [宋史 History of Song] do Thừa tướng Thoát Thoát đời Nguyên Chủ biên; tại quyển 96, phần Địa Lý Chí ghi đảo Hải Nam thuộc Quảng Nam Tây Lộ. Đảo gồm một châu tức Quỳnh Châu, và 3 quân: Nam Ninh, Vạn An, Cát Dương.

“– Quỳnh Châu chia làm 5 huyện :

Quỳnh Sơn, hạng trung; năm Hy Ninh thứ 4 [1071] cho Xá Thành nhập vào; có 2 sách: Cảm Ân, Anh Điền Trường.

Trừng Mại, hạng dưới. Năm Khai Bảo thứ 5 [972] phế Nhai Châu, đem Xá Thành, Văn Xương lệ vào.

Văn Xương, hạng dưới.

Lâm Cao, hạng dưới, đầu năm Thiệu Hưng [1131] dời vào Mạc Thôn.

Lạc Hội, hạng dưới, đặt ra từ đời Đường; xung quanh là động Lê, Ký Trị, Nam Quản. Năm Đại Quan thứ 3 [1109] cắt vào quân Vạn An, sau đó vào Quỳnh Châu.”

[宋史 卷九十 志第43 地理六

瓊州,..。縣五:瓊山,中。熙寧四年,省舍城入焉。有感恩、英田場二柵。

澄邁。下。開寶五年廢崖州,與舍城、文昌並來隸。

  文昌,下。

  臨高,下。紹興初,移于莫村。

   樂會。下。唐置,環以黎洞,寄治南管。大觀三年,割隸萬安軍,後復來屬]


“– Quân Nam Ninh, xưa gọi là quân Xương Hoá… chia làm 3 huyện:

Nghi Luân, hạng dưới, đời Tuỳ là huyện Nghĩa Luân, đầu năm Thái Bình Hưng Quốc [976] đổi tên.

Xương Hoá, hạng dưới; năm Hy Ninh thứ 6 [1073] bỏ, năm Nguyên Phong thứ 3 [1080] đặt lại. có trại Xương Hoá.

Cảm Ân, hạng dưới, năm Hy Ninh thứ 6 [1073] bỏ, năm Nguyên Phong thứ 4 [1081] đặt lại.”

[南 寧軍,舊昌化軍,…。縣三:宜倫,下。隋義倫縣。太平興國初改。

   昌化,下。熙寧六年省,元豐三年復。有昌化砦。感恩。下。熙寧六年省,元豐四年復。]


“– Quân Vạn An…chia làm 2 huyện:

Vạn Ninh, hạng dưới, sau gọi là Vạn An.

Lăng Thuỷ, hạng dưới; năm Hy Ninh thứ 7 [1074] là trấn, năm Thiệu Hưng thứ 6 [1136] thuộc Quỳnh Châu, năm thứ 13 [1143] thuộc trở lại Vạn An.”  

  [萬安軍,。縣二:萬寧,下。後復名萬安

   陵水。下。熙寧七年為鎮,元豐三年復。紹興六年隸瓊州。十三年,復來隸]

“– Quân Cát Dương…Thời Nam Tống chia làm 2 huyện:

Ninh Viễn, hạng dưới; năm Thiệu Hưng thứ 6 [1136] trở thành huyện thuộc Quỳnh Châu, năm thứ 13 [1143] thuộc quân Cát Dương.

Cát Dương, hạng dưới; Năm Hy Ninh thứ 6 [1073] phế thành trấn Đằng Kiều, thuộc Quỳnh Châu, năm Thiệu Hưng thứ 6 [1136] trở lại thuộc quân Cát Dương.”  

  [吉陽軍,…南渡 後,縣二:寧遠,下。紹興六年復縣,隸瓊州。十三年,復來屬。

   吉陽。下。熙寧六年,廢為藤橋鎮,隸瓊州。紹興六年復。]

Như đã trình bày tại phần trên, Địa Lý Chí trong Tống Sử ghi nhận Hải Nam là đảo độc nhất tại đông nam Trung Quốc.


2. Đời Tống có tác phẩm Chư Phiên Chí [諸蕃] của Triệu Nhữ Quát [趙汝適], đề cập đến mấy chục nước châu Á xưa, khởi đầu là nước Giao Chỉ [Việt Nam], cuối là nước Nuỵ [Nhật]. Đặc biệt tại quyển hạ có phần nghiên cứu đảo Hải Nam [海南], cũng rõ ràng như phần Địa Lý Chí ghi trong Tống Sử. Riêng Triệu Nhữ Quát cung cấp thêm về vị trí khoảng cách các đơn vị hành chánh trên đảo Hải Nam như sau:

Châu Quỳnh theo hướng tây 236 lý đến trị sở quân Xương Hoá.

Từ quân Xương Hoá hướng nam 340 lý đến biên giới quân Cát Dương.

Từ quân Cát Dương theo hướng đông 120 lý đến quân Vạn An.

Quân Cát Dương vị trí tương đương với Tam Á thị ngày nay; được Triệu Nhữ Quát đề cập như sau:

Còn về quân Cát Dương là chỗ tận cùng đến biển, không còn đường đất nào tiếp theo nữa. Ngoài có châu gọi là Ô Lý, Tô Cát Lãng. Đối diện phía nam là nước Chiêm Thành, phía tây đến nước Chân Lạp, đông có Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Sàng, xa xôi vô bờ, trời nước một màu. Chỉ có cách dùng kim nam châm làm bằng, ngày đêm trông coi cẩn thận, sai đi trong hào ly, quan hệ đến sự sống chết.

[至吉陽,乃海之極,無複陸塗。外有洲 曰烏里、曰蘇吉浪。南對占城,西望真臘;東則千里長沙、萬里石床,渺茫無際,天水一色。舟舶來往,惟以指南針為則;晝夜守視唯謹,毫厘之差,生死系焉。]

Đoạn văn nêu trên mô tả quân Cát Dương là đất tận cùng phía nam Trung Quốc; từ đó nhìn ra các phía nam, tây, đông tại nơi xa xôi có nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, rồi đến Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường. Thiết tưởng mô tả như vậy là khá rõ ràng, nhưng trong NQNHCĐSLHB 1 Hàn Chấn Hoa nhận xét rằng:

Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường” chỉ chung các đảo Nam Hải; sớm tại triều Tống đã thuộc phạm vi quản hạt của Quỳnh Quản [tức Quảng Nam 4 châu quân] thuộc Quảng Nam Tây Lộ.”

Người nghiên cứu Chư Phiên Chí thấy rõ đây chỉ là câu văn tả cảnh vị trí phương xa của quân Cát Dương; còn nếu bảo Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Ðường nằm trong lãnh thổ Trung Quốc, như vậy cả Chiêm Thành và Chân Lạp được đề cập trong lời trích dẫn, cũng cùng chung số phận nằm trong lãnh thổ Trung Quốc ư !


3. Tăng Công Lượng đời Tống trong Vũ Kinh Tổng Yếu [武經總要] kể qua thủy trình của nhà Tống đi xuống Chiêm Thành, họ đi từ núi Ðồn Môn thuộc tỉnh Quảng Ðông, chờ gió đông hải trình theo hướng tây và Nam, qua 7 ngày đến Cửu Nhũ Loa Châu, rồi đi tiếp 3 ngày đến núi Bất Lao [Cù Lao Chàm] thuộc Chiêm Thành 2.

Cũng như đã từng gán cho Tượng Thạch là đảo Tây Sa [Paracel]; một lần nữa Hoàng Chấn Hoa trong NQCĐSLHB lại gán cho Cửu Nhũ Loa Châu là Tây Sa 3, mà không chứng minh. Họ Hàn khổ công làm như vậy, vì muốn chứng tỏ rằng hàng hải xưa có đi qua Tây Sa mà thôi.

Thực ra thủy trình này cũng tương tự như Chu Khứ Phi đời Tống, kể lại trong Lãnh Ngoại Ðại Ðáp [嶺外代答] rằng thuyển đến các nước Phiên phương nam đều đi theo hướng tây đến biển Giao Chỉ, rồi tiếp tục đi xuống phía nam:


h1


Ba dòng nước xoáy

Bốn quận phía tây nam đảo Hải Nam có biển lớn gọi là Giao Chỉ dương. Tại biển có 3 dòng nước xoáy, nước cuộn lên chia thành 3 dòng; dòng thứ nhất chảy về phía nam dẫn đến biển thuộc các nước Phiên ; dòng thứ 2 chảy lên phía bắc qua vùng biển Quảng Ðông, Phúc Kiến, Chiết Giang; dòng thứ 3 chảy vào nơi mù mịt không bờ gọi là Ðông Ðại Dương. Tàu thuyền đi về hướng nam phải qua ba dòng nước xoáy, nếu gặp một chút xíu gió thì vượt được, nếu vào chỗ hiểm đó mà không có gió thuyền không ra được, ắt phải vỡ chìm trong ba dòng nước xoáy. Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường rộng vạn dặm, nước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u. Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này, nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều nên may thoát được.

Qua các sử liệu đã dẫn, chứng tỏ thuyển Trung Quốc xuống phương nam thường đi theo ven biển Việt Nam, họ không dám ra đến Trường Sa Thạch Ðường hay quần đảo Tây Sa như họ Hàn đã quả quyết.


4. Ngô Tự Mục [吳自牧] đời Nam Tống trong sách Mộng Lương Lục [夢梁] cho biết thuyền buôn từ Phúc Kiến xuống các nước Đông Nam Á đều đi qua Thất Dương Châu:

Nếu muốn dùng thuyền đi buôn bán ngoại quốc, có thể tiện ra biển từ châu Tuyền, lòng vòng qua Thất Châu Dương, từ trên thuyền đo nước sâu khoảng hơn 7,8 trượng.”

[若欲船泛外國買賣則自泉州便可出洋迤 旖邐過七州洋舟中測水約有七十餘丈]

Trong NQCĐSLHB 4 Hàn Chấn Hoa khẳng định rằng Thất Châu Dương tức quần đảo Tây Sa [Paracel]; luận điệu này đã được nhà biên khảo Trung Quốc Ðàm Kỳ Tương phản đối trong bài Thất Châu Dương Khảo [七洲洋考] 5. Ngoài ra sách Ðông Tây Dương Khảo [東西洋考] 6 của Trương Tiếp đời Minh xác nhận rằng:

Theo Quỳnh Châu Chí [瓊州志] Thất Châu Dương tại phía đông huyện Văn Xương 100 lý

[ 七 州 洋, 瓊 州 志 曰 在 文 昌 東 一 百 里.]

Trên bản đồ Google phóng to, nếu nhìn từ Văn Xương [Wenchang] đảo Hải Nam, theo hướng đông khoảng 40 km, thấy được Qizhou Liedao tức Thất Châu Liệt Đảo [七州列島], như vậy hợp với sự mô tả trong Quỳnh Châu Chí. Riêng Văn Xương đến quần đảo Paracel [Trung Quốc gọi Tây Sa] khoảng 400 km tức gần 700 lý xưa; như vậy tính cả phương hướng và khoảng cách Thất Châu Dương không thể là Tây Sa [Paracel].


h2


5. Tống Sử [宋史, History of Song] chép việc quân Mông cổ truy kích vua Tống Ðoan Tông vào năm Chí Nguyên thứ 14 [1278] như sau:

Ngày Bính Tý tháng 12 [16/1/1278], Chính [Ðoan Tông] đến Tỉnh Áo, gặp bão hư thuyền, một số bộ hạ bị chết trôi, nên nhiễm bệnh. Hơn tuần sau quân

lính từ từ đến tụ tập, 10 phần chết còn 5, 4. Ngày Ðinh Sửu [17/1/1278] Lưu Thâm truy kích Chính đến Thất Châu Dương, bắt được Du Như Khuê rồi rút lui. Tháng giêng năm thứ 15 [2-3/1278] đại quân phá thành Quảng Châu, Trương Thế Kiệt sai quân đánh Lôi Châu, không chiếm được.

 十 二月丙子,昰至井澳,颶風壞舟,幾溺死,遂成疾。旬余,諸兵士始稍稍來集,死者十四。丁丑,劉深追昰至七州洋,執俞如珪以. 十五 年正月,大軍夷廣州城。張世傑遣兵攻雷州,不.

Xét về thời gian và địa điểm đề cập trong sử liệu này không thể cho Thất Châu Dương là Tây Sa [Paracel], vì thời gian từ ngày Bính Tý sang ngày Đinh Sửu không thể di chuyển từ Tỉnh Áo thuộc tỉnh Quảng Đông đến Tây Sa; lại càng không có khả năng sau đó từ Tây Sa xa xôi để trở về Lôi Châu, vị trí đối diện với đảo Hải Nam qua eo biển. Vậy Thất Châu Dương đúng là Qizhou Liedao tức Thất Châu Liệt Đảo [七州列島] trên bản đồ hiện đại.


5. Đời Nguyên


1. Nguyên Sử [元史, History of Yuan] do Tống Liêm làm Tổng tài, trong quyển 63, phần Địa Lý Chí chép về đảo Hải Nam cũng tương tự như đời Tống, đảo có 3 quân ; riêng châu Quỳnh đời Tống, thì nay gọi là Càn Ninh Quân Dân An Phủ Ty. Vị trí đảo Hải Nam từ bắc, sang tây, xuống nam, sang đông lần lượt gồm: Càn Ninh Quân Dân An Phủ Ty, quân Nam Ninh, quân Cát Dương, quân Vạn An; tất cả đều trực thuộc Hải Bắc Hải Nam Đạo Tuyên Uỷ Ty. Xin dịch chi tiết như sau:

- “Càn Ninh Quân Dân An Phủ Ty….75.837 hộ, 128.184 nhân khẩu, đồn điền hơn 290 khoảnh, chia làm 7 huyện: Quỳnh Sơn, hạng dưới, đặt thành quách của ty; Trừng Mại, hạng dưới; Lâm Cao, hạng dưới; Văn Xương, hạng dưới; Lạc Hội, hạng dưới; Hội Đồng, hạng dưới; Định An, hạng dưới.

[乾甯軍民安撫司,..。戶七萬五千八百三十七,口一十二萬八千一百八十四。本路屯田二百九十餘頃。領縣七:

   瓊山,下。倚郭。澄邁,下。臨高,下。文昌,下。樂會,下。會同,下。定安。下]

- “Quân Nam Ninh…9.626 hộ, 23.652 nhân khẩu; chia làm 3 huyện: Nghi Luân, hạng dưới; Xương Hoá, hạng dưới; Cảm Ân, hạng dưới.

  [南寧軍,戶九千六百二十七,口二萬三 千六百五十二。領縣三

   宜倫,下。昌化,下。感恩。下]

- “Quân Vạn An….5.341 hộ, 8.686 nhân khẩu; chia làm 2 huyện: Vạn An, hạng dưới, đặt thành quách của quân; Lăng Thuỷ, hạng dưới.”

  [萬安軍,戶五千三百四十一,口八千六 百八十六。領縣二

   萬安,下。倚郭。陵水。下。]

- “Quân Cát Dương…1.439 hộ, 4.735 nhân khẩu; có 1 huyện: Ninh Viễn, hạng dưới.

  [吉陽軍,…。戶 一千四百三十九,口五千七百三十五。領縣一:

   寧遠。下。]


2. Về đời Nguyên Hàn Chấn Hoa trong NQCĐSLHB trưng sử liệu trong Quỳnh Hải Phương Dư Chí [瓊海方輿志] của Thái Vi như sau:

[Quỳnh Châu] phía ngoài bao bọc bởi biển lớn, tiếp với châu Ô Lý Tô Mật Cát Lãng; phương nam thì Chiêm Thành, tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông thì Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường; đông bắc phía xa thì Quảng Ðông, Mân [Phúc Kiến], Chiết [Chiết Giang]; gần thì có Khâm [Khâm Châu], Liêm [Liêm châu], Cao [Cao Châu], Hóa [Hóa Châu]. Ði biển 4 ngày tới Quảng Châu, 9 ngày đêm đến Phúc Kiến, 15 ngày đến Chiết Giang.

Sử liệu này cũng tương tự như lời trích dẫn trong Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát thuộc đời Tống. Đây chỉ giới thiệu Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường cách phủ Quỳnh Châu đằng xa, ngoài vòng biển bao bọc, cũng giống như Chiêm Thành, Chân Lạp, Giao Chỉ; nhưng họ Hàn bảo rằng quần đảo được nhập vào đảo Hải Nam quản hạt, quả là điều vô lý. Nếu bảo rằng do đảo Hải Nam quản hạt, thì tại sao trong phần Địa Lý Chí, thuộc Nguyên Sử ghi tại phía trên, không hề đề cập đến.


3. Ðời Nguyên cuối năm Chí Nguyên thứ 29 [1293] Sử Bật được lệnh mang quân đến nước Trảo Oa [Java], khởi hành từ châu Tuyền, Phúc Kiến đến Thất Châu dương gặp gíó bão, thuyền chao đảo, quân lính mấy ngày không ăn, gió thổi lạc đến Vạn Lý Thạch Ðường cuối cùng men được vào duyên hải Giao Chỉ, Chiêm Thành, để tiếp tục hành trình. Nội dung được chép trong 2 bộ: Nguyên Sử [元史] của Tống Liêm, và Tân Nguyên Sử [新元史] của Kha Thiệu Văn như sau:

Năm Chí Nguyên thứ 29, được ban chức Vinh Lộc Ðại phu, giữ chức Trung thư tỉnh Bình chương chính sự các xứ Phúc Kiến, được lệnh mang quân đến Trảo Oa; có Hắc Mễ Thất, Cao Hưng giữ chức Phó. Mang 150 chiếc kim phù; vải lụa, bạch 7 mỗi thứ 200 tấm để thưởng cho người có công. Tháng 2, Bật mang 5000 quân hợp với các quân khác, xuất phát từ châu Tuyền [Phúc Kiến].Gặp gió bão, ba đào nổi lên, thuyền xốc ngược lên, quân lính mấy ngày không ăn được, qua Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Ðường, đến Giao Chỉ, biên giới Chiêm Thành.”

[二十九年,拜榮祿大夫、福建等處行中書省平 章政事,往徵爪哇,以亦黑迷失、高興副之,付金符百五十、幣帛各二百,以待有功。十二月,弼以五千人合諸軍,發泉州。風急濤涌,舟掀簸,士卒皆數日不能 食。過七洲洋、萬里石塘,歷交趾、占城界 ]

Ðây là chuyến đi lạc hướng vì sóng gió, còn hành trình thường lệ được Trương Tiếp mô tả trong Ðông Tây Dương Khảo đời Minh là từ Thất Châu Dương, đến biển Giao Chỉ theo hướng Nam, qua bờ biển Chiêm Thành, đảo Côn Lôn, rồi hành trình tiếp đến Trảo Oa [Java].


4. Hàn Chấn Hóa trích sử liệu trong Ðảo Di Chí Lược [島 夷志畧] của Uông Ðại Uyên đời Nguyên nói về Côn Ðảo như sau:

Xưa núi Côn Lôn có tên là Quân Ðồn sơn, núi cao mà vuông, đáy trải dài đến mấy trăm lý, nghiễm nhiên trên biển cả, cùng các nước Chiêm Thành, Tây Trúc hướng đến, dưới có biển Côn Lôn, nên lấy đó làm tên. Thuyền buôn các nước đi Tây Dương, thuận gió 7 ngày đêm có thể đến đó; ngạn ngữ có câu:”Thượng hữu Thất Châu, hạ hữu Côn Lôn” , ý chỉ phía trên có Thất Châu Dương đáng sợ, phía dưới có Côn Lôn].”

[古者崑崙山,又名軍屯山。山高而方,根盤幾 百里,截然乎瀛海之中,與占城東西竺鼎峙而相望。下有崑崙洋,因是名也。舶泛西洋者,必掠之。順風七晝夜可渡。諺云:「上有七州,下有崑崙,針迷舵失,人 船孰存。」…

Nguyên văn mô tả Côn Lôn có núi cao, gần Chiêm Thành, đúng là Côn Ðảo nước Việt Nam ngày nay. Nhưng họ Hàn cho Côn Lôn là Nam Sa [Spratly Islands], nơi đó không hề có núi cao, và biển Côn Lôn thành biển Nam Sa ; dụng ý muốn chứng tỏ rằng thuyền bè Trung Quốc xưa có đi qua Nam Sa ! 8. Ðiều vô lý này đã bị nhiều thư tịch Trung Quốc phủ nhận:

- Ðời Nguyên Chu Ðạt Quan, trong Chân Lạp Phong Thổ Ký [眞腊風土記], dùng kim chỉ nam với 48 hướng, mô tả hải trình đến nước Chân Lạp [Cam Pu Chia] khá chính xác; cho biết biển Côn Lôn gần nước Chân Lạp. Từ biên giới Chân Bồ thuyền theo hướng 232.5 độ đến biển Côn Lôn, rồi quẹo vào cửa biển thứ tư, [có thể là cửa sông Hàm Luông] 9, sau đó đi tiếp đến kinh thành Chân Lạp:

Thuyền khởi hành ra biển từ Ôn Châu [thuộc tỉnh Chiết Giang] theo hướng Ðinh Mùi [202.5 độ] qua các hải cảng tại Mân [Phúc Kiến], Quảng [Quảng Ðông], biển Thất Châu [phía đông đảo Hải Nam], biển Giao Chỉ, rồi đến Chiêm Thành. Lại từ Chiêm Thành theo chiều gió khoảng nửa tháng đến Chân Bồ thuộc biên cảnh nước này. Từ Chân Bồ theo hướng Khôn Thân [232.5 độ] qua biển Côn Lôn, rồi vào cảng. Cảng biển có mấy chục, duy cảng thứ 4 có thể vào, còn mấy cảng khác cát cạn thuyền lớn không vào được. Nhưng nhìn khắp xung quanh thấy nhiều cây mây, cổ thụ, lau lách trên cát vàng, lúc thảng thốt khó nhận ra được; vì vậy người đi thuyền cho việc tìm đúng cảng là điều khó khăn. Từ cảng theo sông lên phía bắc, thuận nước lên có thể nữa tuần đến Tra Nam, là quận phụ thuộc. Từ Tra Nam đổi sang thuyền nhỏ, thuận nước chạy thêm hơn 10 ngày, đến thôn Bán Lộ, thôn Phật, biển Độ Đạm, đến vùng đất gọi là Can Bàng, tiếp 50 lý nữa đến thành

[自溫州開洋,行丁未針。歷閩、廣海外 諸州港口,過七洲洋,經交趾洋到占城。又自占城順風可半月到真蒲,乃其境也。又自真蒲行坤申針,過崑崙洋,入港。港凡數十,惟第四港可入,其餘悉以沙淺故 不通巨舟。然而彌望皆修藤古木,黃沙白葦,倉卒未易辨認,故舟人以尋港為難事。自港口北行,順水可半月,抵其地曰查南,乃其屬郡也。又自查南換小舟,順水 可十餘日,過半路村、佛村,渡淡洋,可抵其地曰干傍,取城五十里。]

- Ðông Tây Dương Khảo [東西洋考] của Trương Tiếp đời Minh cung cấp phương hướng từ đảo Côn Lôn đến Xích Khảm Sơn [Phan Rang], và nước Bành Hanh [Pahang] như sau:

Từ Xích Khảm Sơn [Phan Rang] theo hướng đơn Mùi [210 độ], thời gian 15 canh đến núi Côn Lôn

Lại từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ] thời gian 30 canh đến Ðấu Dự, lại theo hướng Ðinh Ngọ [187.5 độ] đến nước Bành Hanh [tức Pahang thuộc Mã Lai]. 10

Xét đoạn văn trích dẫn trên, trung bình thuyền bè thời xưa 1 canh đi được 60 lý, 1 doanh tạo lý tương đương .58 km; vậy từ đảo Côn Lôn đến Phan Rang là 522 km, đến Pahang là 1044 km. Với những con số nêu trên, nếu kiểm chứng qua bản đồ hiện nay thì có thể chấp nhận được; còn nếu bảo Côn Lôn là đảo Nam Sa [Trường Sa ] thì khoảng cách còn tăng lên gấp bội!

Thế nhưng trong Tống Hội Yếu [宋 㑹要] có nêu địa danh biển Côn Lôn, bàn về sử liệu này Hàn Chấn Hoa lại cho rằng biển Côn Lôn bao quát vùng biển tại đảo Côn Lôn thuộc miền Nam Việt Nam 11. Có lẽ vì sử liệu này đề cập đến vùng đất giáp Chân Lạp, Chiêm Thành, nên họ Hàn đành phải thuận theo sự thực, không thể luận bàn khác được :

Ngày 20 tháng 7 năm Gia Ðịnh thứ 9 [1216], người nước Chân Lý Phú 12 muốn đến Trung Quốc. Từ nước này ra biển 5 ngày tới Ba Tư Lan, thứ đến biển Côn Lôn, qua nước Chân Lạp, vài ngày đến nước Tân Ðạt Gia 13, vài ngày sau đến biên giới Chiêm Thành, qua biển khoảng 10 ngày. Phía đông nam là Thạch Ðường, có tên Vạn Lý; biển chỗ này hoặc sâu hoặc cạn, nước chảy gấp nhiều đá, thuyền bị lật chìm đến 7,8 phần 10, không thấy bờ núi. Rồi đến Giao Chỉ, 5 ngày sau đến châu Khâm, Châu Liêm. (Nguyên chú: gọi là gió thuận toàn tại mùa hè, lúc gió Nam thổi. Khi trở về nước đợi gió Bấc mùa đông; nếu không theo như vậy không thể đến nơi được. 14

Cũng như với trường hợp Thất Châu dương, địa đanh Côn Lôn họ Hàn chia thành 2 vị trí, thứ nhất là đảo gần bờ biển miền nam Việt Nam, thứ 2 tại quần đảo Nam Sa; lập luận gỉả thực lẫn lộn, cố dẫn giải theo ý tác giả muốn!


5. Cũng trong Ðảo Di Chí Lược [島夷志畧], Uông Ðại Uyên chép về Vạn Lý Thạch Đường như sau:

Vạn Lý Thạch Đường.

Cái xương của Thạch Đường bắt đầu từ Triều Châu, chạy quanh co như con rắn dài, vắt ngang biển đến các nước. Người ta thường bảo “Vạn Lý Thạch Đường”; nhưng tôi suy ra không phải chỉ có vạn lý mà thôi đâu! Thuyền từ cửa Đại Dư 14, mang 4 buồm, nhờ gió vượt sóng, như bay trên biển. Đến Tây Dương, hoặc ngoài 100 ngày; nếu cho rằng 1 ngày 1 đêm chạy được 100 lý, thì vạn lý cũng không hết. Xem nguồn địa mạch rõ ràng có thể khảo được: một mạch đến Trảo Oa [Java], một mạch đến Bột Nê [Borneo] cùng Cổ Lý Địa Muộn [Timor], một mạch xa Tây Dương đến đất Côn Lôn [Việt Nam]. Vì vậy Cái Tử Dương Chu Tử bảo rằng đất nước ngoài và Trung Nguyên có sự tương liên, phải đúng như vậy chăng!

Xem thế thì thấy hải dương rộng vô bờ, Thạch Đường giấu trong đó, ai hiểu được thì biết rõ, tránh nó đi là hên, đụng nó là xui; bởi vậy kim chỉ nam Tý Ngọ liên quan đến vận mệnh con người; nếu không phải là tay thuyền trưởng rành nghề thì làm sao tránh khỏi lật thuyền chết chìm. Nếu đắc ý được một lần, cũng chớ nên đi tiếp lần khác; há lẽ chọn sóng gió làm con đường gần ư!

[萬 里石塘石塘之骨,由潮州而生。迤邐如長蛇,橫亙海中,越海諸國。俗云萬里石塘。以余推之,豈止萬里而已 哉!舶由岱嶼門,掛四帆,乘風破浪,海上若飛。至西洋或百日之外。以一日一夜行百里計之,萬里曾不足,故源其地脈歷歷可考。一脈至爪哇,一脈至勃泥及古里 地悶,一脈至西洋遐崑崙之地。蓋紫陽朱子謂海外之地,與中原地脈相連者,其以是歟!

觀夫 海洋泛無涯涘,中匿石塘,孰得而明之?避之則吉,遇之則凶,故子午針人之命脈所係。苟非舟子之精明,能不覆且溺乎!吁!得意之地勿再往,豈可以風濤為徑路 也哉!]

Vạn Lý Thạch Đường được đưa vào trong sách Đảo Di Chí Lược, dưới mắt tác giả họ Uông, Vạn Lý Thạch Đường là đảo của người Di, tức các nước phía nam Trung Quốc. Huống hồ vị trí Vạn Lý Thạch Đường rất lớn nằm giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á như Java, Borneo, Timor, và Côn Lôn [Việt Nam]; như vậy không thể là hải đảo thuộc chủ quyền Trung Quốc như nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa đã khẳng định trong NQNHSLHB 16.


6. Đời Minh


1. Địa Lý chí trong Minh Sử [明史, History of Ming] do bọn Trương Đình Ngọc biên soạn, là tư liệu quan phương có giá trị nhắm tìm hiểu chủ quyền Trung Quốc về biển đảo. Lãnh thổ đảo Hải Nam hiện nay, tức phủ Quỳnh Châu thời Minh là đảo cực nam, chép trong quyển 45, được dịch và dẫn nguyên văn như sau:

Phủ Quỳnh Châu đời Nguyên là Càn Ninh Quân Dân An Phủ Ty, tháng 10 năm thứ 2 năm Nguyên Thống [1334] đổi thành Càn Ninh An Phủ Ty, thuộc Hải Bắc Hải Nam Đạo Tuyên Phủ Ty. Tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đổi thành phủ Quỳnh Châu; năm thứ 2 [1369] giáng thành châu, năm thứ 3 [1370] thăng trở lại thành phủ; có 3 châu, 10 huyện:

- Huyện Quỳnh Sơn, dựa vào phủ; phía bắc là biển có cảng Thần Ứng, cũng gọi là bến Hải Khẩu; có Thủ ngự hải khẩu thiên hộ sở đặt vào tháng 10 năm Hồng Vũ thứ 20 [1387]. Phía tây nam có thôn Thuỷ Tiêu, năm Vạn Lịch thứ 28 [1597], đặt Thuỷ ngự thiên hộ sở tại đó. Nam có Thạch Sơn, lại có Ty tuần kiểm Thanh Lan, nay đã phế.

- Huyện Trừng Mại tại phía tây phủ, phía bắc là biển, nam có sông Lê Mẫu, đông có sông Trừng, tây bắc có ty Tuần kiểm Trừng Mại, trị sở tại đô Quắc, nam có ty Tuần kiểm Thố Dĩnh trị sở tại đô Gia Đông, sau dời đến đô Nam Lê rồi bỏ. Tây nam có ty Tuần kiểm Đồng Cổ, trị sở tại đô Tân An, sau dời đến đô Tây Lê, rồi bỏ. Lại có ty Tuần kiểm Na Tha sau dời đến huyện Tây Lâm Sơn Thị, rồi bỏ.

- Huyện Lâm Cao tại phía tây phủ, phía bắc là biển, nam có sông Lê Mẫu. Phía nam có ty Tuần kiểm Điền Bài sau dời đến gò Phần Hoành. Lại phía đông có 2 ty Tuần kiểm Định Nam, Bác Phố, nay đã bỏ.

- Huyện An Định, phía nam phủ, đặt vào tháng 6 năm Chí Nguyên thứ 29 [1292]; tháng 10 năm Thiên Lịch thứ 2 [1329] thăng thành châu Nam Kiến; tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đặt trở lại thành huyện. Phía nam có núi Ngũ Chỉ, cũng gọi là núi Lê Mẫu, dân Lê sống xung quanh núi, bên ngoài là Thục Lê, bên trong là Sinh Lê. Bắc có sông Kiến Giang, chảy qua phía tây và bắc lãnh thổ quận, rồi nhập vào sông Nam Độ. Đông có Thiên hộ sở đồn điền Đàm Lãm, lập đời Nguyên, thời Minh Hồng Vũ thể theo, đến năm Vĩnh Lạc thứ 4 [1406] thì bỏ; phía tây có ty Tuần kiểm Thanh Ninh; đông lại có ty Tuần kiểm Ninh Thôn, trị sở tại thôn Đàm Lãm, sau dời đi đến đô Nam Tư tại phía đông nam huyện, vẫn giữ tên cũ.

- Huyện Văn Xương tại phía đông phủ, phía tây bắc có núi Thất Tinh [đảo Thất Châu], nam có núi Tử Bối, đông bắc giáp biển. Phía đông nam có sông Văn Xương, chảy ra biển. Phía đông bắc lại có Thiên hộ sở thủ ngự Thanh Lan đặt vào tháng 8 năm Hồng Vũ thứ 27 [1394]; năm Vạn Lịch thứ 9 [1581] dời huyện về thôn Trần Gia, phía đông nam đô Nam Mao. Phía tây bắc có ty Tuần kiểm Phố Tiền; phía đông bắc có ty Tuần kiểm Thanh Lam Đầu; sau dời huyện đến phía đông cảng Bảo Lăng.

- Huyện Hội Đồng tại phía đông nam phủ, đặt vào tháng 6 năm Chí Nguyên thứ 29 [1292]. Đông giáp biển, tây có khe Lê Bồn, đông có ty Tuần kiểm Điêu Hiêu, trị sở tại đô Đoan Triệu, rồi dời đến thôn Nam Thương phía đông nam huyện.

- Huyện Lạc Hội tại phía đông nam phủ, phía tây có núi Bạch Thạch, đông giáp biển. Phía tây bắc có sông Vạn Toàn, có sông Lê Bồn chảy vào.

- Châu Đam nguyên là quân Nam Ninh, thuộc đạo Hải Bắc Hải Nam Tuyên Uỷ Ty; vào tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đổi thành châu Đam, thuộc phủ. Vào tháng 6 năm Chính Thống thứ 4 [1439] phế huyện Nghi Luân nhập vào châu trị. Tây bắc có núi Long Môn, tây giáp biển; bắc có sông Luân; tây nam có 2 ty Tuần kiểm Trấn An và An Hải; đông lại có ty Tuần kiểm Qui Khương đã phế; cách phủ 370 lý về phía đông bắc, lãnh 1 huyện:

- Huyện Xương Hoá tại phía nam châu, thành cũ tại phía đông nam, đặt vào năm Hồng Vũ thứ 25 [1392]; tháng 5 năm Chính Thống thứ 6 [1441] dời đến Thủ ngự sở Xương Hoá; phía tây giáp biển, nam có sông Xương Giang.

- Châu Vạn nguyên là quân Vạn An, thuộc đạo Hải Nam Hải Bắc; tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đổi thành châu Vạn, thuộc phủ. Tháng 6 năm Chính Thống thứ tư [1439] cắt huyện Vạn An cho vào châu. Bắc có núi Lục Liên, sông Long Cổn phát nguyên từ đó. Phía đông tại biển Nam Hải có đảo Độc Châu sơn. Đông có ty Tuần kiểm Liên Đường, sau bỏ. Cách phủ 470 lý về phía tây bắc, lãnh 1 huyện:

Huyện Lăng Thuỷ tại phía nam châu Vạn, phía đông bắc là trị sở thành huyện cũ; thành ngày nay tại Thủ ngự Thiên hộ sở núi Nam Sơn; lập vào năm Hồng Vũ thứ 27 [1394], thời Chính Thống dời đến. Phía tây có núi Tiểu Ngũ Chỉ, đông giáp biển, trên biển có đảo Song Nữ, đông bắc có ty Tuần kiểm Ngưu Lãnh.

- Châu Nhai nguyên là quân Cát Dương, thuộc đạo Hải Nam Hải Bắc Tuyên Uỷ Ty; tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đổi thành châu Nhai, thuộc phủ; tháng 6 năm Chính Thống thứ 4 [1439] phế huyện Ninh Viễn cho sáp nhập vào. Nam có núi Nam Sơn, bắc có sông Đại Hà, phân dòng từ núi Ngũ Chỉ chảy ra biển. Đông có Đằng Kiều, tây có Bảo Tuế, phía tây bắc lại có 3 ty Tuần kiểm tại Thông Viễn; phía bắc cách phủ 1410 lý, lãnh 1 huyện:

Huyện Cảm Ân tại phía tây bắc châu, trước kia thuộc châu Đam, vào năm Chính Thống thứ 5 [1440] mới thuộc châu hiện nay. Phía tây giáp biển, nam có sông Tương Nam phát nguyên từ núi Lê Mẫu chảy về phía tây nam rồi ra biển; phía đông nam có ty Tuần kiểm Diên Đức.”

[瓊 州府元乾寧軍民安撫司。元統二年十月改爲乾寧安撫司,屬海北海南道宣慰司。洪武元年十月改爲瓊州府。二年降爲州。三年仍升爲府。領州三,縣十。東北距布政 司千七百五十里。

   瓊山倚。南有瓊山。北濱海,有神應港,亦曰海口渡,有海口守禦千戶所,洪武二十年十月置。又西南有水蕉 村,萬曆二十八年置水會守禦千戶所於此。南有石山。又有清瀾巡檢司,廢。

   澄邁府西。北濱海。南有黎母江。東有澄江。西北有澄邁巡檢司,治石矍都。南有兔穎巡檢司,治曾家東都,後遷南黎都,廢。西南有銅鼓巡檢司,治新安都,後遷西黎都,廢。又有那拖巡檢司,治那拖市,後 遷縣西森山市,廢。

  臨高府西。北濱海。南有黎母江。南有田牌 巡檢司,後遷墳橫岡。又東有定南、北有博鋪二巡檢司,廢。

   安定府南。元至元二十九年六月置。天曆二年十月升爲南建州。洪武元年十月復爲縣。南有五指山,亦曰黎母山,黎人環居山下,外爲熟黎,內爲生黎。北有建江,繞郡境西北流,入南渡江。東有潭覽屯田千戶所,元置,洪武中因之,永樂四年廢。西有青寧巡檢司。又東有寧村巡檢司,治潭覽 村,後遷縣東南南資都,仍故名。

   文昌府東。西北有七星山。南有紫貝山。東北濱海。東南有文昌江,入於海。又東北有清瀾守禦千戶所,洪武二 十七年八月置,萬曆九年遷縣東南南毛都陳家村。西北有 鋪前巡檢司。東北有青藍頭巡檢司,後遷縣東抱凌港。

  會同府東南。元至元二十九年六月置。東濱 海。西有黎盆溪,東有調囂巡檢司,治端趙都,尋遷縣東南南滄村。

  樂會府東南。西有白石山。東濱海。西北有 萬泉河,有黎盆水流入焉。

  儋州元南寧軍,屬海北海南道宣慰司。洪武 元年十月改爲儋州,屬府。正統四年六月以州治宜倫縣省入。西北有龍門嶺。西濱海。北有倫江。西南有鎮南、又有安海二巡檢司。又東有歸姜巡檢司,廢。東北距 府三百七十里。領縣一:

   昌化州南。舊城在東南,今城本昌化守禦千戶所,洪武二十五年置。正統六年五月徙縣治焉。西濱海。南有昌江

   萬州元萬安軍,屬海北海南道。洪武元年十月改爲萬州,屬府。正統四年六月以州治萬安縣省入。北有六連山,龍滾河出焉。東南海中有獨洲山。東有蓮塘巡檢司, 後廢。西北距府四百七十里。領縣一:

   陵水州南。東北有舊縣城,今治本南山守禦千戶所,洪武二十七年置。正統間,遷縣於此。西有小五指山。東濱 海,海中有雙女嶼。東北有牛嶺巡檢司

  崖州元吉陽軍,屬海北海南道宣慰司。洪武元年十月改爲崖州,屬府。正統四年六月以州治寧遠縣省入。南有南山。北有大河,自五指山分 流,南入海。東有滕橋、西有抱歲、又西北有通遠三巡檢司。北距府千四百一十里。領縣一:

  感恩州西北。舊屬儋州。正統五年來屬。西 濱海。南有南湘江,源自黎母山,西南入於海。東南有延德巡檢司。

2. Phần Địa lý chí tại Minh Sử nêu trên, chỉ ghi Độc Châu Sơn và đảo Song Nữ nằm trong lãnh thổ châu Vạn; nhưng Hàn Chấn Hoa trong NQCĐSLHB trích dẫn một câu trong Quỳnh Ðài Ngoại Kỷ [瓊台外紀] của Vương Tá đời Minh, để gán cho Trường Sa Thạch Đường nằm trong châu Vạn. Câu trích dẫn nguyên văn như sau 17 :

洲東長沙石塘環海之地每遇鐵颶挾潮漫 屋洽田則利害中宇民矣”

Chữ Hán vốn không có dấu chấm câu, theo văn lý chúng tôi phiên âm, chấm câu và dịch như sau:

[Châu đông Trường Sa Thạch Đường. Hoàn hải chi địa, mỗi ngộ thiết cụ 18 hiệp triều, mạn ốc hợp điền, tắc lợi hại trung vu dân hĩ.]

Phía đông châu là Trường Sa Thạch Ðường. Đất xung quanh [châu] là biển; mỗi khi gặp phong ba thủy triều, nước ngập cả nhà ruộng, sự lợi hại người dân gánh chịu.”

Hàn Chấn Hoa cố tình hiểu sai, rồi lớn tiếng lập luận rằng “Trường Sa, Thạch Đường chỉ quần đảo Nam Sa [Spratly], Tây Sa [Paracel] thuộc Nam Hải, chúng là những đảo xung quanh biển tại châu Vạn; có thể thấy rằng tại thế kỷ thứ 15, các đảo Nam Hải đã lả bộ phận của châu Vạn, Hải Nam

Xét nguyên văn câu trích dẫn của Vương Tá nêu trên, nội dung không có chỗ nào chỉ ra rằng các đảo Trường Sa Thạch Đường là bộ phận của châu Vạn. Huống hồ đứng vào mặt văn bản, Quỳnh Ðài Ngoại Kỷ [瓊台外紀] nay đã thất truyền, dẫn lại từ Vạn Châu Chí [萬州志] của Hồ Đoan Thư; độ tin cậy không thể so sánh với bộ sử triều đình Minh Sử [明史, History of Ming] đã đề cập ở phần trên.

Nguyên Giới, một vị quan từng trấn nhậm tại phủ Quỳnh Châu dưới thời Minh, soạn sách Hải Tra Dư Lục [海槎餘錄] nghiên cứu về địa lý phong tục vùng này. Trong sách, ông xác nhận Thiên Lý Thạch Đường ngoài biển châu Nhai 700 lý, là nơi đầy nguy hiểm, chỉ có thuyền dân Phiên tức dân phía nam Trung Quốc từng quen tại đó mới biết cách tránh:

Thiên Lý Thạch Ðường tại ngoài biển Nhai Châu 700 lý. Truyền rằng đá tại biển này dưới mức nước biển 8, 9 thước [1thước=1/3 mét]; thuyền đi qua tránh xa mà đi, một lần đâm vào thì không thể ra được. Vạn Lý Trường Ðê ở phía nam,sóng nước chảy gấp, thuyền vào trong đó không thể thoát được. Thuyền dân Phiên đã quen nơi này, biết cách tránh, tuy gặp gió bão cũng không lo.

  [千里石塘在崖州海面之七百里外,相传此石比海水特 下八九尺,海舶必远避而行,一堕既不能出矣。万里长堤出其南,波流甚急,舟入回溜中,未有能脱者。番舶久惯,自能避,虽风汛亦无虞] 

Sử liệu vừa trình bày xác nhận vị trí Thiên Lý Thạch Đường xa cách châu Nhai, đó là nơi nguy hiểm, dân đi thuyền lo tránh xa ; và Vạn Lý Thạch Đường là vùng đảo quen thuộc của dân Phiên Di, nhưng xa lạ với người Trung Quốc.


3. Phí Tín, tác giả Tinh Tra Thắng Lãm [星槎勝覽] 20, đảm nhiệm chức Thông sự [Phiên dịch], theo phái đoàn Trịnh Hoà 4 lần xuống Tây Dương. Từng đi qua các quốc gia tại Đông Nam Á và Ấn Độ Dương ; trong đó có 5 vùng thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay, như: Chiêm Thành, Linh Sơn [Phú Yên], Tân Đồng Long [Phan Rang, Bình Thuận], Thuỷ Chân Lạp [Nam Phần], và Côn Lôn Sơn tức Côn Đảo. Ông mô tả Côn Lôn Sơn như sau:

Núi này đứng giữa biển rộng, làm tiêu chuẩn cho Chiêm Thành, Đông Tây Trúc [Pulau Aur] cùng nhìn vào, núi cao mà vuông, gốc rễ mạch núi rộng và xa, biển này gọi là biển Côn Lôn. Phàm thuyền bè [từ Trung Quốc] đến Tây Dương phải chờ lúc thuận gió, đi 7 ngày đêm có thể đến nơi này. Tục ngữ rằng Phía trên thì sợ Thất Châu, phía dưới thì sợ Côn Lôn, cầm lái sai hướng, người và thuyền không còn.” Núi này không có vật lạ, không có nhà ở ; nhưng có thể dùng cá, tôm, trái cây để ăn, sống trên cây hoặc trong hang.

[崑崙 山. 其山節然瀛海之中,與占城及東、西竺鼎 峙相望。山高而方,根盤曠遠,海之名曰崑崙洋。凡往西洋商販,必待順風,七晝夜可過。俗云:「上怕七洲,下怕崑崙,針迷舵夫,人船莫存。」此山產無異物, 人無居室,而食山果魚蝦,穴居樹巢矣。]

Riêng Minh Sử [明 史, History of Ming] quyển 324, phần Liệt Truyện quyển 212, xếp Côn Lôn Sơn vào nước Tân Đồng Long, lãnh thổ nay thuộc miền nam Trung Phần, Việt Nam. Như vậy Minh Sử công nhận Côn Lôn Sơn thuộc chủ quyền Việt Nam từ xưa rồi.

Vị trí Côn Lôn hay Côn Đảo cả thế giới đều biết, nhưng những cây bút Trung Quốc, như nhóm biên soạn Ngã Quốc Nam Hải Chư đảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] đã không ngượng bút, dám chú thích rằng :

Núi Côn Lôn, biển Côn Lôn ; chỉ Nam Sa quần đảo cùng khu vực hàng hải nguy hiểm xung quanh.” 21

Vì các đoàn đi sứ và các thương thuyền thời xưa chỉ đi qua Côn Lôn mà thôi, chứ chưa từng đến cái gọi là Nam Sa [Spratly Islands] ; nên một số nhà nghiên cứu Trung Quốc cố tình gán cho Côn Lôn là Nam Sa, để chứng tỏ các phái đoàn như Trịnh Hoà đã từng qua đó. Nhưng qua thực tại Spratly là chỗ nước cạn, nhiều đá ngầm, tàu thuyền thời xưa phải tránh và những điều mô tả trong Tinh Tra Thắng Lãm nêu trên, đã chứng minh ngược lại .


4. Sau đây là sử liệu liệu về việc Ngô Huệ đi sứ Chiêm Thành vào đời Minh Anh Tông năm Chính Thống thứ 6 [1441]; ghi trong Thù Vức Chu Tư Lục [殊域周咨綠] của Nghiêm Tòng Giản:

Vào năm Chính Thống thứ 6 [1441] Quốc vương Chiêm Thành mất, người con nối dõi là Ma Ha Quí Do xin phong tước và ban chiếu sắc. Bèn sai Cấp sự trung họ Dư (khuyết tên) làm Chánh sứ, cùng Hành nhân Ngô Huệ đi sứ. Ngày 23 tháng 12 năm đó khởi hành từ huyện Ðông Hoàn [Quảng Ðông], ngày hôm sau đến biển Ô Trư [cửa sông Châu Giang gần Quảng Châu], lại ngày hôm sau đến Thất Châu Dương [phía đông huyện Văn Xương 100 lý], xa thấy núi Ðồng Cổ [thuộc huyện Văn Xương Hải Nam], ngày hôm sau đến núi Ðộc Trư [thuộc châu Vạn, Hải Nam] nhìn thấy núi Ðại Châu, ngày hôm sau đến địa giới Giao Chỉ, có một bãi lớn chắn ngang biển, đá nhọn, nếu thuyền va vào đó có thể bị phá nát. Người trong thuyền rất sợ, trong phút chốc gió mạnh vượt qua được, ngày hôm sau đến biển Ngoại La thuộc Chiêm Thành. 22

 [正统六年,国王 卒,嗣子摩诃贵由请袭爵。上赐敕诏,遣给事中舒某(失其名)为正使,及副使行人吴惠往封之。是冬十二月廿三日,发东管。次日过乌猪洋,又次日过七州洋,见铜鼓山。次日至独猪山,见大周山。次日至交界,有巨州横绝海中,怪石廉利,风横,舟触之即靡碎,舟人甚恐。须臾风急过之。 次日至占城外罗洋。]

Qua sử liệu này, Hàn Chấn Hoa xác nhận Thất Châu Dương chỉ các đảo Thất Châu tại phía đông huyện Văn Xương 23. Như vậy trước mắt họ Hàn có 2 Thất Châu Dương; một Thất Châu Dương khác , tại mục số 4 đời Tống đã nêu ở trên, thì họ Hàn cho là Tây Sa [Hoàng sa]. Lối lập luận “nói lấy được”, khiến người đọc phải đánh giá đức tính cẩn trọng nghiêm túc của nhà biên khảo này. Còn chỗ được gọi là bãi lớn (cự châu) thì họ Hàn cũng cho là Tây Sa (Paracel) mà không nêu bằng chứng, như vậy chẳng lẽ Tây Sa sát với vùng duyên hải Giao Chỉ sao?


5. Thật ra tuyến hàng hải dưới thời nhà Minh, từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á được các thư tịch mô tả khá rõ ràng và chính xác, đó là nhờ sự cải tiến của kim chỉ nam. Tuy rằng kim chỉ nam [chỉ nam châm 指南針] được sáng chế trước thời nhà Tần, nhưng mãi cho đến đời Tống dụng cụ này còn khá đơn giản, chỉ có hai hướng nam bắc mà thôi. Bắt đầu từ đời Nguyên, kim chỉ nam được phân định 48 hướng; nhờ vậy sử dụng vào việc hàng hải đáng tin cậy hơn. Kim chỉ nam thời nay dùng 360 độ, trước kia có 48 hướng, như vậy vào thời ấy khoảng cách giữa 2 hướng kế tiếp là 7.5 độ [360:48=7.5]

Vào gần cuối triều Minh, một bộ sách nổi tiếng về hàng hải ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 45 [1617], được đưa vào TỨ KHỐ TOÀN THƯ. Sách mang tên Ðông Tây Dương Khảo [東西洋考], tác gỉả là Trương Tiếp. Ông người đất Long Khê, đậu Cử Nhân năm Vạn Lịch thứ 23 [1595]. Ðể hoàn thành tác phẩm, tác giả đã tham khảo hàng trăm bộ sách nổi tiếng, cùng nhiều loại Hải Ðạo Châm Kinh [海道針經] tức tài liệu dẫn đạo hàng hải; bao quát chi tiết về chỉ nam châm, thiên văn, và thủy văn các chuyến hải trình. Phần lớn tư liệu trong bộ sách này thiên về thực dụng, trong quyển 9, mục Châu Sư Khảo [舟師] cung cấp các tài liệu hàng hành cho các thuyền Trung Quốc dưới thời nhà Minh hàng hải đến các nước vùng Đông Nam Á. Trương Tiếp cho biết trên mỗi thuyền phải có một châu sư [navigator], căn cứ vào tài liệu có sẵn, hướng dẫn thuyền đi đúng hải trình. Tài liệu cung cấp 3 yếu tố căn bản, buộc các châu sư phải lưu ý:

* Phương hướng : trên thuyền có kim chỉ nam, lẽ dĩ nhiên không dùng độ như ngày nay, nhưng nếu chịu khó tìm hiểu cũng có thể đổi ra được; ví như hướng đơn Hợi = 330 độ; hướng Nhâm Tý = 352.5 độ.

* Khoảng cách : không tính bằng dặm, mà tính bằng canh; một ngày một đêm có 10 canh. Mỗi canh nếu gặp gió trung bình, được ước tính là 60 lý [34 km].

* Ðộ sâu : không tính bằng thước mà tính bằng sải tay. Ðây cũng thiên về thực dụng, lúc thủy thủ dòng dây từ thuyền xuống đáy biển, khi kéo dây lên dùng sải tay đo đếm dễ dàng, mỗi sải tay khoảng 1.6 m.

Trương Tiếp cung cấp tư liệu về hải hành từ tỉnh Quảng Ðông đến Chiêm Thành và các nước phía nam như Tiêm La, Bành Hanh và Bột Nê; tương tự như chuyến đi Chiêm Thành của Ngô Huệ đã nêu trên, nhưng chi tiết hơn:


Bản đồ 1: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:


bd1


- Ô Trư sơn : [tại cửa sông Châu Giang tỉnh Quảng Ðông] Trên có miếu Ðô Công, khi thuyền qua biển này, mang lễ vật cúng lạy từ đằng xa, xin thần phối hưởng,dùng thuyền giấy rực rỡ tống tiễn thần. Từ biển này theo dòng nước 10 sải tay, hướng đơn Thân [240 độ], đi 13 canh đến Thất Châu Dương.

- Núi Thất Châu, Thất Châu dương : Quỳnh Châu Chí [瓊州志] chép Thất Châu Dương tại phía đông huyện Văn Xương 100 lý; trên biển có 7 ngọn núi nhô lên liên tiếp, trong có nước suối ngọt có thể uống được. Thời nhà Nguyên, Lưu Thâm truy kích Tống Đoan Tông, bắt thân thuộc là Du Ðình Khuê tại nơi này. Tục truyền thời xưa có 7 châu chìm xuống dưới biển; thuyền đến mang súc sinh và cháo cúng thần, không tuân sẽ biến thành ma đói. Thuyền đi qua rất nguy hiểm, lệch sang hướng đông phạm vào Vạn Lý Thạch Ðường; nơi mà Quỳnh Chí [瓊志] chép là phía đông châu Vạn có biển Thạch Ðường, thuyền đến đó ít có chiếc nào thoát hiểm. Từ châu Thất Dương theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 3 canh đến Ðồng Cổ Sơn.

- Ðồng Cổ sơn : Quảng Ðông Thông Chí [廣東通志] chép núi tại phía đông bắc huyện Văn Xương. Dân Liêu đúc đồng thành trống lớn, treo trước đình; gặp giặc thù đến thì đánh trống báo động, mọi người đến đông đúc. Sau đó vùi vào núi này, dân địa phương đào lấy được nên có tên như vậy; Quỳnh Châu Chí nói biển Ðồng Cổ thực thâm hiểm. Theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thuyền đi 4 canh đến Ðộc Châu Sơn.

- Ðộc Châu sơn: tên tục là Ðộc Trư sơn ; Quỳnh Châu Chí chép Ðộc Châu sơn [獨州山] còn có tên là Ðộc Châu sơn [獨珠山], tại phía đông nam châu Vạn. Ðỉnh núi cao trên biển, chu vi 5,6 chục lý; các nước phương Nam đến cống, thủy trình lấy núi này làm chuẩn, biển này gọi là Ðộc Châu dương; người đi thuyền nói trên núi có miếu Linh Bá, khách vãng lai thường tế hiến. Theo dòng nước 65 sải tay, hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 10 canh đến biển Giao Chỉ.


Bản đồ 2: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:


bd2



- Từ biển Giao Chỉ theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 11 canh [ 1 canh= 2giờ 24 phút] đến núi Ngoại La. Núi này trông xa như một cửa thành, đến gần thấy phía đông cao, phía tây thấp, có hồ Liễu Tử, phía tây có hòn Cổ Lão.

Căn cứ vào khoảng cách, phương hướng và sự mô tả; Ngoại La Sơn có thể là cù lao Ré, tức huyện đảo Lý Sơn, vì tại đây có hòn lớn và hòn bé, ngoài biển từ xa nhìn vào như hai cột của cửa thành. Ngoài ra sách Việt Sử Cương Giám Khảo Lược [越史綱鍳考畧] của Nguyễn Thông chép về đảo Lý Sơn có câu 理山島又名外岣嶗 俗稱外嶗 Ðảo Lý Sơn lại có tên là Ngoại Cù Lao, dân thường gọi là Ngoại Lao; phải chăng người Trung Quốc đọc chệch hai chữ “Ngoại Lao” thành “Ngoại La”?

- Từ Ngoại La Sơn thuyền men theo phía tây, theo luồng nước sâu 45 sải tay, hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh đến cầu Mã Lăng, trong đó là Ðề Di, một huyện của Giao Chỉ.

Sách Ðại Nam Nhất Thống Chí [大 南一統志] 24, của Việt Nam chép : “Tấn Ðề Di ở phía đông bắc huyện Phù Cát [Bình Ðịnh], rộng 11 trượng, thủy triều lên sâu 6 thước, thủy triều xuống sâu 4 thước, phía tây có đầm nước ngọt, thuyền buôn thường đỗ tại đây, thủ sở tại địa phận thôn An Quang….”

- Từ cầu Mã Lăng tại Ðề Di theo luồng nước sâu 25 sải tay, bờ phía nam có đá ngầm, khi ra khỏi theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 4 canh đến bán đảo Giao Bôi, tức cảng Tân Châu. Tại đây hình thế 2 bán đảo như 2 chén giao nhau, nên có tên là Giao Bôi.

Ðịa danh Tân Châu, được xác định trong Minh Thực Lục, khi tường thuật việc phái đoàn nhà Minh cầm đầu bởi Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong Vương cho Bàn La Trà Duyệt, theo thông lệ ghé đến cảng Tân Châu [gần thành Chà Bàn, Qui Nhơn], thì được biết vùng này đã bị An Nam chiếm. Bèn hàng hải tiếp đến Linh Sơn thì được tin cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt. Vì trên thuyền chở nhiều hàng hóa nên phải hành trình tiếp đến Mãn Thứ Gia [thuộc vùng đất Mã Lai hiện nay] để bán hàng, rồi mới trở về Trung Quốc:

Ngày 14 tháng 12 năm Thành Hóa thứ 10 [21/1/1475]

Công khoa Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành không vào được, bèn nạp trở lại những thứ đã mang đi như chiếu sắc, ấn mạ vàng bạc, các vật như lụa, đoạn. Bọn Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong cho Quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng Tân Châu, Chiêm Thành; quân phòng thủ từ chối không cho vào, người Thông dịch cho biết đất này đã bị An Nam chiếm, còn Quốc vương Chiêm Thành tỵ nạn tại Linh Sơn. Khi đến Linh Sơn thì được biết cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt và đất Chiêm Thành bị đổi tên thành châu Giao Nam. Bọn Tuấn không dám ghé vào; nhưng thuyền chở hàng hóa tư, cùng nhiều thương nhân, nên giả lấy cớ bị gió bão rồi hàng hải tiếp đến Mãn Thứ Gia buôn bán, lại dụ Vương nước này sai sứ đến triều cống. Đến nay trở về tâu đầy đủ việc An Nam chiếm cứ Chiêm Thành, cùng việc Quốc vương Mãn Thứ Gia cung cấp thức ăn và các nhu yếu phẩm khác, đối đãi lễ nghi rất đầy đủ

(Minh Thực Lục v. 45, t. 2553-2554; Hiến Tông quyển 136, trang 6a-6b.)



Bản đồ 3: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:


bd3


- Từ phía trong cảng Tân Châu theo dòng nước sâu 18 sải tay, nhắm hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh đến Bán Dự. Tại Bán Dự có tháp bằng đá, có thể ghé thuyền. Phía trong theo luồng nước sâu 8,9 sải tay, ngoài sâu 20 sải, phía nam có đá ngầm không thể đến gần, theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh đến Yên Ðổng. Ðây là nơi phân giới giữa Giao Chỉ và Chiêm Thành, nhìn lên thấy mây như ống khói nên đặt tên như vậy; tuy trời tạnh nhìn lên núi vẫn thấy khí mây bao phủ.

Tuy hai địa danh Bán Dự và Yên Ðổng không ghi trong Ðại Nam Nhất Thống Chí [大南一統志], nhưng căn cứ thời gian hàng hải có thể đoán rằng Bán Dự tức bán đảo Hòa Lợi thuộc huyện Sông Cầu, Phú Yên; ngoài ra chữ “bán dự” cũng có nghĩa là bán đảo. Riêng Yên Ðổng có thể là vịnh Xuân Ðài, giáp giới huyện Tuy An, Phú Yên; nơi này gần núi cao, mây bao phủ nên gọi là Yên Ðổng chữ này cũng có nghĩa là mây tuôn như ống khói. Ngoài ra theo văn bản Minh Thực Lục nêu trên, thì đất Tân Châu đã bị An Nam chiếm, vua Chiêm trốn về Linh Sơn, vậy thời gian cuối thế kỷ thứ 15, Yên Ðổng có khả năng là nơi phân giới giữa An Nam và một phe Chiêm Thành 25. Riêng Ðại Nam Nhất Thống Chí [大南一統志], xác nhận biên giới lúc bấy giờ tại núi Thạch Bi huyện Tuy Hòa; núi Thạch Bi cao, có chi nhánh chạy ra biển; vậy phải chăng các địa danh Yên Ðổng, Thạch Bi đều chỉ chung một rặng núi.

- Từ Yên Ðổng theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh đến Linh Sơn. Nơi đây là một thắng cảnh, núi đảo liên tiếp, dưới thì sông suối quanh co như dây đai, trên có núi hình như đầu Phật nên có tên là Linh Sơn. Thuyền bè vãng lai, người sùng đạo Phật tụng kinh, thả đèn hình giống thuyền trên sông, để cầu khỏi tai họa trên biển.

Theo sự mô tả nêu trên, cùng Minh Thực Lục [明實錄], thì địa danh Linh Sơn thuộc tỉnh Phú Yên ngày nay. Từ đó tiếp tục cuộc hải hành như sau:

- Từ Linh Sơn theo luồng nước sâu 6o sải tay, nhắm hướng đơn Ngọ [180 độ], thời gian 2 canh đến Già Nam Mạo. trong cảng này có 3 đảo nhỏ, lúc thủy triều lên thì không thấy. Qua núi, theo luồng nước sâu 15 sải tay, nhắm hướng Khôn Mùi [217.5 độ] thời gian 5 canh từ Khuê Long vào La Loan Ðầu tức cảng Chiêm Thành.

Căn cứ vào thời gian hàng hải phỏng đoán rằng Giả nam Mạo tức bãi biển Na tại phía bắc tỉnh Khánh Hòa, còn cảng Chiêm Thành tức thành phố Nha Trang.

- “Từ La Loan Ðầu theo luồng nước sâu 50 sải tay, nhắm hướng Khôn Thân [232.5 độ], thời gian 5 canh tới Xích Khảm Sơn. Ðời Tống vua Chiêm Thành trốn Giao Chỉ thường dời đến ở đây.”

Theo hướng kim chỉ nam được ghi nhận dưới đây, từ Xích Khảm Sơn theo hướng 210 độ đến đảo Côn Lôn; như vậy ngược lại từ đảo Côn Lôn đến Xích Khảm Sơn là [210-180=30] 30 độ. Trên bản đồ hãy dùng kim chỉ nam đặt tâm điểm tại Côn Sơn, theo hướng 30 độ sẽ dẫn tới Phan Rang; vậy Xích Khảm Sơn tức thị xã Phan Rang.

- “Từ Xích Khảm Sơn theo hướng đơn Mùi [210 độ], thời gian 15 canh đến núi Côn Lôn. Ðây không phải địa danh Côn Lôn trên nguồn sông [chỉ núi Côn Lôn tại Trung Quốc], mà chính là thắng cảnh Côn Lôn trên biển cả. Nơi đây núi cao mà vuông, chân núi rộng; tục ngữ cảnh báo dân đi biển rằng: thượng phạ Thất Châu, hạ phạ Côn Lôn (sợ nhất là Thất Châu, rồi đến Côn Lôn); vì qua những nơi này nếu không cẩn thận đi lệch hướng kim nam châm hoặc lạc tay lái, có thể đâm vào chốn nguy hiểm khó tồn tại. Tại Côn Lôn theo hướng đơn Canh [255 độ] và Canh Dậu [262.5 độ] sẽ đến Tiểu Côn Lôn.”

Theo Tập Bản Ðồ Hành Chính 64 Tỉnh, Thành Phố Việt Nam 26, tại đảo Côn Sơn có núi An Hải cao 577 mét, từ đảo chính theo hướng 255 độ có đảo Hòn Bà.


Bản đồ 4: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:


bd4




- Từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Thân? [232.5 độ] cùng Canh Dậu? [262.5 độ], thời gian 30 canh đến Cát Lan Châu. Cát Lan Châu là bến cảng của nước Ðại Nê . Xưa gọi là Bột Nê [Borneo 渤泥], nước này thường đến triều cống Trung Quốc qua tỉnh Phúc Kiến.

- Từ núi Côn Lôn theo hướng Tân Dậu [277.5 độ] thời gian 26 canh đến Lục Khôn, đó là thuộc quốc của nước Tiêm La.

- Lại từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ] thời gian 30 canh đến Ðấu Dự, lại theo hướng Ðinh Ngọ [187.5 độ] đến nước Bành Hanh [tức Pahang thuộc Mã Lai].


6. Sách Hải Ngữ [海語] 27 của Hoàng Trung cũng mô tả hướng đi Tiêm La như  sau :

Nước Tiêm La tại phía biển Nam Hải. Từ cửa Nam Ðình thuộc huyện Ðông Hoàn [Quảng Ðông] ra khơi. Nam đến Ô Trư, Ðộc Trư, Thất Châu (có tên Tam Dương) la bàn theo hướng Khôn Mùi [212.5 độ] đến Ngoại La , lấy Khôn Thân [232.5] vượt 45 trình, đến cảng cũ Chiêm Thành ; rồi đến Linh Sơn nước sùng Phật trên núi có phong hoả đài 28 là đất thuộc Giao Chỉ. Lại theo hướng Mùi [210.] đến Côn Lôn; từ đó dùng Khôn Mùi [217.5] đến bãi Đồi Mồi; từ ngạch Đồi Mồi tại Qui Sơn theo hướng Dậu [270.] vào cảng Tiêm La.

[暹羅國在南海中自東管之南亭門放洋南 至烏瀦獨瀦七洲三洋名星■〈船上皿下〉坤未針海天無際舶行莫知方位惟以星■〈船上皿下〉針定子午而赴之至外羅坤申針四十五程至占城本古越裳氏之界舊港經大 佛靈山其上烽墩則交趾即安南屬也又未針至昆■〈山屯〉山又坤未針至玳瑁洲玳瑁額及於龜山酉針入暹羅港]

Hoàng Trung trong Hải Ngữ và Trương Tiếp trong Đông Tây Dương Khảo mô tả hải trình từ Quảng Đông, Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á tương tự như nhau: cả hai đều mô tả băng qua Tam Dương [Ô Trư Dương, Thất Châu Dương, Ðộc Trư Dương] để từ đó đến Ngoại La sơn [Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi] theo hướng Khôn Mùi [212.5]; cả hai đều ghé vào Chiêm Thành, Linh Sơn nghỉ ngơi, lấy thực phẩm, nước uống; cả hai đều dùng Côn Lôn làm đích, để đi xuống vùng Đông Nam Á. vv…

Khác với những nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại, như Hàn Chấn Hoa trong Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南 海諸島史料滙编] gán cho Trường Sa Thạch Đường nằm trên đường hàng hải từ Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á. Các thư tịch xưa như Lãnh Ngoại Đại Đáp đời Tống, Đông Tây Dương Khảo, Hải Ngữ đời Minh đều chủ trương rằng Trường Sa Thạch Đường là nơi tối nguy hiểm cần phải tránh. Đặc biệt sách Hải Ngữ [海語] dành riêng quyển cuối với nhan đề Uý Đồ [畏途] tức Con Đường Đáng Sợ trong đó chép Trường Sa Thạch Đường với lời cảnh cáo nặng nề như sau:

Vạn Lý Thạch Ðường tại phía đông biển Ô Trư và Thạch Trư. Tại đó tuy trời nắng nhưng vẫn âm u, không giống như trong cõi trần; thổ sản nhiều xà cừ. Chim có nhiều loại quỉ xa, có thứ 9 đầu, có thứ 3,4 đầu, rải rác khắp biển; tiếng kêu gào ầm ĩ đến mấy dặm; tuy kẻ ngu và loại hung hãn không ai là không thất sắc, mồ hôi toát ra. Châu sư hàng hải trên thuyền lỡ tay lái thất thế, đâm vào đá tảng, thì hàng trăm mạng biến thành quỉ!

Vạn lý Trường Sa tại phía đông nam Vạn Lý Thạch Ðường, tức Lưu Sa Hà của giống Di đông nam. Gió thổi ào ào, ngày trong sáng mà trời như đầy tuyết. Lái thuyền lỡ đi lẩm vào, thì bị dính vào không ra được; nếu may nhờ gió đông nam mạnh mới thóat khỏi.

[萬里石塘

萬里 石塘在鳥瀦二洋之東陰風晦景不類人世其產多𤥭璖其鳥多鬼車九首者四三首者漫散海際悲號之音聒聒聞數里雖愚夫悍卒靡不慘顏沾襟者舵師脫小失勢誤落石𣿭數 百軀皆鬼録矣


萬里長沙


萬里長沙在萬里石塘東南即西南夷之流沙河也弱水出 其南風沙獵獵晴日望之如盛雪舶誤衝其際即膠不可脫必幸東南風勁乃免陷溺]



7. Một bộ sách về hải đạo châm kinh của Trung Quốc vào đời Minh, hướng dẫn về hàng hải mang tên là Thuận Phong Tương Tống [顺风], được lưu giữ tại thư viện Bodliean, Anh Quốc. Trong sách ghi chép rất nhiều chỉ dẫn hàng hành từ các hải cảng Trung Quốc xuống các nước vùng Đông Nam Á; đặc biệt chuyến đi nào cũng qua lãnh thổ Việt Nam hiện nay; chứng tỏ từ xưa tới nay người Trung Quốc đã sử dụng lãnh hải Việt Nam, tức Biển Đông, làm đường giao thông qua lại nhiều nước Á Châu. Đơn cử chuyến đi từ đảo Ngô Dự tỉnh Phúc Kiến đến Đại Nê, nước Mã Lai, Thuận Phong Tương Tống chép về hàng hành qua lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam như sau:

“…Từ Độc Trư Sơn [Hải Nam, Trung Quốc] thuyền theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 20 canh đến Ngoại La Sơn [Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam], đi qua mép bên ngoài. Từ Ngoại La Sơn theo hướng Bính Ngọ [172.5], qua 7 canh đền đảo Giao Bôi, đảo Dương [thị xã Qui Nhơn, Bình Định]. Thuyền theo hướng Bính Ngọ [172.5], thời gian 5 canh, đến Linh Sơn tượng đại Phật [Tuy Hoà, Phú Yên]; thuyền theo hướng Ngọ [180.], thời gian 3 canh đến núi Già Nam Mạo [bãi biển Na, Khánh Hoà]; thuyền theo hướng Đinh Ngọ [187.5] thời gian 5 canh đến La Loan Đầu [Nha Trang]; thuyền theo hướng Đơn Khôn [225.] cùng Khôn Mùi [217.5] thời gian 5 canh đến Xích Khảm Sơn [Phan Rang]; thuyền theo hướng Khôn Mùi [217.5] thời gian 15 canh đến Côn Lôn [Việt Nam], đi theo hướng bên ngoài. Thuyền theo hướng Khôn Thân [232.5] cùng Canh Dậu [262.5], thời gian 30 canh đến cảng Cát Lan Đơn [Kelantan Mã Lai]; chỗ này có nhiều bùn có thể làm hại thuyền. Theo hướng Đơn Thân [240.] đi tiếp 7 canh đến Đại Nê [Mã Lai].”

[浯嶼往大泥吉蘭丹…用坤未針二十更船 取外羅山外過。用丙午針七更取校杯嶼及羊嶼。用丙午針五更船取靈山大佛。用單午針三更船取伽亻南貌山。用丁午針五更取羅灣頭,用單坤及坤未針五更船取亦 坎。用坤未針十五更船取崑崙山外過。用坤申及庚酉針三十更船收吉蘭丹港口。是泥地拋船。用單申針七更船六坤,坤身尾有淺,過西邊入港是大泥。]

(còn tiếp)

Hồ Bạch Thảo



1 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编< /font>] , sđd, trang 37.

2 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编< /font>] , sđd, trang 38.

3 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编< /font>] , sđd, trang 44.

4 Xem Nam Hải Chư Đảo Luận Chứng Khảo Tập, trang 1-6

5 Trương Tiếp, Ðông Tây Dương Khảo, quyển 9.

6 Tống Sử, quyển 47, Doanh Quốc Công Bản Kỷ.

7 Bạch: loại hàng dệt bằng tơ trần.

8 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 48.

9 Lúc bấy giờ lãnh thổ Nam phần Việt Nam, thuộc Thuỷ Chân Lạp; thuyền vào kinh thành nước này phải dùng sông Cửu Long. Sông này tính từ bắc xuống nam, lần lượt có cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông; như vậy cửa Hàm Luông, sông tương đối lớn, ứng vào cửa thứ tư.

10 Đông Tây Dương Khảo, quyển 9.

11 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, chú thích số 3, trang 43.

12 Chân Lý Phú : một nước tại phía nam Chân Lạp.

13 Tân Ðạt Gia : một nước xưa, giữa Chiêm Thành và Chân Lạp.

13 NQNHCÐSLHB, trang 43.

15 Đại Dư: cửa biển tại châu Tuyền, Phúc Kiến.

16 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 49.

17 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 50.

18 Thiết cụ : gió bão lớn.

19 Phí Tín soạn Tinh Tra Thắng Lãm vào năm Minh Chính Thống thứ nhất [1433]

20 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 54.

21 Thù Vức Chu Tư Lục [殊域周咨綠], quyển 7, Nam Man, mục Chiêm Thành.

22 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 57.

24 Ðại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch của Viện Sử Học, tập 3, trang 47.

25 Theo sử Việt, sau khi đánh bắt Trà Toàn, vua Lê Thánh Tông chia Chiêm Thành thành 3 nước nhỏ.

26 Tập Bản Ðồ Hành Chính 64 Tỉnh, Thành Phố Việt Nam, NXB Bản Đồ, 2005.

27 Hải Ngữ [海語] Hoàng Trung, quyển thượng, Tiêm La.

28 Phong hoả đài : đài báo động trên núi bằng cách đốt lửa.


Các thao tác trên Tài liệu
Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss