Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Quân phiệt tranh giành tại Trung Quốc / Quân phiệt tranh giành tại Trung Quốc (2)

Quân phiệt tranh giành tại Trung Quốc (2)

Chương 2 : Thời kỳ hỗn loạn lớn bắt đầu (1917-1924)



Quân phiệt tranh giành tại Trung Quốc


Hồ Bạch Thảo


Chương 2

Thời kỳ hỗn loạn lớn bắt đầu
[1917-1924]


tu

Từ Thế Xương : Tổng thống [1918-1922]

Nguồn : zh.wikipedia.org/zh/徐世昌


1. Nam bắc chiến tranh cùng nội bộ quân phiệt Bắc dương mâu thuẫn


Sau khi Trương Huân nổi loạn phục bích 1, Đoàn Kỳ Thuỵ không chấp nhận cho Lê Nguyên Hồng trở lại chức Tổng thống, Lê cũng cảm thấy không có khả năng trở lại, nên tuyên bố từ chức. Đoàn đứng ra tổ chức nội các, những người được đưa lên hầu hết thuộc Nghiên cứu hệ do Lương Khải Siêu lãnh đạo và đảng riêng của Đoàn, nên còn được gọi là Đoàn, Lương nội các. Phùng Quốc Chương lên chức Tổng thống, đứng về pháp lý và thế lực ngoài Phùng ra không ai có thể giành chức này. Chức Đốc quân Giang Tô trước đây Phùng kiêm nhiệm, nay giao cho Lý Thuần, thuộc Trực hệ ; riêng Hoán hệ có thêm tỉnh Hồ Bắc. Phùng lấy ước pháp làm căn bản ; riêng Đoàn cùng Nghiên cứu hệ của Lương Khải Siêu, Thang Hoá Long thì cự tuyệt, vì ước pháp có liên quan đến quốc hội cũ, trong đó có nhiều đảng viên Quốc dân đảng. Họ đưa ra những lý do sau đây để chống lại :


– Thứ nhất : Dân quốc mất do phục bích, cần theo biện pháp năm 1912, lập Tham nghị viện lâm thời, định lại cách tổ chức quốc hội cùng phép tuyển cử, để lập quốc hội mới.


– Thứ hai : Đốc quân đoàn đã nhiều lần đả phá quốc hội, nếu khôi phục sẽ sinh phản đối mạnh.


– Thứ ba : quốc hội qua hai lần thí nghiệm thất bại, uy tín đã mất, gây nên tập quán xấu khó sửa đổi.


Thực ra nguyên nhân chính là không muốn cho Quốc dân đảng khống chế quốc hội, kết quả gây nên nam, bắc chính thức đối lập. Tháng 11/1917 triệu tập lâm thời Tham nghị viện, trong đó phe Đoàn Kỳ Thuỵ chiếm 2/3, Nghiên cứu hệ chiếm 1/3.


Thời Đốc quân đoàn náo loạn, Tôn Trung Sơn cùng Đốc quân Vân Nam Đường Kế Nghiêu hai, ba lần đòi duy trì ước pháp và quốc hội. Đến lúc quốc hội bị giải tán lần thứ hai, Quảng Đông, Quảng Tây Đốc quân thuộc Quế hệ chỉ trích việc này phi pháp, và tuyên bố tự lập, chờ khi quốc hội khôi phục mới tuân lệnh chính phủ. Khi việc phục bích dấy lên, Tôn Trung Sơn đả kích Đoàn Kỳ Thuỵ gây nên mối loạn, bèn hô hào hộ pháp [bảo vệ hiến pháp], cho việc Đoàn dẹp Trương Huân là “ lấy phản loạn dẹp phản loạn, dùng giặc dẹp giặc ”, yêu cầu Nghị viên quốc hội xuống miền nam hành sử chức quyền. Nước Đức muốn khiên chế chính phủ Bắc Kinh, nên cấp cho phe Tôn số tiền lớn và sách động Đệ nhất hạm đội hưởng ứng. Do lời mời của Tỉnh trưởng Quảng Đông Chu Khánh Lan, Tư lệnh hạm đội Trình Bích Quang đón Tôn Trung Sơn, Đường Thiệu Nghi, Uông Triệu Minh, Ngũ Đình Phương cùng một bộ phận Nghị viên quốc hội từ Thượng Hải đến Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông].


Đường Kế Nghiêu hận Đoàn sai quân Tứ Xuyên đánh quân Vân Nam, cũng không thừa nhận Đoàn làm Tổng lý quốc vụ viện. Lục Vinh Đình lúc bấy giờ giữ chức Tuần duyệt sứ 2 Lưỡng Quảng chỉ muốn bảo vệ lợi ích bản thân, nhưng Hồ Nam là vùng trái độn cần được bình yên ; nên mấy lần khuyên Phùng Quốc Chương khôi phục quốc hội, nhưng Phùng không tự chủ quyết định được. Đoàn quyết tâm dùng vũ lực với phương nam, động viên Bắc quân tiến đánh Tứ Xuyên và Hồ Nam, dùng Truyền Lương Tá thay Đàm Diên Khải làm Đốc quân Hồ Nam, Lương Quang Tân làm Tổng tư lệnh miền thượng du Trường Giang cùng Đốc biện tỉnh Quảng Tây. Trước áp lực của Đoàn, Đường tự xưng Tĩnh quốc quân Tổng tư lệnh quân Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu, mang quân vào Tứ Xuyên. Lục Vinh Đình lo trước cảnh môi hở răng lạnh, lấy danh nghĩa ủng hộ ước pháp, yêu cầu các tỉnh tây nam cùng ứng phó với cục diện tại Hồ Nam.


Về số Nghị viên do Tôn Trung Sơn kêu gọi đến Quảng Châu chỉ hơn một trăm người, số người dưới quy định pháp chế quá xa, nên gọi là Phi thường hội nghị ; quyết định thành lập Quân chính phủ, suy cử Tôn Trung Sơn làm Đại nguyên soái, Đường Kế Nghiêu, Lục Vinh Đình làm Nguyên soái. Đường, Lục thực sự không phải vì bảo hộ hiến pháp mà phản đối Đoàn ; Lục lại không chịu cho Tôn Trung Sơn tiết chế, nên cự tuyệt không nhận chức, phản đối tổ chức chánh phủ ; thanh ngôn sau này nếu phát sinh ra vấn đề gì tại Quảng Đông sẽ không chịu trách nhiệm. Đốc quân Trần Bính Côn tại Quảng Đông chỉ kết tội Đoàn Kỳ Thuỵ phi pháp, nhưng công nhận Phùng Ngọc Chương. Ngày 1/9/1917 Quân chính phủ miễn cưỡng thành lập ; Ngũ Đình Phương, Đường Thiệu Nghi, Tôn Hồng Y, Trình Bích Quang, Hồ Hán Dân vv… chia ra lãnh các bộ. Trung Quốc từ đó chia cắt, ngoài hai chính phủ nam, bắc ; còn có các quân phiệt tự lập trong vòng tối thiểu 10 năm.


Cuộc chiến nam, bắc khởi đầu tại Tứ Xuyên ; Điền hệ Đốc quân La Bội Kim đem chức Tỉnh trưởng Tứ Xuyên giao cho Sư trưởng quân Tứ Xuyên Lưu Tồn Hậu. Đoàn Kỳ Thuỵ, Lương Khải Siêu đem chức này giao cho quân Quý Châu Đái Kham, thuộc Nghiên cứu hệ. Lưu thừa dịp dân Tứ Xuyên oán hận quân Vân Nam bèn liên hợp các tướng lãnh đánh La, rồi quay lại đánh dẹp quân Quý Châu, khiến Đái Kham thua, tử trận. Đường Kế Nghiêu mang quân đánh Lưu Tồn Hậu, Đoàn Kỳ Thuỵ lại mang quân giúp Lưu, từ đó chiến tranh tại Tứ Xuyên không ngưng, nhưng quân chủ lực hai bên đánh nhau tại Hồ Nam.


Sau khi Đốc quân Hồ Nam Đàm Diên Khải bị Đoàn cất chức, cầu viện Quảng Tây. Lục Vinh Đình có giao tình thân cận với Lương Khải Siêu, Phùng Quốc Chương nên quân Quế hệ chần chừ không tiến. Đến khi Bắc quân chiếm Trường Sa [Changsha, Hồ Nam] Lưỡng Quảng bị uy hiếp, Lục mới bắt đầu ra quân ; Đàm Diên Khải rút quân đến phía nam tỉnh Hồ Nam tuyên bố nhất trí với các tỉnh tây nam. Bắc quân không ngừng tiến công, Quân chính phủ tại Quảng Châu hạ lệnh đánh Đoàn Kỳ Thuỵ, Lương Khải Siêu. Tháng 11/1917 Nam quân mấy lần thắng, Bắc quân nội bộ bất hoà, kỷ luật bại hoại, đến chỗ nào cũng bị tập kích, Nam quân bèn đoạt lại Trường Sa. Điền quân tại Tứ Xuyên tuy bị quân theo Đoàn đánh bại, nhưng quân phía nam phối hợp với quân Quý Châu đánh thắng Bắc quân chiếm Trùng Khánh [Chongquing, Tứ Xuyên], rồi Bắc quân rút ra khỏi Tứ Xuyên.


Phùng, Đoàn đấu tranh ngầm là một trong những nguyên nhân khiến Bắc quân bị bại. Đoàn muốn dùng vũ lực chinh phục phương nam, nhưng Phùng muốn kết với nam phương để sử dụng khi cần. Đoàn muốn Phùng ra lệnh rõ ràng việc đánh dẹp phương nam, nhưng bị Phùng cự ; Phùng chỉ ra lệnh cho Đường Kế Nghiêu triệt thoái quân Vân Nam ra khỏi tỉnh Tứ Xuyên, nhưng đối với quân Lục Vinh Đình tại tỉnh Hồ Nam thì để yên không hỏi đến. Chủ tướng Bắc quân tại tỉnh Hồ Nam là Sư trưởng Vương Nhữ Hiền thuộc Trực hệ, đả kích ngầm Đoàn Kỳ Thuỵ, chủ trương đình chiến, yêu cầu Phùng thương nghị cùng phương nam và triệu tập quốc hội. Các Đốc quân thuộc Trực hệ như bọn Lý Thuần nêu lên việc mượn tiền Nhật Bản để trách cứ chất vấn Đoàn. Tháng 11, Đoàn xin từ chức, trách Vương Nhữ Hiền bị phương nam ly gián là do Phùng gây nên. Phùng ngoài mặt tuyên bố lúc này không thể nói chuyện hoà, Đoàn bèn thủ tiêu ý định rút lui. Hai ngày sau, Phùng ra lệnh cách chức Đốc quân Hồ Nam thuộc Hoán hệ, ngỏ ý cho các Đốc quân Trực hệ triệt binh. Đoàn lại xin từ chức ; Phùng trước hết giải trừ chức Tổng trưởng lục quân Đoàn kiêm nhiệm, cùng giải trừ Thứ trưởng lục quân Từ Thụ Tranh, Đốc biện sứ Tứ Xuyên Ngô Quang Tân. Rồi chấp nhận Đoàn từ chức, do Vương Sĩ Trân thay thế. Đoàn, Lương nội các cáo chung ; Nghiên cứu hệ từ khi Đái Kham bị giết, sinh ra oán Đoàn. Lại thêm đối với vấn đề dụng binh phương nam, Lương Khải Siêu chủ quản về tài chánh cùng quẫn không ứng phó ; nhưng Tổng trưởng giao thông Tào Nhữ Lâm thuộc Giao thông hệ mượn tiền Nhật, đưa tay ra là có tiền trao, nên Lương bị thất sủng. Lương ôm hoài bão về chính trị, trong vòng 5 năm hai lần vào nội các, lần đầu bị bán đứng bởi Viên Thế Khải, lần sau không được Đoàn Kỳ Thuỵ vui lòng ; Quốc dân đảng ghét ; nhưng Lương cũng chưa quên chính trị, chỉ do gặp phải bế tắc mà thôi.


Hoán hệ không chịu để yên, Từ Thụ Tranh sách động Đốc quân Trực hệ Tào Côn, Đốc quân Sơn Đông Trương Hoài Chi tập hợp bọn Đốc quân Phụng Thiên Trương Tác Lâm, Đốc quân Sơn Tây Diêm Tích Sơn vv… yêu cầu Phùng Quốc Chương đánh dẹp phương nam. Lương Sĩ Di thay Đoàn Kỳ Thuỵ đến Nhật Bản hoạt động, Thủ tướng Tự Nội Chính Nghị hứa ra sức giúp đỡ. Ba Đốc quân Trực hệ thuộc vùng sông Trường Giang, gồm Lý Thuần tại Giang Tô, Vương Chiêm Nguyên tại Hồ Bắc, và Trần Quang Viễn tại Giang Tây, lại xin Phùng Quốc Chương đình chiến, triệu tập hội nghị về thời cuộc ; Lục Vinh Đình, Đường Kế Nghiêu cùng phụ hoạ. Hoán hệ sách động quân Triều Châu [Chaozhou, Quảng Đông], Sán Đầu [Shantou, Quảng Đông] tuyên bố độc lập ; Long Tế Quang xâm nhiễu phía nam, khiên chế Quảng Đông. Nhân Kinh Châu [Jingzhou, Hồ Bắc], Tương Dương theo phương nam ; Phùng bị Hoán hệ làm áp lực, ngày 6/12 mệnh Tào Côn, Trương Hoài Chi mang quân đến Hồ Bắc, Hồ Nam, dùng Lưu Tồn Hậu làm Đốc quân Tứ Xuyên. Lúc này Lục Vinh Đình đề xuất khôi phục cựu quốc hội, đình chỉ tiến quân vào Tứ Xuyên, Lưỡng Quảng, ủng hộ Phùng Quốc Chương làm Tổng thống nhiệm kỳ mới, làm điều kiện để thủ tiêu độc lập tại Lưỡng Quảng. Phùng bèn bố cáo đình chiến, giao trách nhiệm cho quân nam, bắc hai bên đình chỉ hành động đối địch. Ngày 31/12 bọn Tào Côn gồm 10 Đốc quân miền bắc gửi điện kiên quyết phản đối khôi phục cựu quốc hội, chủ trương dùng đệ nhị lâm thời Tham nghị viện 3 thay thế quốc hội chức quyền để tuyển cử Tổng thống chính thức, mưu đồ lật đổ Phùng một cách hợp pháp.


Phùng đối với quân phương nam chỉ trọng thị Lục Vinh Đình, coi thường Đường Kế Nghiêu, sau khi Lưu Tồn Hậu làm Đốc quân Tứ Xuyên, khiến Đường không thể nhẫn nhịn được. Tháng 1/1918 nhân Bắc quân tiến công Kinh Châu, Tương Dương ; Nam quân tại các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu bèn chia nhau đánh Nhạc Dương [Yueyang, Hồ Nam], Phúc Kiến, Thành Đô [Chengdu, Tứ Xuyên]. Phùng mưu thoát khỏi áp lực của Hoán hệ, thanh ngôn mang quân thảo phạt tây nam, dùng lữ đoàn hộ vệ đáp xe lửa Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc] - Phố khẩu [Pukou, Nam Kinh] để đến đại bản doanh Trực hệ tại Nam Kinh. Không ngờ khi đến Phong Phụ [Bangbu, An Huy] bị Đốc quân An Huy Nghê Tự Xung thuộc Hoán hệ ngăn chặn, nên phải trở về Bắc Kinh.


Bắc quân tuy chiến thắng tại Hồ Bắc, nhưng Nhạc Dương bị Nam quân chiếm lãnh. Từ Thụ Tranh mang Phụng quân vào quan ải, tại Tần Hoàng [Qinhoangdao, Hà Bắc] cướp đoạt vũ khí của chính phủ Bắc Kinh mua từ Nhật Bản, rồi tiến vào Thiên Tân, Bắc Kinh. Chủ soái Phụng hệ Trương Tác Lâm yêu cầu Đoàn Kỳ Thuỵ lập nội các, Đoàn thông mưu với Từ Thế Xương cảnh cáo Phùng Quốc Chương nếu không tuân sẽ có chính biến ; lại có Công sứ Nhật Bản Lâm Quyền Trợ đứng phía sau sách hoạch. Ngày 23/3/1918 Đoàn trở lại chức Tổng lý Quốc vụ viện, trong hoàn cảnh Trực, Hoán hệ đấu tranh ác liệt.


Trước khi Đoàn nhậm chức 5 ngày, Bắc quân đoạt Nhạc Dương, kế chiếm Trường Sa, Sư trưởng Ngô Bội Phu [1874-1939] bộ hạ của Tào Côn lập công đầu, nhưng Đốc quân Hồ Nam Trương Kính Nghiêu thuộc Hoán hệ được khen thưởng ; lại còn muốn đoạt vùng địa bàn của Tào Côn tại Trực Lệ ; nên Tào, Ngô tâm sinh xa lìa. Từ Thụ Tranh bèn điều Phụng hệ xuống phương nam ; Đoàn Kỳ Thuỵ đến Hán Khẩu thuyết Tào Côn tiếp tục đánh. Từ Thụ Tranh đích thân gặp Ngô Bội Phu, hứa đưa khoản tiền lớn ; Nam quân đối Ngô cũng cực lực tranh thủ. Ngày 15/6 Ngô Bội Phu hoà với Nam quân, Trương Tác Lâm và Từ Thụ Tranh không hoà mục, Phụng quân tại Hồ Nam rút lên phía bắc. Từ khi Chiết Giang có biến, Tĩnh quốc quân tại Thiểm Tây lên như ong, Ngô Bội Phu lại đòi bãi binh gửi điện đả kích Đoàn ; chính sách thống nhất bằng vũ lực của Đoàn bị thất bại.




2. Đoàn Kỳ Thuỵ và Nhật Bản cấu kết



Nhật Bản khuếch trương quyền lợi tại Viễn Đông, đặc biệt tại Trung Quốc, nên hết sức dẫn dụ Trung Quốc tham gia Thế chiến thứ nhất. Từ tháng 2 đến tháng 3/1916, cử người đến các nước Anh, Pháp, Nga, Ý bàn giải ; bốn nước đều đồng ý Nhật tiếp tục quyền lợi của nước Đức tại Trung Quốc và Đông Á ; Nhật Bản phụ trách thúc đẩy Trung Quốc tham chiến. Đoàn Kỳ Thuỵ ra sức chủ trương tham chiến, để được gia tăng quan thuế, hoãn bồi khoản năm Canh Tý [1900], phế bỏ điều ước hạn chế quân sự ký năm Tân Sửu [1901]. Nhật Bản và Hiệp ước quốc đưa thiện ý ra đàm luận về những điều đáp ứng sau khi Trung quốc tham chiến ; Công sứ Mỹ P. S. Reinsch tái khẳng định rằng nếu như Trung Quốc tham chiến sẽ viện trợ về tài chính. Sau khi Trương Huân phục bích không thành, Nhật Bản cho rằng chỉ có Đoàn là đối thủ duy nhất, nên quyết định cung cấp tiền bạc vũ khí. Ngày 14/8/1917 chính phủ Bắc Kinh chính thức tuyên chiến với Đức. Các lãnh tụ phía nam vốn phản đối tham gia Đại chiến, sau khi thành lập Quân chính phủ tại Quảng Châu vẫn giữ lập trường như vậy ; nhưng trên thực tế hai phe thực sự tham chiến thì chỉ có nội chiến mà thôi.


Sau khi tuyên chiến, Nhật Bản yêu cầu Hiệp ước quốc chỉ chi viện cho Đoàn Kỳ Thuỵ mà thôi, không giúp đỡ hoặc cỗ vũ bất cứ phái nào khác. Nước Mỹ đồng ý tán trợ, coi Trung quốc là nước lớn đáng được ưu đãi trên trường quốc tế. Hiệp ước quốc đồng ý quan thuế do giá trị thực tế hiện vật chinh thu 5 %, trước đây do vật giá gia tăng mà không được điều chỉnh nên thực tế chỉ chinh thu được 2,5 % ; bồi khoản năm Canh Tý được hoãn 5 năm, quân đội Trung Quốc được tạm thời trú đóng xung quanh Thiên Tân 20 km. Mấy năm gần đó hàng Nhật Bản nhập Trung Quốc đứng hàng đầu, nên Nhật kiên quyết phản đối tăng cao giá biểu thuế theo phương thức 5 % thực giá. Rồi tìm cách cản trở, cho đến một năm sau lại quy định giá hàng lấy trung bình các năm từ 1912 đến 1916, và bắt đầu thực thi vào tháng 8/1919. Vì tuyên chiến với Đức, Áo, nên việc bồi thường năm Canh Tý [1900] cho các nước này đương nhiên thủ tiêu ; duy chỉ hoãn bồi thường cho các nước còn lại, mỗi năm khoảng hơn 2 000 vạn nguyên. Nước Mỹ sợ Nhật Bản khống chế Trung Quốc, nên trao đổi văn thư riêng rằng Trung Quốc có quyền tự quản lý quân bị, quân nhu ; tự quản lý việc thi thố hành động trong chiến tranh. Tuy nhiên vào ngày 2/11/1917, Quốc vụ khanh Mỹ R. Lansing ký hiệp định với Đặc sứ Nhật Bản Thạch Tỉnh Cúc Thứ Lang thừa nhận đặc thù lợi ích của Nhật Bản tại Trung Quốc, đặc biệt vùng đất thuộc Nhật Bản tiếp giáp với Trung Quốc ; căn cứ vào hiệp định này Nhật Bản cho rằng Mỹ đã thừa nhận địa vị đặc thù của Nhật tại Hoa ; riêng nước Mỹ giải thích rằng chỉ thừa nhận những tiện nghi về công thương nghiệp. Bất luận ra sao thì quyền lợi Nhật Bản tại Hoa cũng đã được Mỹ bảo chứng.


Về vấn đề tham chiến, Hiệp ước quốc có thể thu hoạch từ Trung Quốc những điều như sau :


– Thứ nhất : sử dụng vật tư của Trung Quốc, chủ yếu là lương thực ; các bộ nông thương đặt chương trình trù bị xuất khẩu lương thực thời chiến.


– Thứ hai : lực lượng lao động. Vào tháng 2/1916 Lương Sĩ Di ký hợp đồng với Pháp tổ chức công ty Huệ dân, chiêu mộ lao công giúp Âu châu trợ chiến. Hiện tại đặt cục Sự vụ Hoa công, trước sau đưa 25 vạn công nhân sang nước Pháp hoặc Viễn Đông.


– Thứ ba : tịch thu thuyền xưởng của Đức, Áo ; Trung Quốc giúp Hiệp ước quốc chế tạo. Mậu dịch của Đức tại Đông Á bị tiêu trừ hoàn toàn, Nhật Bản được hưởng lợi nhiều.


Từ tháng 9/1917 đến tháng 6/1918 chính phủ Bắc Kinh thu nhập quan thuế được trên 7 000 vạn nguyên, chi 1 hơn vạn vạn nguyên, trong đó có 2 000 vạn tiền nợ, như vậy còn thiếu 3 000 vạn nguyên. Sau khi chiến tranh nam, bắc xẩy ra, tiền thu công trái khó khăn, các tỉnh quân đội gia tăng, cắt lưu tiền thuế trung ương ; nên sự thu nhập của chính phủ Bắc Kinh giảm nặng, mỗi năm thu được không đến 5 000 vạn nguyên. Với tình huống như vậy, nếu không có tài nguyên nào khác, làm sao Đoàn Kỳ Thuỵ có thể dùng binh tại phương nam ? Hiệp ước quốc đáp ứng thực thu 5 % thuế, tuy lời nói tử tế nhưng thực sự không đạt được, dù gộp thêm cả tiền hoãn bổi khoản năm Canh Tý thì cũng chỉ là một gáo nước tạt vào cơn lửa cháy, nên việc Nhật Bản chịu cho vay là cửa ngõ sống còn, Đoàn Kỳ Thuỵ phải dốc tâm dựa vào. Tiền mượn 7/10 do Tây Nguyên Điện Tam, người thân của Thủ tướng Nhật Tự Nội Chính Nghị, giao cho người thân của Đoàn Kỳ Thuỵ là Tào Nhữ Lâm, nên thường được gọi là “ Tây Nguyên tá khoản ”.


Năm 1917 Tào Nhữ Lâm với tư cách Tổng tài Giao thông ngân hàng, 2 lần mượn 3 ngân hàng Nhật Bản : Hưng Nghiệp, Triều Tiên, Đài Loan số tiền 2 500 vạn nguyên ; người Nhật lại làm Cố vấn cho Giao thông ngân hàng, biết rõ về ngân hàng này như nhìn trên đầu ngón tay, nên giành quyền lợi tối đa cho Nhật. Lục Tông Dư với tư cách Hội trưởng hội cổ đông của Giao thông ngân hàng cùng với 3 ngân hàng Nhật thành lập Trung Hoa hối nghiệp ngân hàng, ngân khoản 2 000 vạn nguyên, Trung, Nhật mỗi bên một nửa ; phía Trung Quốc cũng do tiền mượn Nhật. Từ tháng 8/1917 đến tháng 7/1918 Đoàn Kỳ Thuỵ quyết dùng vũ lực với phương nam, giai đoạn này số tiền mượn Nhật rất lớn ; lần lượt các Tổng trưởng tài chánh như Lương Khải Siêu, Vương Khắc Mẫn, Tào Nhữ Lâm hướng đại biểu ngân hàng Nhật Bản Chính kim ngân hàng, mượn 3 000 vạn nguyên. Từ tháng giêng đến tháng 6/1918 lục quân Trung Quốc mượn số tiền 4 500 vạn nguyên tại các ngân hàng Nhật Bản để lập công ty quân giới. Vào tháng 9 Công sứ Chương Tông Tường tại Nhật mượn 3 ngân hàng Hưng Nghiệp, Triều Tiên, Đài Loan 2 000 vạn đồng nguyên Nhật để làm tài khoản tham chiến.


Văn thư ký kết giữa Trung Nhật về 5 tuyến đường sắt Mãn Mông đến nay vẫn chưa thực hiện. Tháng 10/1917 Tào Nhữ Lâm mượn tài khoản 650 vạn Nhật nguyên để xây đường sắt Vĩnh Cát [Yongji, Cát Lâm]-Đệ Xuân [Cát Lâm]. Tháng 2/1918 mượn Chính Kim ngân hàng 260 vạn Nhật nguyên cho tuyến đường sắt Tứ Bình Nhai [Liêu Ninh] - Trịnh Gia Đồn [Cát Lâm]. Ngoài ra Nhật Bản muốn trước khi Thế chiến thứ nhất chấm dứt, kéo dài tuyến đường sắt Giao Châu Loan [Sơn Đông] - Tế Nam [Sơn Đông] để khuyếch trương thế lực vùng hạ lưu sông Hoàng Hà, cùng xác định địa vị tại Sơn Đông. Ngày 24/9 thoả thuận về đường sắt Giao Châu Loan - Tế Nam do Trung Nhật hợp doanh, quân Nhật rút về Thanh Đảo [Qingdao, Sơn Đông], chỉ để một bộ phận tại Tế Nam [Jinan, Sơn Đông] ; tuần cảnh và nhân viên phụ trách các trạm xe lớn dùng người Nhật; trong thoả ước Sứ thần Trung Quốc tại Nhật, Chương Tông Tường, còn lưu lại chữ viết “ Hân nhiên đồng ý ”. Ngày 28 thành lập giao ước mượn tiền cho 4 đường sắt Mãn Mông, đưa tiền ứng trước 2 000 vạn Nhật nguyên. Lại đồng ý kéo dài đường sắt Giao-Tế thành 2 đường mới, một đường từ Tế Nam [Jinan, Sơn Đông] đến Thuận Đức [Chengde, Hà Bắc], một đường từ Cao Mật [Gaomi, Sơn Đông] đến Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô], số tiền mượn 2 000 vạn Nhật nguyên. Tổng cộng hai lần số tiền mượn 4 000 vạn nguyên đều do 3 ngân hàng Hưng Nghiệp, Triều Tiên, Đài Loan đảm trách.


Ngoài ra vào tháng 2/1918 thành lập thủ tục mượn tiền cho vô tuyến điện 600 vạn Nhật nguyên, tháng 4 thành lập mượn tiền thiết lập điện tín 2 000 vạn Nhật nguyên, tháng 8 thành lập mượn tiền về điện thoại 1 000 vạn Nhật nguyên, tháng 8 thoả thuận mượn tiền cho việc khai mỏ kim loại Sâm Lâm tại Cát Lâm, Hắc Long Giang số tiền 3 000 vạn Nhật nguyên ; tất cả các vụ mượn này đều qua tay Tổng trưởng giao thông Tào Nhữ Lâm. Tính từ năm 1917 đến 1918, Đoàn Kỳ Thuỵ đã mượn Nhật số tiền tổng cộng 260 triệu Nhật nguyên, một nửa dùng trả nợ nước ngoài, một nửa dùng đánh dẹp phương nam.


Trung Quốc và Nhật Bản ngoài cái gọi là đề huề về kinh tế, còn đề huề về quân sự ; sau cách mệnh tháng 10, nước Nga rút ra khỏi Hiệp ước quốc, Nhật Bản yêu cầu Trung Quốc cùng chung ứng phó. Tháng 3/1918 Đoàn Kỳ Thuỵ quyết định dùng binh tại phương nam lần thứ hai, do Sứ thần Chương Tông Tường văn thư qua lại chiếu hội với Ngoại trưởng Nhật, Bản Dã Nhất Lang, hai bên cùng chung phòng kẻ địch Nga, Đức, Áo. Các ngày 16,19/5, chia ra ký các điều khoản về lục quân, hải quân “ Cộng đồng phòng địch hiệp định ”, quân Nhật được hoạt động trong lãnh thổ Trung Quốc, huấn luyện quân đội Trung Quốc. Tháng 9 lại tiếp tục ký “ Cộng đồng phòng địch hiệp định thực thi biện pháp ” ; Trung Quốc ra quân tại Tây Bá Lợi Á, quân Trung Quốc do Tư lệnh Nhật chỉ huy. Tháng 11 Thế giới đại chiến chấm dứt, Nhật Bản cho rằng những hiệp ước trên vẫn có hiệu lực cho đến khi Nhật phê chuẩn đối với Đức; mãi cho đến năm 1921 mới phế bỏ, lúc này chính quyền của Đoàn đã sụp đổ nửa năm trước.


Chính phủ Bắc Kinh cấu kết với Nhật, chính phủ tại Quảng Châu cũng muốn Nhật chi trì. Từ tháng 8/1917 đến tháng 3/1918 Tôn Trung Sơn sai người đến Đông Kinh hoạt động ; người Nhật khuyên nên thoả hiệp, nhượng bộ chính phủ phía bắc. Sau khi Tôn thất thế tại Quảng Đông, đích thân đến vận động Nhật, nhưng chính sách Nhật đối với Đoàn Kỳ Thuỵ vẫn không cải biến.




3. Hai chính phủ Quảng Châu, Bắc Kinh nghị hoà không thành



Quân phiệt Bắc Kinh, Trực hệ, Hoán hệ đối lập ; tại phương nam tình huống cũng không khác, ngoài Quế hệ, Điền hệ còn có thêm các hệ phái khác. Quân phiệt Quế hệ không công nhận Quân chính phủ, Đốc quân Quảng Đông Mạc Vinh Tân thường làm khó Tôn Trung Sơn ; phái Chính học hội trong Phi thường quốc hội liên kết với Quế hệ mưu lập Sầm Xuân Huyên, bài trừ Tôn Trung Sơn và bàn hoà với phương bắc. Đầu năm 1918 Lục Vinh Đình, Đường Kế Nghiêu, cùng Tư lệnh hải quân Trình Bích Quang thành lập Hộ pháp liên hiệp hội các tỉnh tự chủ tây nam ; chức Đại nguyên soái của Tôn Trung Sơn trở thành hư vị. Vào tháng 5 cùng năm, quốc hội biểu quyết bỏ chức Đại nguyên soái, đưa 7 người : Tôn Trung Sơn, Đường Thiệu Nghi, Đường Kế Nghiêu, Lục Vinh Đình, Ngũ Đình Phương, Lâm Bảo Dịch, Sầm Xuân Huyên làm Tổng tài Quân chính vụ ; Sầm giữ chức Chủ tịch tổng tài. Tôn Trung Sơn rời Quảng Đông lên phía bắc, bài xích phái quân phiệt nam bắc đều làm loạn nước như nhau.


Tại phương bắc tân quốc hội của phái Đoàn Kỳ Thuỵ khai mạc vào tháng 8/1918, Nghị trưởng Tham nghị viện, Lương Sĩ Di, thuộc Giao thông hệ, Nghị trưởng Chúng nghị viện, Vương Ấp Đường, thuộc An phúc hệ 4. Tổng thống Phùng Quốc Chương nhiệm kỳ sắp mãn, không có khả năng tái nhiệm ; việc tuyển Đoàn Kỳ Thuỵ tuy dễ thực hiện, nhưng Trực hệ và dư luận phản đối. Bọn Lương Sĩ Di chủ trương thay đổi, Phùng, Đoàn đều xuống đài, suy cử Từ Thế Xương làm Tổng thống ; Trực hệ, Hoán hệ tạm thời yên, nam bắc hy vọng thống nhất, Phùng, Đoàn cũng biểu thị đồng ý. Qua sự vận động của Lương Sĩ Di ; Lục Vinh Đình, Từ Thế Xương, Tôn Trung Sơn cũng không phản đối. Tào Côn, Trương Tác Lâm cũng được vận động, đều nhất trí ủng hộ Từ Thế Xương, Phùng Quốc Chương tuyên bố không tham luyến chức. Lúc này chính cuộc tại Nhật Bản sắp biến đổi, nội các Tự Nội từng ủng hộ Đoàn kỳ Thuỵ sắp cáo chung, đại chiến đến hồi kết thúc, thế lực Anh, Mỹ chuyển sang phương đông ; báo Anh tại Thượng Hải đăng tải rằng một ngày Đoàn còn tại chức, thì tình hình tại Trung Quốc không có hy vọng giải quyết. Đoàn kế Phùng tuyên bố rằng chờ cho quốc hội tuyển định xong sẽ rút lui kịp thời. Ngày 4/9 Từ Thế Xương trúng tuyển, ngày 10/10 nhận chức ; dùng Tiền Năng Huấn làm Tổng lý quốc vụ, phe Đoàn muốn đem chức Phó tổng thống nhử Tào Côn, Trương Tác Lâm ; Từ Thế Xương, Lương Sĩ Di muốn lưu lại để đợi Sầm Xuân Huyên ; Giao thông hệ, Tiến bộ hệ cự không tham dự tuyển cử, nên chức Phó tổng thống vẫn chưa có.


Sau khi Từ Thế Xương giữ chức Tổng thống, Công sứ Anh John Jordan khuyến cáo giảng hoà với phương nam, để khỏi tổn thương đến địa vị Trung Quốc trên trường quốc tế. Quốc vụ khanh Mỹ Robert Lansing [Lam Tân] thông tri cho Công sứ Trung Quốc Cố Duy Quân rằng đang chuẩn bị tổ chức ngân hàng đoàn quốc tế, cho Trung Quốc mượn tiền. Nhân sĩ Anh Mỹ tại Trung Quốc tổ chức Anh Mỹ hiệp hội, yêu cầu chính phủ hai nước giúp điều đình nam bắc. Từ Thế Xương tuyên bố thành tâm mưu thống nhất, đem hết nghị lực đoạt hoà bình ; Tổng thống Mỹ W. Wilson gửi điện yêu cầu chấm dứt chiến tranh để thống nhất ; Cố vấn Mỹ tại phủ Tổng thống W. W. Willoughby [Vi Lạc Bối] từng soạn Nam bắc điều hoà ý kiến thư. Nhật Bản kiến nghị Anh, Mỹ, Pháp, Ý liên hợp thuyết phục đương cục nam bắc, hy vọng giải quyết mối tranh chấp ; riêng Nhật hoãn cho Trung Quốc mượn tiền, đình chỉ viện trợ tài chính. Những nhân vật tiếng đương thời như Hùng Hy Linh, Thái Nguyên Bồi tổ chức hội về hoà bình ; ngoài ra còn có các hội đoàn toàn quốc như Hoà bình liên hiệp hội, Tổng thương hội, Giáo dục hội có ảnh hưởng trong dân gian, đều hô hào hoà bình.


Nhà đương cục phương bắc chỉ chú trọng đến quân đội, Tổng lý Tiền Năng Huấn điện cho Sầm Xuân Huyên cùng các lãnh tụ quân sự phương nam căn cứ theo thực tiễn phân xử giải quyết, cùng đả thông với Đốc quân Giang Tô Lý Thuần. Sầm Xuân Huyên chủ trương khai thông nam bắc hội nghị ; Từ Thế Xương được sự đồng ý của Đoàn Kỳ Thuỵ cùng Đốc quân đoàn, mệnh lực lượng tiền phương bãi chiến rút quân ; chính phủ tại Quảng Châu cũng được khuyến cáo của Mỹ, ra lệnh hưu chiến. Đốc quân đoàn yêu cầu Đoàn Kỳ Thuỵ tổ chức nội các, nhưng bị Công sứ đoàn ngăn trở. Vào ngày 2/12, Anh, Mỹ, Pháp, Ý, chính thức khuyến cáo chính phủ Nam, Bắc, cấp tốc mưu hoà bình thống nhất ; trước khi thống nhất không cho Trung Quốc mượn tiền liên quan đến việc chính trị, nên Đoàn và Đốc quân đoàn không thể có ý khác. Sau khi Lý Thuần bàn định xong với các phái tại phương nam, Nam Bắc hoà bình thiện hậu hội nghị bắt đầu. Tổng đại biểu phái Bắc Kinh là Chu Khải Linh, còn có Phân đại biểu của các phái hệ. Về việc tranh luận địa điểm hội nghị, chính phủ Quảng Châu chần chừ không phái đại biểu đến dự. Trước đó các nước cưỡng bách chính phủ phía bắc đình chiến, khấu lưu những khoản dư về quan thuế ; vì ngân khố chính phủ Bắc Kinh trống không, nên mấy lần xin Công sứ đoàn can thiệp. Các nước biểu thị rằng nếu cuộc hoà đàm Nam, Bắc cử hành đúng như định kỳ, chính phủ phương nam sẽ được nhận 1 200 vạn nguyên tiền thuế quan. Lại biểu thị thêm rằng nếu chính phủ phương nam sớm cử Đại biểu đến dự, sẽ được viện trợ thêm một phần khoản tiền dư quan thuế, ước tính 90 vạn nguyên ; chính phủ Quảng Châu bèn cử Đường Thiệu Nghi làm Tổng đại biểu, các phái cũng cử Phân đại biểu.


Còn có vấn đề tranh chấp về cuộc chiến tại tỉnh Thiểm Tây [Shaanxi]. Ngày 21/2/1919 hội nghị nam, bắc cử hành tại tô giới Thượng Hải [Shanghai, Giang Tô] ; Đại biểu phương nam tranh luận rằng Thiểm Tây cần được đặt trong vòng đình chiến, yêu cầu đình chỉ chiêu mộ quân tham chiến, thủ tiêu hiệp nghị Trung Nhật quân sự ; lời đề nghị bị phương bắc cự, nên hội nghị trở nên đình đốn. Đường Thiệu Nghi tố cáo các nước ; Nhật Bản bèn thông tri chính phủ Bắc Kinh sẽ đình chỉ giao phó quân nhu vũ khí ; Công sứ Anh, Pháp gặp mặt Từ Thế Xương yêu cầu hoãn mượn ngân khoản vào việc tham chiến, để đảm bảo không dùng quân cho nội chiến ; do vậy chính phủ Bắc Kinh bèn hạ lệnh đình chiến tại Thiểm Tây.


Tháng 4/1919 hoà hội lại khai mạc, chủ yếu tranh chấp về vấn đề quốc hội. Tổng đại biểu phương bắc Chu Khải Linh hy vọng bảo trì địa vị Tổng thống của Từ Thế Xương, hoàn thành hiến pháp, sau đó tuyển cử. An Phúc hệ cho rằng Từ Thế Xương cấu kết với phương nam nên hết sức phản đối. Chương Bỉnh Lân và Tôn Hồng Y thuộc Quốc dân đảng thì cho rằng Từ Thế Xương và Đường Thiệu Nghi có giao tình từ lâu, nên đả kích Đường không trung thành với Hộ pháp, nếu Từ làm Tổng Thống Đường sẽ làm Tổng lý quốc vụ. Rồi nhân “ Ngũ tứ vận động ” phát sinh, lòng người ghét giận chính phủ Bắc Kinh ; vào ngày 10/5 Đường Thiệu Nghi đề xuất yêu cầu chính phủ phương bắc khôi phục cựu quốc hội, không thừa nhận hoà hội Ba Lê xử lý vấn đề tỉnh Sơn Đông, tuyên bố mật ước giữa Trung Nhật vô hiệu, phế bỏ tham chiến, triệt bỏ các Đốc quân, Tỉnh trưởng có tội rõ ràng ; chỉ thừa nhận Từ Thế Xương làm Tổng thống lâm thời. Họ biết rằng phương bắc sẽ không tiếp nhận, chỉ nhân cơ hội để biểu thị lập trường phương nam mà thôi ; do đó hoà hội tan vỡ.


Vào tháng 6, năm nước Anh, Mỹ, Nhật, Pháp, Ý, khuyên các các chính phủ nam, bắc mở lại hoà hội. Chính phủ Bắc Kinh bị kềm chế bởi An Phúc hệ không thể tự chủ, Tổng lý quốc vụ Tiền Năng Huấn từ chức, An Phúc hệ nắm chính quyền ; dùng Vương Ấp Đường làm Tổng đại biểu nghị hoà, chính phủ Quảng Châu và Trực hệ đồng thanh phản đối. Tôn Trung Sơn và Đường Thiệu Nghi bất mãn với Quân chính phủ, nên Đoàn Kỳ Thuỵ muốn bắt tay với Tôn, Đường. Tháng 9, Từ Thế Xương dùng Cận Vân Bằng, thuộc phái Đoàn Kỳ Thuỵ cải tổ nội các, nhưng cuộc hoà hội tại Thượng Hải không thể khôi phục.




4. Bạch Nga, Hồng Nga tại Mãn, Mông, Tân Cương tranh đấu



Sau cuộc cách mệnh Nga vào tháng 2/1917, Tổng biện đường sắt Trung Đông 5 D. L. Horvath [Hoắc Nhĩ Ngoã Đặc] trung thành với Nga Hoàng, đóng tại Cáp Nhĩ Tân [Harbin, Hắc Long Giang] xưng là Tổng tài chính phủ Nga. Sau cách mệnh tháng 10, Cộng sản Nga nắm chính quyền, lập chính phủ Xô Viết, những người Nga theo Cộng sản tại Cáp Nhĩ Tân lên, trật tự đảo loạn. Trung Quốc thực hành can thiệp, thành lập Tư lệnh cảnh bị đường sắt Trung đông. Tháng 1/1918 Xô Nga yêu cầu chính phủ Trung Quốc đừng chi trì cho D. L. Horvath, cho phép xuất khẩu lương thực tại miền đông bắc, tiếp tục phái Đốc biện đường sắt Trung Đông, Trung Nga sẽ tổ chức thành hỗn hợp uỷ viên hội để thương thảo giải quyết đường sắt Trung Đông, nhưng những điều này chưa được phía Trung Quốc đồng ý. Vào tháng 3 Nga, Đức giảng hoà, tại Tây Bá Lợi Á thế lực Hồng đảng mạnh, Bạch đảng mấy lần thua, chiến sự lây ra đến gần vùng biên giới đông bắc Trung Quốc. D. L. Horvath hợp quân với G. M. Semenov [Ca Tát Khắc Tạ Mễ Nặc Phu] tiến vào Tây Bá Lợi Á. Nhật Bản muốn thừa cơ khuếch trương vùng bắc Mãn và Tây Bá Lợi Á, phái binh đổ bộ vùng Hải Sâm Uy [Vladivostok] ; cùng dụ hiếp chính phủ Bắc Kinh ký hiệp định phòng địch. Tháng 7, Xô Nga đối Hoa biểu thị tình nguyện huỷ bỏ đặc quyền tại bắc Mãn, nếu Trung Quốc có thể bồi thường thanh thoả tiền người Nga đầu tư tại đường sắt Trung Đông, thì có thể thu hồi đường sắt này. Anh, Mỹ muốn chế ngự Nhật Bản có ý định riêng mình đánh Xô Nga, bèn lấy danh nghĩa yểm trợ cho đám tù binh Tiệp Khắc do Nga thả ra tại Tây Bá Lợi Á, rồi lấy danh nghĩa Hiệp ước quốc cùng tiến binh, quân Trung Quốc cũng tham gia.


Tháng 8/1918 quân Nhật từ Triều Tiên, nam Mãn tiến chiếm đường sắt Trung Đông, thanh ngôn thực thi Trung Nhật phòng địch hiệp định, nhưng âm mưu chiếm vùng đường sắt Trung Đông và Tây Bá Lợi Á ; hành động này bị Anh, Mỹ nhất trí phản đối. Tháng 1/1919 Mỹ, Nhật ký hiệp định do các nước ra quân cộng đồng giám sát quản lý Trung Đông và Tây Bá Lợi Á thiết lộ ; nước Mỹ phụ trách kỹ thuật, Trung Quốc phụ trách cảnh bị đường sắt Trung Đông. Vào tháng 7, 8, liên quân cùng Bạch Nga thất lợi tại Tây Bá Lợi Á, bãi công tại đường sắt Trung Đông, Nhật Bản xui Bạch Nga quấy nhiễu, để chứng tỏ Trung Quốc không có khả năng trị an. Tháng 11 Bạch Nga thiết lập chính phủ tại Omsk [Nga], hai tháng sau bị Hồng quân tiêu diệt, địa vị của Nga Xô dần dần ổn định. Lúc bấy giờ Đệ nhất thế chiến đã cáo chung, quân Anh, Mỹ, Tiệp Khắc, Pháp rút lui khỏi Tây Bá Lợi Á ; riêng Nhật Bản vẫn còn lưu lại. Công nhân đường sắt Trung Đông lại bãi công, Trung Quốc giải trừ Hồng, Bạch quân vũ trang và chức vụ của bọn D. L. Horvath. Nga Xô muốn tránh xung đột trực tiếp với Nhật Bản và muốn tỏ ra hoà hảo với Mỹ, vào tháng 4/1920 thiết lập tại phía đông Tây Bá Lợi Á nước Cộng Hoà Viễn Đông để làm trái độn. Nhật Bản triệt thoái ra khỏi Baykal [Nga], đóng tại vùng biển phía nam, hạ lưu Hắc Long Giang, phía bắc đảo Khố Hiệt [Nga]. Nước Cộng Hoà Viễn Đông hai ba lần giao thiệp, Mỹ lại làm áp lực, nên đến tháng 10/1922 Nhật mới rút. Nước Cộng Hoà Viễn Đông hoàn thành nhiệm vụ, tháng 11 bèn sáp nhập vào Nga Xô Viết.


Cách mệnh tại Nga ảnh hưởng đến Ngoại Mông Cổ rất nghiêm trọng. Năm 1918 G. M. Semenov thuộc Bạch đảng mưu thiết lập đế quốc đại Mông Cổ, Hồng đảng cũng có khi tiến đánh vào biên giới ngoại Mông Cổ. Đô hộ sứ Trần Nghị đóng quân tại Khố Luân [Ulan Bator Hata, Mông Cổ] cùng quan phủ Ngoại Mông, Lãnh sự Nga hoàng thương lượng cho Trung Quốc phái quân đến cùng phòng bị. Năm 1919 G. MSemenov cùng Nhật Bản hô hào Ngoại Mông giành độc lập, Vương Công Ngoại Mông cùng Hoạt Phật, Lạt Ma không muốn theo. Lúc bấy giờ Đoàn Kỳ Thuỵ cải bổ chỉ huy biên phòng, dùng Từ Thụ Tranh làm Trù biên sứ tây bắc kiêm Tổng tư lệnh quân biên phòng miền tây bắc, gọi là Biên phòng quân. Vào tháng 8 năm này, G. MSemenov xâm phạm vùng phía đông Ngoại Mông, Vương Công Ngoại Mông theo sự khuyến cáo của Trần Nghị bằng lòng thủ tiêu tự trị. Vào tháng 9 một cánh Biên phòng quân đến Khố Luân, sau đó Từ Thụ Tranh đến ; y muốn tranh công một mình, chỉ trích Trần Nghị xử sự không đúng, cải sửa biện pháp thủ tiêu tự trị, ép quan Ngoại Mông cùng Hoạt Phật thi hành. Vào ngày 22/11 chính phủ Bắc Kinh ra lệnh thủ tiêu Ngoại Mông tự trị, theo hiệp định năm 1915 giữa Trung, Nga, Mông, rồi phái Từ Thụ Tranh đốc biện mọi việc tại Ngoại Mông, triệt bỏ Khố Luân Đô hộ sứ Trần Nghị.


Từ Thụ Tranh muốn một phen kinh dinh Ngoại Mông, nhưng tình thế không cho phép ; Hồng quân đã khống chế vùng Tây Bá Lợi Á, Bạch quân và Nhật Bản dòm ngó Ngoại Mông không ngừng, Trực hệ và Hoán hệ lại cạnh tranh đến hồi quyết liệt. Năm 1920, Hoán hệ thất bại, Biên phòng quân giải tán. Sau tháng 10 Baron von Ungern-Sternberg [Ân Cầm] thuộc Bạch quân hai lần tiến đánh, ngày 3/2/1921 Khố Luân không giữ được. Cùng tháng 2, Phật sống tuyên bố độc lập ; chính phủ Bắc Kinh phái Trương Tác Lâm làm Kinh lược sứ Mông Cổ, nhưng Trương còn lăm le chiếm vùng đất Nhiệt Hà [Chengde, Hà Bắc], Sát Cáp Nhĩ 6 và Tuy Viễn [Nội Mông], cùng với Trực hệ tranh hùng ; nên không vươn tới vùng đất Ngoại Mông.


Lúc Bạch quân mới công kích Khố Luân, Nga Xô đã chuẩn bị can thiệp, nhưng thấy tình huống không trầm trọng nên bãi quân. Đến lúc Baron von Ungern-Sternberg đánh chiếm Khố Luân, Nga xô bèn giúp đỡ đảng Mông Cổ nhân dân cách mệnh thành lập chính phủ nhân dân lâm thời tại Kháp Khắc Đồ [Khyagt, Mông Cổ], chính phủ này xin Hồng quân viện trợ. Ngày 6/7/1921 nước Cộng hoà Viễn Đông và Nga Xô xuất quân chiếm lĩnh Khố Luân ; Baron von Ungern-Sternberg bỏ trốn, sau đó bị bắt rồi chết. Ngày 12/7 chính phủ lâm thời Mông Cổ cải xưng chính thức, vẫn tôn Phật sống làm nguyên thủ, Sube-Bator chấp chính, quân Nga vẫn kế tục lưu trú. Ngày 5/11 Nga Xô và Mông Cổ đính lập điều ước hữu nghị, thừa nhận Cộng hoà nhân dân Mông Cổ là chính phủ duy nhất hợp pháp, không chấp nhận lực lượng phản kháng nào khác giữa hai lãnh thổ ; người Nga được thuê hoặc mua đất, được thừa nhận quyền lợi đường sắt và bưu điện. Cùng ngày Nga Xô công nhận vùng đất Đường Nô Ô Lương Hải tại phía bắc Mông Cổ độc lập, đổi tên thành Tannu Tova. Ngày 31/5/1922 Nga Xô và Mông cổ lập hiệp ước, quy định tài sản của Nga Hoàng trước kia, đều nhất luật giao cho Nga Xô. Ngày 20/5/1924 Phật sống Bố Tôn Ban Đa viên tịch, ngày 1/7 đổi tên nước này thành nước Mông Cổ nhân dân cộng hoà, đổi tên Khố Luân thành Ulan Bator Hata, ý chỉ một thành phố đỏ anh hùng. Mông Cổ trở thành nước thứ hai theo cộng sản, cũng là nước vệ tinh thứ nhất của Nga Xô.


Ngoài ra tại Tân Cương, Hồng quân, Bạch quân còn có sự tranh chấp. Tháng 6/1919 Annenkov thuộc Bạch quân vùng Trung Á bị Hồng quân đánh bại, chạy đến Tháp Thành [Qoqek, Tân Cương], Đốc quân Tân Cương Dương Tăng Tân không đủ sức để ngăn chặn. Tháng 5/1920 Hồng quân đánh bại Annenkov, nhưng Bạch quân của Bakich lại đến, lực lượng khoảng 2 vạn. Ngày 27/5 Dương Tăng Tân cùng nhà cầm quyền Nga Xô tại tiểu bang biên giới Tashkent đính lập Y Lê lâm thời thương ước, chấp nhận phái Lãnh sự trú tại Y Lê [Yili, Tân Cương], Địch Hoá [nay là Ô Lỗ Mộc Tề, Tân Cương], Tháp Thành, Khách Thập Cát Nhĩ [Tân Cương]. Tháng 5/1921 Hồng quân vào Tân Cương đánh bại quân Bakich ; tháng 7 Dương Tăng Tân xua đuổi được Bakich, cuộc tranh chấp giữa Hồng, Bạch tại Tân Cương đến đây kết thúc.




5. Hội đàm Ba Lê cùng cuộc vận động Ngũ Tứ



Sau khi tuyên chiến với Đức trong Đại chiến thứ nhất, Đoàn Kỳ Thuỵ vùi đầu vào nội chiến, chưa từng phái một tên lính nào sang Âu Châu ; người ta mỉa mai rằng “ Đối ngoại tuyên chiến nhưng không đánh, đối nội đánh nhưng không tuyên ”. Vào tháng 10/1918, trên thực tế cuộc đại chiến hầu như đã chấm dứt, Hiệp ước quốc trách Trung Quốc không ra sức tham chiến ; dùng các khoản tiền được hoãn bồi thường cho sự việc năm Canh Tý [1900] và tăng thuế quan vào việc nội chiến, chứ không dùng để sản xuất vật tư phụ giúp cho Hiệp ước quốc. Tháng 1/1918 Tổng thống Mỹ W. Wilson tuyên bố 14 nguyên tắc cho hoà hội trong tương lai, chủ trương công khai về ngoại giao, xử trí về đất thực dân phải tôn trọng ý kiến chung của cư dân. Nhân đó người Trung Quốc ôm mộng tưởng trong muôn một có thể thu hồi được quyền lợi của Đức tại tỉnh Sơn Đông, thủ tiêu Trung Nhật tân ước 21 điều 7, phế bỏ quyền lợi đặc thù của ngoại quốc tại Hoa.


Tháng 1/1919 hoà hội khai mạc tại Ba Lê, đại biểu ngoại giao Trung Quốc gồm Tổng trưởng Lục Chinh Tường, Công sứ tại Mỹ Cố Duy Quân, Công sứ tại Anh Thi Triệu Cơ, Công sứ tại Tỷ Lợi Thì Nguỵ Thần Tổ, cùng Quân chính phủ tại Quảng Châu phái Vương Chính Đình. Lúc thảo luận liên quan đến Trung Quốc, đại biểu Nhật Bản cho rằng Giao Châu Loan, đường sắt Giao-Tế, cùng toàn bộ quyền lợi của Đức tại Sơn Đông cần phải do Nhật kế thừa. Cố Duy Quân ra sức phản bác, đây là cuộc đối kháng đầu tiên về mặt ngoại giao trên trường quốc tế, dư luận trong nước rất phấn khích ; Cố xuất thân từ đại học Columbia, New York, năm đó 30 tuổi. Vào ngày 2/2 Công sứ Nhật tại Bắc Kinh Tiểu Phiên Dậu Cát kháng nghị cho rằng Cố Duy Quân làm mất tình hữu nghị, phải thay đổi thái độ ; từ nay trở về sau ngoại trừ được Nhật Bản đồng ý, không được có chủ trương riêng, nếu không sẽ có hành động đáp lại. Đại biểu Trung Quốc không chịu sự uy hiếp, chính thức đề xuất thu hồi quyền lợi tại Sơn Đông cùng phế bỏ Trung Nhật tân ước, vì điều ước này do ép buộc Trung Quốc phải ưng thuận, trái với nguyên tắc chủ trì chính nghĩa của Hiệp ước quốc. Tháng 3 đại biểu Trung Quốc đề xuất về hoà ước đối với Đức, tháng 4 đề xuất thủ tiêu đặc quyền của người nước ngoài tại Trung Quốc. Việc này không chỉ bị Nhật cự lại, mà các nước Anh, Pháp cũng phản đối, bảo rằng không thuộc quyền hạn của hoà đàm, cần phải có cuộc hội quốc tế khác.


Lập trường của Anh, Pháp nghiêng về phía Nhật ; riêng thái độ của Tổng thống W. Wilson mềm dẻo hơn, chủ trương đem quyền lợi Đức tại Hoa giao cho Hiệp ước quốc quản lý, hoặc do liên minh quốc tế thác quản ; nhưng Nhật Bản không đồng ý. Do tình huống bất lợi, đại biểu Trung Quốc đồng ý đem quyền lợi của Đức tại Sơn Đông giao cho các nước Anh, Pháp, Mỹ, Ý, Nhật tiếp thu để rồi giao hoàn lại cho Trung Quốc ; Trung Quốc nhường cho Nhật sử dụng Thanh Đảo [Qingdao, Sơn Đông] để bồi thường chiến phí, mở Giao Châu Loan [Jiaozhou bay, Sơn Đông] làm thương cảng cho ngoại quốc cư trú ; Nhật Bản vẫn cự tuyệt và đòi rút ra khỏi hội nghị để gây sức ép. Ngày 30/4 Anh, Mỹ, Pháp phải chịu khuất, công nhận quyền lợi Đức trước kia tô tá đất, lập đường sắt, khoáng sản tại Sơn Đông đều giao cho Nhật Bản.


Ngày 1/5 Đại biểu Trung Quốc Tổng trưởng ngoại giao Lục Chinh Tường báo cáo với chính phủ sự việc, và bảo rằng nếu như không ký Trung Quốc có thể bất lợi về : triệt bỏ quyền lãnh sự tài phán, thủ tiêu bồi khoản năm Canh Tý, tự chủ quan thuế và bồi thường tổn thất v v… Ngày 2/5, chính phủ Bắc Kinh mật điện Đại biểu Trung Quốc rằng có thể ký. Cũng trong ngày, trên tờ Thần Báo tại Bắc Kinh, Lâm Trường Dân đăng bài “ Ngoại giao cảnh báo, kính cáo quốc nhân ” đoạn mở đầu như sau “ Giao Châu mất ! Sơn Đông mất ! Nước không thành nước ! Tin tức này 2 ngày trước kẻ hèn này đã nghe rồi ; nay Lương Nhiệm Công [Khải Siêu] điện về chứng nhận sự thực ! Nghe rằng trước đây 4 nước hội nghị quyết định đem quyền lợi Đức tại Sơn Đông giao cho 5 nước để hoàn lại cho Trung Quốc, không hiểu sao hiện nay sự thể biến đổi lớn...”. Tin tức truyền ra khắp nước, khiến lòng người rất phẫn nộ.


Trong vòng 30 năm nay, ý thức về dân tộc của người Trung Quốc tăng dần, những năm gần đây coi Nhật Bản là kẻ địch rất lớn, tâm lý chống Nhật trở nên mạnh mẽ. Thanh niên học sinh được các bậc trí thức cổ vũ, lòng ái quốc dâng cao. Không bàn đến việc Trung Quốc đóng góp cho đại chiến như thế nào, nhưng Trung Quốc cũng là một trong những nước chiến thắng ; bởi vậy kỷ niệm Hiệp ước quốc chiến thắng, học sinh toàn quốc nghỉ ăn mừng 3 ngày, coi đó là công lý thắng cường quyền. Rồi tin tức về cuộc hoà hội đến nơi, như gáo nước lạnh tạt vào mặt, thất vọng phẫn giận đạt đến cực điểm. Một đường thì giận dữ cường quốc vẫn có hành vi hung bạo như cũ, những cái gọi là công lý chỉ là luận điệu lừa người ; một đường thì giận biện pháp xử sự với Nhật trong quá khứ và quy tội cho những người đang nhiệm chức như Tổng trưởng giao thông Tào Nhữ Lâm, Tổng tài cục chế tiền Lục Tông Dư, Công sứ tại Nhật Chương Tông Tường. Đầu tiên Giáo sư đại học Bắc Kinh nghiêm khắc bài xích sách lược hoà đàm cùng chính phủ, học sinh cùng quần chúng khởi động tranh đấu. Hiệp hội ngoại giao Bắc Kinh định ngày quốc sỉ 7/5, quần chúng tụ tập thị uy. Đại học Bắc Kinh cho rằng thời thế cấp bách không thể đợi, bèn hiệu triệu sinh viên học sinh 13 trường đại học chuyên nghiệp như Cao Sư, Pháp Chính Chuyên Môn, Cao Đẳng Công Nghiệp v v… phát động đấu tranh, hẹn ngày hôm sau đến Thiên An Môn thị uy ; đề ra 4 biện pháp : thứ nhất, liên hiệp các giới nhất trí tranh đấu ; thứ hai, gửi điện cho Sứ thần tại Ba Lê kiên trì đàm phán, không chịu ký vào hoà ước ; thứ ba, gửi điện cho các tỉnh tổ chức thị uy vào ngày quốc sỉ 7/5 ; thứ tư, định ngày 4/5 cử hành đại thị uy tại Thiên An Môn.


Vào 10 giờ sáng ngày 4/5, sinh viên học sinh triệu tập hội nghị hoạch định lộ tuyến diễn hành thị uy. 1 giờ chiều hơn 3 000 học viên thuộc 13 trường tụ tập tại Thiên An Môn, dương cao các khẩu hiệu “ Bên ngoài tranh quyền cho nước, bên trong trừng trị quốc tặc ”, “ Thủ tiêu 21 điều ”, “ Cự tuyệt ký hiệp ước ”, “ Diệt bọn bán nước Tào Nhữ Lâm, Lục Tông Dư, Chương Tông Tường ” ; tuyên đọc bản tuyên ngôn của toàn thể Bắc Kinh học giới. Sau đó Tổng chỉ huy Truyền Tư Niên đi đầu, hướng dẫn đoàn biểu tình đến sứ quán tại ven phía đông thành phố, nhưng bị tuần cảnh cản trở. Bèn cử đại biểu mang Bị vong lục [Memorandum] bằng Anh văn đến 4 sứ quán ; nhưng chỉ có Sứ quán Mỹ nhận, riêng Anh, Pháp, Ý không nhận. Tiếp đến theo kế hoạch, hướng đến nhà Tào Nhữ Lâm ; lúc này số người lên đến 4 000, lòng đầy phẫn hận, đập phá cửa nhà, huỷ hoại đồ vật. Tào Nhữ Lâm trốn, riêng Chương Tông Tường hiện diện bị đánh ; thành phần biểu tình 30 người bị bắt. Ngày hôm sau các trường bãi khoá ; sau đó 30 ngày nhân nhà đương cục Bắc Kinh dùng thủ đoạn đàn áp mạnh, nên phong trào khuếch đại, không chỉ các học sinh bãi khoá, thương nhân, công nhân cũng bãi thị, bãi công.


Tại hội đàm Ba Lê, ngày 6/5 hội nghị tuyên đọc bản thảo hoà ước ; phái đoàn Trung Quốc xin bảo lưu lập trường trước khi ký, nhưng không được chấp nhận. Đoàn Kỳ Thuỵ khống chế chính phủ Bắc Kinh, chỉ sợ không làm vui lòng Nhật Bản ; lại nghĩ rằng trong hoà ước có những điều quy định tương đối có lợi cho Trung Quốc như việc nước Đức từ bỏ bồi thường năm Tân Sửu [1901], trả lại tô giới Thiên Tân, Hán Khẩu ; nếu không ký thì không được những điều nêu trên, lại không thể tham gia liên minh quốc tế, rất ngại cho địa vị Trung quốc trên trường quốc tế ; nhưng do sự phản đối của cả nước, không dám quyết định rõ ràng, chỉ mệnh Đại biểu tuỳ cơ liệu biện. 28/6 là ngày ký tên cho hoà ước, Đại biểu Trung Quốc làm cuộc tranh đấu cuối cùng, thương lượng với 3 nước Anh, Pháp, Mỹ hứa cho Trung Quốc sau này có quyền đem vấn đề Sơn Đông ra bàn luận lại, nhưng cũng bị bác. Lúc này đoàn đại biểu ở vào chốn đường cùng, chỗ ở bị công nhân và học sinh bao vây, rốt cuộc không ký vào điều ước. Tuy rằng trong hội đàm Trung Quốc bị thất bại, nhưng còn tự chủ được ngoại giao, không chịu để cho cường quốc sắp đặt. Còn hoà ước đối với Áo, ngày 10/9 ký kết, thủ tiêu quyền lợi Áo trong điều ước năm Tân Sửu [1901], thu hồi tô giới của Áo tại Thiên Tân ; Trung Quốc cũng được chấp nhận là thành viên của liên minh quốc tế. Ngày 15/9 Trung Quốc tuyên bố chiến tranh với Đức chấm dứt, ngày 20/5/1921 hai nước tuyên bố khôi phục ngoại giao bình đẳng.


Hồ Bạch Thảo








1 Phục bích : vua lên ngôi trở lại, trở lại thời quân chủ.


2 Tuần duyệt sứ : chức vụ trên Đốc quân, quyền lớn hơn Tổng đốc thời Thanh.


3 Đệ nhị lâm thời Tham nghị viện do Đoàn Kỳ Thuỵ, Lương Khải Siêu lập ra sau khi dẹp phục bích của Trương Huân vào tháng 11/1917, đến ngày 12/8/1918, sau khi An Phúc quốc hội thiết lập, thì chấm dứt.


4 An phúc hệ : chỉ những người thuộc câu lạc bộ An Phúc của nhóm Từ Thụ Tranh, Vương Ấp Đường thuộc phe Đoàn Kỳ Thuỵ.


5 Đường sắt Trung Đông tức “ Trung Đông thiết lộ ” là tiếng gọi tắt của “ Trung Quốc đông Thanh thiết lộ ” do Nga Hoàng xây từ 1896-1903, trung tâm là Cáp Nhĩ Tân [Harbin, Hắc Long Giang], tây đến Mãn Châu Lý [Manzhouli, Nội Mông], nam đến cảng Đại Liên [Đalian, Liêu Ninh]. Sau cuộc chiến tranh Nga Nhật, đoạn phía nam từ Trường Xuân [Changchun, Cát Lâm] đến Đại Liên bị Nhật chiếm.


6 Sát Cáp Nhĩ : tên tỉnh được đặt ra từ năm 1928-1952, gồm phần đất phía đông Nội Mông và phía bắc Hà Bắc.


7 Xin xem bài “ Nga, Anh, Nhật mưu xâm lược [1911-1915]”


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss