Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Sau điều ước Nam Kinh [1842] liệt cường tiếp tục gây hấn và giành quyền lợi tại Trung Quốc

Sau điều ước Nam Kinh [1842] liệt cường tiếp tục gây hấn và giành quyền lợi tại Trung Quốc

Phần 1/3 : Các nước Tây phương tay nắm tay yêu sách



HỒ BẠCH THẢO


Sau điều ước Nam Kinh [1842]
liệt cường tiếp tục gây hấn và
giành quyền lợi tại Trung Quốc


Chương một

Các nước Tây phương tay nắm tay yêu sách


hamphong

Vua Hàm Phong [1831-1861]

Nguồn: 维基百科,自由的百科全书


1. Thái độ của vua Hàm Phong đối với ngoại quốc


Qua điều ước Nam Kinh [1842] nhường cho Anh 5 cảng khẩu buôn bán, người Anh cho cảng khẩu là thành thị, nên đòi hỏi vào thành. Tại Thượng Hải [Shanghai, Giang Tô], Ninh Ba [Ninhbo, Chiết Giang] không gặp khó khăn ; Phúc Châu [Fuzhow, Phúc Kiến], Hạ Môn [Xiamen, Phúc Kiến] có mâu thuẫn nhỏ ; riêng Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông] thì dân kiên cường cự tuyệt, dán biểu ngữ chống lại, doạ cướp 13 Dương hàng ; nên người Anh đành bỏ. Năm 1848 Tổng đốc và Tuần phủ tại Quảng Ðông bị đổi, chứng tỏ chính sách đối ngoại của nhà Thanh đã thay đổi. Công sứ Anh kiêm Tổng đốc Hương Cảng S.J. Bonham [Văn Hàn] bãi bàn định việc vào thành Quảng Châu [Guangzhou], thấy được đường lối cương ngạnh có hiệu quả. Năm 1850 vua Ðạo Quang mất, Hàm Phong 20 tuổi lên nối ngôi, ý khí sung mãn ; lúc này người Anh cũng chưa bỏ lập trường, muốn đến thẳng Bắc Kinh giao thiệp. Tháng 4, S.J. Bonham đến Thượng Hải gửi thư kháng nghị, cùng với văn thư chiếu hội của Ngoại trưởng H.J.T. Palmerton [Ba Mạch Tôn], và tuyên bố sẽ lên Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc]. Tổng đốc Lưỡng Giang sợ Bonham lên phía bắc, nên đành miễn cưỡng thu nhận.


Ngoài thư kháng nghị và chiếu hội, Bonham còn gửi văn thư cho Quân cơ đại thần Mục A Chương và Thượng thư bộ Lễ, Kỳ Anh. Trong chiếu hội, Ngoại trưởng H.J.T Palmerton chỉ trích Tổng đốc Lưỡng Quảng vô lễ, không xứng chức ; nước Anh sẽ cử một viên chức lớn đến Bắc Kinh bàn bạc. Kháng nghị của Bonham đề cập đến việc vào thành Quảng Châu, cùng việc dân Quảng Ðông chống đối người Anh. Hàm Phong sai thuộc hạ trả lời rằng việc vào thành trước kia đã bãi bàn nghị, nay không còn truy cứu thêm nữa ; còn việc đến kinh đô thì theo lệ bác bỏ, và bảo Bonham hãy trở về Quảng Ðông gấp. Ngày 30/5 đại biểu của Bonham đến cửa khẩu Thiên Tân, chờ đến 10 ngày, nhưng việc không thành.


Chuyến đi của S.J. Bonham thất bại, nội bộ Trung Quốc càng tăng thêm không khí chống Anh. Dụ vua lại ra lệnh nghiêm phòng duyên hải, mệnh Tổng đốc Lưỡng Quảng Từ Quảng Tấn, Tuần phủ Diệp Danh Sâm trong trường hợp người Anh yêu cầu không được đáp ứng, có thể chúng dùng binh thuyền quấy nhiễu, thì hãy tìm cách khống chế trước. Lúc này các nơi trong nước rầm rộ tố cáo Di họa, không thể dựa vào chính sách hòa hoãn, phòng chống Di là nhiệm vụ cấp bách. Cựu Tổng đốc Hồ Quảng Chu Thiên Tước trình bày số tiền mất vì nhập nha phiến còn quá tiền thuế gấp bội ; nơi cửa khẩu là hang ổ của dân gian manh. Từ Quảng Tấn cho rằng quân Anh bất quá vài ngàn tên, quyết không thể địch được dân trăm họ hàng ức vạn người ; lại còn vì lợi ích buôn bán, người Anh không thể khinh suất chiến đấu lâu, “ Nếu ta kiên cường ở thế không dao động, bọn chúng đưa hết mọi kỹ năng mà không làm gì được, thì chúng không thể không đổi ý. ” Vua Hàm Phong phê rằng “ Lời tâu chi tiết rất đúng.”


Lúc Hàm Phong mới lên ngôi, xuống chiếu cầu nhân tài và khuyến khích góp ý. Ðại học sĩ Phan Thế Ân xin triệu dùng Lâm Tắc Từ, Ngự sử cũng tâu người Anh kính sợ Lâm, nay nếu “ hiệp lực chuyên lo về Di…  thì bọn Di Anh sẽ tan rã ” . Rồi mệnh vua ban, triệu Lâm về kinh để dùng. Lâm từ năm 1845 được phóng thích từ Y Lê [Yili, Tân Cương] trở về, trước sau giữ chức Tổng đốc Thiểm Tây [Shaanxi] Cam Túc [Gansu] ; Tuần phủ Thiểm Tây, Tổng đốc Vân Quý. Năm 1849 bị bệnh xin về hưu, đến nay bệnh vẫn chưa giảm, nên chưa đi ngay được. Cuối cùng thì Lâm không xuất chính, nhưng qua việc này cũng thấy được khuynh hướng xã hội và thái độ của vua Hàm Phong đối với ngoại bang.


Cũng cần lưu ý thêm, hai Ðại thần nổi tiếng chủ hòa là Kỳ Anh và Mục A Chương, từng được Công sứ Anh, S.J. Bonham, đích thân gửi thư ; bị phái cứng rắn cho rằng có quan hệ riêng với người Anh. Riêng vua Hàm Phong đích thân phê phán hai người, Kỳ Anh “ ức hiếp dân, cung phụng Di ”, cả hai đều “ di hại quốc gia, xét tội như nhau ” ; rồi Mục Chương A bị cách chức, vĩnh viễn không dùng ; riêng Kỳ Anh bị giáng xuống hàm ngũ phẩm. Từ đó phái chủ trương chiêu phủ vỗ về Tây dương, tại các địa phương hoặc trong triều, đều bị thất thế.




2. Tham vọng của Anh, Mỹ, Pháp tăng trưởng



Sau khi điều ước Nam Kinh [1842] được ký kết, tranh chấp Trung, Anh gia tăng hơn trước, cảm tình giữa hai nước cũng bị xấu đi ; Trung Quốc cho rằng người Anh hiểm ác quá nhiều, người Anh lại đổ lỗi Trung Quốc cừu hận ngoại quốc, có hành động vi phạm điều ước. Không lâu sau khi 5 cửa khẩu mở thông thương, người Anh nãy sinh bất mãn với 4 điều quan trọng :


- Thứ nhất kim ngạch mậu dịch tuy gia tăng, nhưng số hàng công nghệ lúc bấy giờ người Anh sản xuất nhiều, cần xuất khẩu gấp thì thấp hơn sự ước tính. Họ nhận định rằng mậu dịch gia tăng tỷ lệ thuận với cửa khẩu mở ra ; bởi vậy nếu như số cửa khẩu tăng lên, việc buôn bán hoàn toàn khai phóng, thì kim ngach xuất khẩu sẽ gia tăng rất nhiều.


- Thứ hai về nha phiến, tuy được buôn bán tự do tại cửa khẩu, nhưng nhà Thanh không chịu đánh thuế ; hàm ý không cho việc buôn bán nghiện hút là hợp pháp, nên số lượng nhập khẩu tuy gia tăng, nhưng vẫn còn thấp hơn trong trường hợp chính thức công nhận hợp pháp.


- Thứ ba tuy bỏ việc cấm đạo Cơ đốc, nhưng chỉ được hành đạo tại 5 cửa khẩu, đối với việc truyền đạo còn gây trở ngại lớn, “ Cần chuẩn tự do đi vào nội địa và ưu đãi.”


- Thứ tư tuy gọi là giao thiệp bình đẳng giữa hai nước, nhưng hữu danh vô thực, Công sứ không thể giao thiệp trực tiếp với chính phủ trung ương tại Bắc Kinh. Hiện tại chỉ thông qua Khâm sai đại thần Di vụ tại Quảng Châu, lúc gặp việc tìm cách suy ủy, gửi chiếu hội thì trả lời chậm chạp, thậm chí muốn gặp trò chuyện thẳng cũng không dễ ; bất đắc dĩ phải lên Thượng Hải, Thiên Tân nhưng cũng không được vừa ý. Từ nay trở về sau Công sứ phải thường trú tại Bắc Kinh, cùng các Ðại thần tiếp xúc thường xuyên.


Lãnh sự nước Anh tại Thượng Hải, Rutherford Alcock [Ha Lễ Quốc], từng kiến nghị với chính phủ Luân Ðôn xin tìm cách khuyếch trương mậu dịch, cùng tự do tiến nhập nội địa Trung Quốc ; năm 1849 lại gửi thư cho Công sứ Anh tại Hương Cảng, S.J. Bonham [Văn Hàn], rằng chỉ cần một hạm đội nhỏ phong tỏa tại cửa Vận Hà [Yunhe] thì nhà Thanh sẽ khuất phục. S.J. Bonham từng lên phía bắc để kháng nghị nhưng vô hiệu, Ngoại trưởng Anh H.J.T. Palmerston cũng cho rằng trong tương lai gần, cần phải đánh Trung Quốc để cho họ cúi đầu. Năm 1851 đang chuẩn bị hành động, thì tại Trung Quốc nội loạn dấy lên ; nếu can thiệp vào thì nước này càng thêm hỗn loạn, không có lợi cho việc buôn bán ; nên đành đứng xem tình thế diễn biến, để quyết định tiến hay dừng. Vì vậy lúc này tình hình đối ngoại tương đối êm, nên vào tháng 12 Tuần phủ Diệp Danh Sâm được thăng hàm Thái tử thiếu bảo với thành tích “ Liệu biện giặc phỉ Anh, Đức được yên tĩnh ”. Năm 1853, S.J. Bonham đến Nam Kinh, thấy rằng thế lực Thái bình thiên quốc không thể coi thường, nhưng ngạo mạn thiếu hiểu biết, nếu thành công cũng không có lợi gì cho nước Anh ; cuối năm đó quân Thái bình bị tổn thất bởi lên đánh Bắc Kinh bị thất bại. Vào ngày 13/2/1854, Ngoại trưởng Anh Lord Clarendon [Khắc Lan Ðồn] ban huấn lệnh cho tân Công sứ tại Trung Quốc kiêm Tổng đốc Hương Cảng, John Bowring [Bao Lãnh], thực hành tu sửa điều ước với những điểm chính như sau :


1. Chuẩn cho người Anh tùy ý đi lại tại các thành trong nội địa và duyên hải Trung Quốc, nếu không thì có thể hàng hành dọc sông Trường giang cùng các thành ven theo duyên hải.


2. Xác định mậu dịch hợp pháp nha phiến.


3. Các hàng hóa xuất khẩu không được thu trước thuế, gọi là ly quyên, từ trong nội địa.


4. Chuẩn cho Sứ thần Anh thường trú tại Bắc Kinh ; nếu không thì Sứ thần được qua lại giao dịch với Ðại thần Trung Quốc.


5. Nếu Sứ giả Anh muốn gặp Tổng đốc, Tuần phủ tại địa phương, phải lập tức hội kiến.


6. Quét sạch giặc biển tại duyên hải.


7. Ðịnh biện pháp cho người Hoa ra nước ngoài.


8. Ðiều ước mới lập phải y theo sự giải thích bằng Anh văn.


Ngoại trưỏng Lord Clarendon hy vọng Pháp, Mỹ cùng hành động chung. Người Pháp muốn khuyếch trương hoạt động truyền giáo tại Trung Quốc và đề cao thanh thế của nước mình. Lúc bấy giờ Pháp đang liên hợp với Anh chống Nga về vấn đề Thổ Nhĩ Kỳ [Turkey], nên việc Pháp chi trì Anh không thành vấn đề.


Nước Mỹ mậu dịch tại Hoa gia tăng 4 lần, lại được dễ dàng trong việc buôn nha phiến và truyền giáo, nhưng vẫn chưa thỏa mãn dục vọng ; điều mà Anh, Pháp muốn, Mỹ cũng muốn như vậy. Thời Humphrey Marshall [Mã Sa Lợi] làm đại diện Mỹ, từng gặp Tổng đốc Lưỡng Giang Di Lương yêu cầu tu sửa Vọng Hạ điều ước, vì ký đã lâu [1844], nhưng triều đình Bắc Kinh vẫn kiên trì không chịu thay đổi. Sau đó bộ Ngoại giao Mỹ ra chỉ thị cho người kế nhiệm, Robert McLane [Mạch Liên], trong trường hợp Bắc Kinh từ chối tu sửa điều ước, thì quay sang giao thiệp thẳng với Thái bình thiên quốc. Tháng 3/1854 Robert McLane và John Bowring cùng đến Quảng Ðông. John Bowring từng giữ chức Công sứ Anh 4 năm, vốn chủ trương cứng rắn ; nhận thấy rằng trừ phi dùng vũ lực uy hiếp, Tổng đốc Lưỡng Quảng Diệp Danh Sâm 1 sẽ không chấp nhận người Anh tu sửa điều ước. Viên này đề nghị với McLane kết hợp hải quân hai nước uy hiếp Quảng Châu, nhưng viên đại diện Mỹ từ chối vì không muốn gây khó khăn cho triểu Thanh lúc này. Riêng Anh thì đang giao chiến với Nga, hải quân tại Viễn Đông không đủ sức để gây hấn. Rồi hai người xin đến gặp Diệp Danh Sâm, Tổng đốc Diệp biết rằng họ đến yêu cầu tu sửa điều ước, nên lấy cớ bận việc quân không gặp. Sau đó McLane lên Thượng Hải, rồi đến Nam Kinh tiếp xúc với lãnh tụ Thái bình thiên quốc, nhưng không được hài lòng ; bèn kiến nghị bộ Ngoại giao Mỹ tiếp tục ủng hộ triều đình Bắc Kinh.




3. Giao thiệp tu sửa điều ước



Ðại diện Mỹ Robert McLane đến Nam Kinh, Tổng đốc Lưỡng Giang Di Lương không an tâm, muốn gặp để tìm hiểu thái độ đối với quân Thái bình, cùng ngăn cản viên này đừng lên Thiên Tân. Tháng 6/1854 McLane hội đàm với Di Lương, trình bày rõ nước Mỹ hữu hảo với Trung Quốc, hy vọng có hòa ước mới, chấp thuận người Mỹ đến vùng sông Trường Giang buôn bán, tự do vào nội địa, tại tô giới thiết lập y viện, giáo đường ; nếu như không cho phép, sẽ giao thiệp với quân Thái Bình. Di Lương đáp rằng nguyên văn điều ước ghi “ có thể du di thay đổi một ít ”, như vậy bất quá tùy thời mà thích nghi trong phạm vi 5 cửa khẩu, chứ không thể thay đổi lớn như vậy. McLane vừa dụ dỗ vừa dọa “ Nếu như tâu chuẩn cho, thì đáng giúp triều đình Trung Hoa bình định phản trắc ; nếu không thì cho biết rõ, nước tôi sẽ có cách xử lý. ” Di Lương cho rằng lời nói không lấy gì làm bằng, lại sợ Anh, Pháp hùa theo cùng vào sông Trường Giang gây họa trong tương lai, nên yêu cầu McLane trở về Quảng Ðông chờ Tổng đốc Diệp Danh Sâm liệu biện. Tháng 7, Cát Nỉ Hàng A được trao chức Tuần phủ Giang Tô ; triều đình ban chiếu thư như sau “ Các cửa khẩu Trung Quốc, ngoại trừ 5 cửa [có ghi trong điều ước] thì từ trước tới nay thuyền Di không được vào ; mới đây bọn chúng vào Kim Lăng, Trấn Giang, ý chúng muốn gì ? Diệp Danh Sâm phải dùng lời ngăn cản các Di ”.


Sau khi McLane cùng Di Lương hội đàm không lâu, Công sứ Anh John Bowring [Bao Lãnh] đến, gừi chiếu hội cho Di Lương, yêu cầu chấp nhận vào thành Quảng Châu, cùng sửa đổi điều ước ; nhưng bị cự tuyệt. John Bowring bèn cùng với McLane hội kiến với Tuần phủ Giang Tô Cát Nỉ Hàng A xin sửa đổi điều ước, chuẩn cho ngoài 5 cửa khẩu còn có thể buôn bán tại các nơi khác. Cát Nỉ Hàng A nêu rằng trong hòa ước với Anh “ Không có lời hứa sau 12 năm sẽ có biến đổi, chỉ nói nếu đại Hoàng đế ban ơn cho các nước khác thì cũng xin được hưởng như vậy ; nay đại Hoàng đế chưa chuẩn cho nước nào buôn bán tại các xứ khác, thì sao lại sinh sự yêu cầu ? ”. McLane nêu lại những điều như đã đề cập với Tổng đốc Di Lương, nếu được thỏa mãn Mỹ sẽ cùng quân Thanh đánh dẹp Thái bình thiên quốc, giúp khai thông sông Trường Giang ; nếu không chấp nhận thì Mỹ sẽ tìm đường khác. Cát Nỉ Hàng A bác rằng trong điều ước với Mỹ tuy có đề cập đến sự biến thông, nhưng không có chữ nào nói về tăng thêm cửa khẩu, còn việc quân của Trung Quốc, Mỹ không được can dự ; cuối cùng yêu cầu cả hai người trở về Quảng Ðông. McLane nói trước rằng nếu như Diệp Danh Sâm tại Quảng Ðông không tiếp kiến, thì sẽ đi ngược lên Thiên Tân. Vì sự uy hiếp của McLane, Cát Nỉ Hàng A tâu về triều rằng người Mỹ định thông thương trên sông Trường Giang, thế khó có thể ngăn được, nên tùy cơ mà lập kế ; nếu đi đến chỗ quyết liệt thuyền Mỹ tự ý vào sông Trường Giang thì sẽ gây mối lo lớn. Vua Hàm Phong bảo Cát Nỉ chớ để người uy hiếp, lại riêng dụ Diệp Danh Sâm “ Giữ nguyên điều ước cũ, không chấp nhận yêu cầu tham vọng thay đổi sau 12 năm ”.


Vào tháng 8, McLane và Bowring trở về nam. McLane nhận được chỉ thị từ bộ Ngoại giao [United States Department of State] mệnh chi trì Anh quốc tu sửa điều ước ; hai người thay phiên gửi chiếu hội cho Diệp Danh Sâm, đề nghị gửi đại biểu đến đàm phán nhưng không thu được kết quả. Tháng 9 Bowring, McLane, cùng Sứ gỉả Pháp A. de Bourboulon [Bố Nỉ Bố Long] liên kết, cùng đi lên phía bắc, qua Thượng Hải gặp lại Cát Nỉ Hàng A một lần nữa. Bowring nói rằng quá khứ điều ước đã hết hiệu lực, Diệp Danh Sâm không chuẩn thay đổi, nên sẽ đến Bắc Kinh để đích thân trình bày. McLane và Bourboulong cũng phụ họa rằng, theo lệnh chính phủ mọi việc đều bàn bạc với Bowring để liệu biện ; trừ phi tu sửa điều ước, nếu không thì khó giữ nổi hòa bình. Cát Nỉ Hàng A biết rằng ba nước đã hợp lại làm một, xin phái Khâm sai đại thần thương thảo đàm phán, nhưng Bắc Kinh không chấp thuận. Tháng 10, ba nước gửi đại biểu lên Ðại Cô [Dagu, Thiên Tân] ngỏ lời muốn đến Bắc Kinh, nếu như không tiếp, sẽ đến Nam Kinh gặp Thái bình thiên quốc. Triều đình nhà Thanh phái quan Thị lang Diêm chính coi về muối tại Trường Lô là Sùng Luân, đến gặp ; bác việc xin vào kinh đô, đối với việc sửa điều ước thì cho là mê lầm. Ngoài ra đại diện Pháp nhờ chuyển về kinh lời yêu cầu thả Giáo sĩ truyền giáo tại tỉnh Thiểm Tây ; vua bác đi và phán rằng theo định lệ người ngoại quốc chỉ được trú tại 5 cửa khẩu, không chấp nhận vào nội địa, thì tại sao người Pháp có thể trú tại huyện Chu Chí [zhouzhi] tỉnh Thiểm Tây ? Bọn họ biết rằng không có cách gì thương lượng tiếp, lại nhân bắt đầu mùa đông không tiện nấn ná lâu, nên đành thất vọng bỏ đi. Lúc bấy giờ tại Thượng Hải có tên giặc cướp Lưỡng Quảng xây đê phòng thủ chống lại quan quân, Tuần phủ Giang Tô Cát Ni Hàng A bàn với viên Đề đốc Pháp Lạt Ách Nhĩ [辣厄爾] rằng giặc xây đê trước mặt Lãnh sự, nằm trên tuyến xung kích của quan quân, xin di dời Lãnh sự quán. Viên Đề đốc bèn cho phá đê và pháo kích quân giặc ; sự việc được tâu lên, bèn ban thưởng.


Rồi Bowring và McLan trở về nước báo cáo, với đề nghị dùng chính sách cứng rắn. Nước Anh đang chiến tranh với Nga, không muốn có thêm rắc rối tại viễn đông, mệnh Bowring giữ thái độ bình tĩnh. Phía chính phủ Mỹ không cho lời đề nghị của McLane dùng hải quân 3 nước phong tỏa cửa biển Trung Quốc là đúng. Chẳng bao lâu sau đó McLane bị bệnh từ chức, người kế vị là P. Parker [Bá Giá] kế tục nhiệm vụ chưa hoàn thành. P. Parker là Giáo sĩ Mỹ tại Trung Quốc 25 năm, kể từ thời Giáo Sĩ Caleb Cushing [Cố Thịnh] đến nay, ông chuyên phụ tá cho các Sứ giả. Chính phủ Mỹ cho rằng năm sau đến kỳ tu sửa điều ước, vào tháng 3/1855 chính thức cử Parker làm Chuyên sứ tại Hoa, mệnh cùng Anh, Pháp nhất trí hành động. Trước khi đến Trung Quốc, Parker ghé qua Luân Ðôn và Ba Lê để du thuyết. Parker không đồng quan điểm với Bowring, ông cho rằng việc đặt Sứ gỉả lưu trú tại Bắc Kinh, tất Trung Quốc không chấp nhận ; thì hãy đòi mở cửa sông Trường Giang trước. Tháng 5/1856, Sứ giả ba nước gửi chiếu hội cho Diệp Danh Sâm, nhưng không đáp ứng được những điều trọng yếu. Peter Paker chủ trương đến Bắc Kinh đòi hỏi, nhưng John Bowring cho rằng thiếu quân lính làm áp lực, thì sẽ không hữu hiệu. Tháng 7, Parker đi một mình lên phía bắc, qua Phúc Châu được Tổng Ðốc Phúc Kiến Chiết Giang bằng lòng tâu lên trên. Lúc bấy giờ đại doanh Giang Nam bị quân Thái bình chiếm, nên triều đình Bắc Kinh có vẻ khoan nhượng, đại khái đồng ý sẽ tu sửa điều ước một đôi phần ; nhưng mọi việc liệu biện tại Quảng Ðông. Parker tiếp tục đi lên Thượng Hải, Tổng đốc Lưỡng Giang [Liangjiang] Di Lương sợ y lên Thiên Tân, nên sai viên tiền nhiệm Ðạo viên Thượng Hải, Ngô Kiện Chương, đến thăm dò. Trước hết hỏi quân Thái bình hết sức hung dữ, làm sao có thể tiễu bình để khôi phục mậu dịch. Parker đáp nếu như chấp thuận cả nước mở cửa, được Anh, Mỹ, Pháp viện trợ thì sẽ bình định phản loạn ; nếu không thì tình hình diễn biến về sau khó có thể lường được, ba nước có thể quay sang giao thiệp với quân Thái Bình. Di Lương cho rằng việc thông thương quan hệ đến 3 nước Anh, Mỹ, Pháp ; nay đại biểu Anh, Pháp chưa đến, nên không tiện thương thuyết riêng với Parker. Triều đình Bắc Kinh cũng cho rằng việc buôn bán nước Anh đứng đầu, không thể nói chuyện với Mỹ trước, nên Parker lưu tại Thượng Hải hơn 3 tháng mà không thành công được việc gì. Rồi nhận thư của Bowring tỏ vẻ muốn hợp tác, Parker bèn xuống phía nam ; khi đến Hương Cảng thì được biết người Anh đang chuẩn bị đánh Trung Quốc.




4. Chiến tranh lần thứ hai tại Quảng Châu



Sau năm 1850, tại sông rạch vùng Quảng Châu, thuyền đĩnh của bọn cướp ngày một tăng lên. Năm 1854, Quảng Châu bị vây, trật tự hỗn loạn. Năm sau chính phủ Hương Cảng cho thuyền người Hoa trú tại nơi này, treo cờ Anh để được bảo hộ ; phần đông thuộc loại thuyền buôn thuốc phiện, giao thông với giặc phỉ, Á La là một trong những thuyền loại này.


Ngày 8/10/1856 thuyền Á La ghé tại Quảng Châu, 12 thủy thủ bị bắt ; Lãnh sự Anh Harry Parkes [Ba Hạ Lễ] yêu cầu phóng thích, bồi thường tổn thất. Tổng đốc Diệp Danh Sâm cho rằng trong bọn có 3 người đích xác là tội pham, kỳ dư có thể phóng thích, Harry Parkes không chịu.


Harry Parkes là một thanh niên hay gây rắc rối lắm chuyện, đã làm việc tại Trung Quốc 15 năm. Riêng Công sứ John Bowring [Bao Lãnh] bất bình với Tổng đốc Diệp Danh Sâm từ lâu, cũng vào tháng 7 năm đó gửi thư lên Ngoại trưởng Lord Clarendon [Khắc Lan Ðồn] nhấn mạnh cần quân hạm để cải thiện quan hệ Trung Anh ; rồi vào tháng 9, gửi thư báo cho Harry Parkes và Ðại sứ nước Pháp Jean de Courcy [Cố Tư] rằng hải quân Anh sẽ chi trì việc sửa đổi điều ước. Á La là sự kiện thích hợp để người Anh gây sức ép ; nên ngoài những điều Harry Parkes đòi hỏi, còn bắt nhà đương cục Trung Quốc xin lỗi, tôn trọng quốc kỳ Anh quốc, hứa không xẩy ra sự kiện tương tự ; hẹn trong 48 tiếng đồng hồ phải trả lời. Diệp Danh Sâm trả lời rằng Á La là thuyền của người Trung Quốc, không treo cờ Anh ; từ nay trở về sau quan binh Trung quốc quyết không vô cớ bắt người, người Anh cũng không được chứa chấp họ. John Bowring lại ra lệnh cho Harry Parkes kháng nghị, hẹn trong 24 giờ phải tuân theo mọi điều kiện, nếu không sẽ dùng vũ lực. Diệp Danh Sâm thả hết 12 tên thủy thủ, Harry Pakes [Ba Hạ Lễ] lấy cớ thủ tục không hợp, lại không xin lỗi, nên không chịu nhận.


Ðiều gán cho là quan quân Trung Quốc tự tiện lên thuyền nước Anh bắt người ; nhưng Á La có phải là thuyền nước Anh không ? Lúc quốc hội nước Anh tranh luận về việc này, có người nêu rằng việc nhà cầm quyền Hương Cảng bảo lãnh thuyền Trung Quốc, coi như là thuyền Anh, là việc bất hợp pháp. Trong báo cáo của John Bowring về Luân Ðôn, cũng xác nhận lúc thủy thủ bị bắt, thuyền Á La ngoài thời hạn bảo lãnh ; nhưng chính phủ Anh muốn mượn cớ để gây hấn, nên không từ bỏ.


Ngày 13/10, Ðề đốc hải quân Anh Michael Seymour [Tây Mã] bắt đầu hành động, trong 3 ngày liên tiếp chiếm các pháo đài tại Hổ Môn [Humenzhen, Quảng Ðông]. Ngày thứ nhất, Tổng đốc Diệp Danh Sâm không để ý, nói rằng đến chiều quân Anh sẽ rút, không dùng pháo đánh lại. Ngày thứ 2, sắc mặt không thay đổi, chỉ có cấp dưới lo liệu. Ngày thứ 3, lệnh chỉnh tề đoàn luyện, để làm mạnh thanh thế. Trong 27 ngày, quân Anh pháo kích dinh thự, Diệp “ vẫn ngồi ngay thẳng, sắc mặt không chút sợ sệt ”. Ngày thứ 29, quân Anh vào trong thành, nhưng quân không đủ nên không chiếm lãnh được, sau khi cướp bóc bèn rút lui. Công sứ John Bowring cho rằng đây là cơ hội tốt để bàn vào việc tiến vào thành, bèn bảo Michael Seymour chuyển lời cho Diệp Danh Sâm, nhưng Diệp không đáp ; đối với những lời của thân sĩ Quảng Châu hội đàm với Harry Parkes, cũng cương quyết không nghe. Tháng 11 quân Anh chiếm Hổ Môn, John Bowring đích thân giao thiệp, Diệp Danh Sâm cho rằng Michael Seymour đánh thành thất lễ, hai bên không còn gì để gặp nhau !


Binh lính tại Quảng Châu chống cự tương đối mãnh liệt, bất thình lình tập kích quân hạm Anh ; Xã học 2 treo giải thưởng giết quân Anh. Vào tháng 12, Di quán 3 và Dương hàng 4 bị hủy, lại đốt thuyền bưu chính của Anh di chuyển từ Quảng Châu đến Hương Cảng. Tháng 1/1857, quân Anh đốt mấy ngàn nóc nhà chung quanh Dương hàng ; người Hoa tại Hương Cảng rầm rộ bỏ đi, đoạn tuyệt việc buôn bán với người Anh, hạm đội của Michael Seymour bị Ðoàn luyện công kích không ngừng, phải rút ra khỏi sông. Triều đình Bắc Kinh ra lệnh cho Diệp Danh Sâm chế ngự, làm yên sự tranh chấp, nhưng không được nhượng bộ gây thiệt hại. Sau khi quân Anh rút, Diệp Danh Sâm tâu “ Thủy bộ hoạch thắng, tình trạng quân Di nghiêng ngả ”. Vua Hàm Phong không đánh giá cao việc này, nên ban chiếu chỉ như sau “ Khống chế bọn Di nước ngoài không thể so với việc làm trong nội địa ; việc trước kia tại Định Hải 5 phải lấy đó làm gương. Cần phải thao túng hợp cách, đừng để hối hận về sau, Trẫm không chế ngự từ xa. Hạ chiếu này cho Giang Tô, Trực Lệ, Chiết Giang, Phúc Kiến cùng hay biết ”. Lúc này loạn tại Ấn Ðộ nghiêm trọng, người Anh không thể tăng viện.




Hồ Bạch Thảo







1 Năm 1852 Tuần phủ Diệp Danh Sâm được thăng chức Tổng đốc.


2 Thăng bình xã học : một tổ chức của dân Quảng Ðông, thành lập năm 1842, yểm trợ cho đoàn luyện.


3 Di quán : chỗ ở dành cho thương gia ngoại quốc tại Quảng Châu.


4 Dương hàng : nơi người Tây phương bán hàng tại Quảng Châu.


5 Định Hải : chỉ việc thất thủ tại Định Hải [Dinghai, Chiết Giang] năm 1840.


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss