Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / TRẦN THÁI TÔNG, nhân ảnh trong Thiền học Việt Nam

TRẦN THÁI TÔNG, nhân ảnh trong Thiền học Việt Nam

Trong mấy năm gần đây, phần giới thiệu tư tưởng Việt nam qua các tác phẩm văn học và triết học đến với độc giả Ðức đã nằm trong chương trình tuyển tập văn học Việt Ðức do một số trí thức người Ðức và tôi đảm nhận. Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông là một trong các tác phẩm tiêu biểu trong lịch sử tư tưởng Việt nam đã được chọn dự tính chuyển dịch sang Ðức ngữ. Từ đó tôi đã liên lạc với Thầy Lê Mạnh Thát tại Học viện Vạn Hạnh để xin các tài liệu tham khảo. Tháng 4.2004 được Thầy tặng công trình biên khảo Trần Thái Tông toàn tập vừa xuất bản. Bài viết sau đây không phải là bài giới thiệu tác phẩm mà chỉ đề cập sơ khởi một thắc mắc từ lâu khi tìm hiểu lịch sử hành trạng của tác giả Khoá Hư Lục...


TRẦN THÁI TÔNG,
nhân ảnh trong Thiền học Việt nam


Thái Kim Lan



Trong ba vị vua xuất chúng của nhà Trần, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, Trần Cảnh (Thái Tông) là nhân vật vừa hào hùng vừa bi thảm, vừa trí tuệ phóng khoáng tột cùng và hình như cũng đã mê lầm trong những bó buộc hút sâu, vừa vinh quang oanh liệt trong danh vọng mà cũng vừa khốn khổ đoạ đày trong tâm khảm, vừa là vua thống trị thần dân nhưng lại coi ngai vàng như “chiếc dép rách”. Tiền bạc lụa là châu báu đầy kho mà tâm hồn thì rỗng không tĩnh lặng.Vinh quang và khổ nạn như là một mâu thuẫn, một thảm kịch trần ai của nhân vật lịch sử này, kẻ – được vợ trao lại ngôi vàng lúc 8 tuổi – không những đã sáng lập nhà Trần mà còn bảo vệ và xây dựng một Ðại Việt hùng cường, một nền văn minh và văn hoá độc sáng và thiện hảo cho dân tộc Việt như sử sách đã ghi lại.

So với Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, những nhân vật đã sáng tạo nên “tinh thần Thiền Việt nam” …vừa là “Chiến sĩ, Nghệ sĩ, Ðạo sĩ, ba con người làm một đã kết tinh một cách hiển nhiên rõ rệt vào ba đời vua nhà Trần một cách miên tục nhất quán, đời ông, đời cha, đời con: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông” như Nguyễn Ðăng Thục nhận xét1, Trần Thái Tông đã là nhân vật lịch sử kỳ lạ có sức thu hút làm cho người đi sau trăn trở chính do những dữ kiện bi tráng trong cuộc đời và sự nghiệp của ông: cùng với sự nghiệp đất nước ông đã xây dựng một nền đạo đức học Phật giáo cho thế hệ đi sau, không phải với tư cách một nhà độc tài quân phiệt phong kiến mà với tư cách của một người “cùng đinh” trong nghĩa vô ngã của đạo Phật, để kẻ kế thừa ông có thể khẳng định đất nước Ðại Việt “muôn nghiệp an nhàn thể tính” và “tự tại thân tâm”, như Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo đã nói rõ tương quan giữa đạo và đời, giữa Thăng Long lầu vàng điện ngọc và Yên Tử yến thốt oanh ngâm:

Mình ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm
Tham ái nguồn dừng
Chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý
Thị phi tiếng lặng
Ðược đầu nghe yến thốt oanh ngâm.

(Trần Nhân Tông, Cư trần lạc đạo2)


Trong 3 vị vua đầu nhà Trần, Trần Nhân Tông đã dễ dàng hơn trong tư thế “chiến sĩ, nghệ sĩ, đạo sĩ” sáng ngời trong lịch sử trên mọi phương diện “Nhân Trí Dũng” mà Nguyễn Ðăng Thục cho là nét độc đáo của văn minh Việt nam từ khi dựng nước, ông có thể lập ngôn đạo đức vững chải, tự chủ và thong dong “tham ái nguồn dừng…” Lịch sử và đời sau chỉ biết ngưỡng mộ và kính yêu mà không một lời phê phán tiêu cực.

Trần Thái Tông thì không như thế. “ Thị phi” trong lịch sử không lặng lẽ, dù không ồn ào. Bản án bội tình và loạn dâm, dù bất đắc dĩ – nhưng cũng đã xảy ra – vẫn còn treo trên giá sử.3

Trần Thái Tông đã dựa vào cơ sở đạo đức Phật giáo như thế nào để có thể đứng vững trong xã hội Ðại Việt thời ấy, với tư cách là một vị lãnh đạo quốc gia lỗi lạc, một Thiền sư uyên áo? Tà hạnh của Trần Cảnh có nên bị kết án như các nhà Viết sử đời sau quan niệm ? Giữa Trần Thái Tông “tà hạnh” và Trần Thái Tông “khoan nhân đức độ” có một liên hệ nhân quả nào trong lời phê phán của các sử gia4. Trả lời những câu hỏi trên có thể cho cho ta hiểu được sự liên hệ giữa quan điểm đạo đức học Phật giáo với tình tự dân tộc thế kỷ 13 (trong đó có truyền thống yêu nước, yêu quê cha đất tổ) và chủ trương của nhà Trần đã lấy Phật giáo làm nền tảng đạo đức và cơ sở tư tưởng trong công cuộc xây dựng đất nước.

1. Phê phán lịch sử : bội tình và loạn dâm


1.1. Sử gia

Trong Ðại Việt sử ký tục biên, Phan Phu Tiên đã bình luận và Ngô Sĩ Liên đã trích lại trong Đại Việt sử kí toàn thư, 5 tờ 10b5-11a2 : “ Tam cương ngũ thường là luân lý lớn của con người. Thái Tông là vua mở nghiệp, đáng ra phải dựng phép để dạy đời sau, thế mà nghe mưu bậy của Thủ Ðộ, cướp vợ anh làm hoàng hậu, chẳng hoá ra bỏ hết luân thường, để mở mối dâm loạn ư ? Liễu từ đấy sinh ra hiềm khích, mới dám làm loạn, ấy là do Thái Tông nuôi nên tội ác cho Liễu vậy. Có người bảo Thái Tông không giết anh là Nhân. Ngu tôi cho rằng cướp vợ anh, tội ác đã rõ, không giết anh là vì lẽ trời chưa mất, sao được gọi là Nhân ? Thường thấy Trần Dụ Tông dâm loạn, bỉ ổi chưa từng có, há chẳng do Thái Tông mở ra sao ? ”.

Ðồng quan điểm với Phan Phu Tiên, trong ĐVSKTT 5 tờ 11a3-5, Ngô Sĩ Liên đã bình luận tiếp : “ Thái Tông mạo lấy con anh mình làm con mình. Về sau, Dụ Tông Hiếu Từ đều lấy Nhật Lễ làm con của Cung Túc, đến nỗi cơ nghiệp nhà Trần xuýt nữa sụp đổ. Nguyên do há không phải từ đó sao ? ”.

Hơn hai thế kỷ sau, Ngô Thời Sĩ (1726-1780) viết Việt sử tiêu án 2 tờ 6b cũng đưa ra một lời bình tương tự : “ Vua Thái Tông làm hại nhân luân, vì đã mở mối dâm loạn. Về sau, dâm án từng xảy ra, chồng chất. Dạy con cháu bằng hạnh cường bạo của hán Quảng, đưa quốc dân theo tục dâm bôn của Trịnh Vệ. Thái Tôn dâm loạn với bà Thuận Thiên, Phụ Trần cũng ở bậy với Chiêu Thánh, cướp vợ anh thì người cũng cướp vợ mình, tuy nói tự mình đem cho thì cũng là trời đất mênh mông có chỗ tối tăm lòng dạ, khiến làm việc càng bậy. Khéo thay !

Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời Sĩ5 đứng trên quan điểm Khổng giáo trong khi đánh giá sự kiện lịch sử đời Trần. Từ quan điểm Nho giáo lấy tam cương ngũ thường để suy xét hành vi của Trần Cảnh, lấy luân thường đạo lý như những nguyên tắc bất di bất dịch để đánh giá hậu quả của một hành vi như một trách nhiệm tuyệt đối. Luận công và tội của họ có phần hạn hẹp và cưỡng ép, bởi lẽ những dữ kiện lịch sử và văn hoá trong toàn thể sự nghiệp của Trần Cảnh chưa được cân nhắc nhiều mặt, nhất là về mặt tư tưởng văn học và tôn giáo. Những phê phán của họ cho thấy rõ rệt thái độ thái độ bài xích hay khinh thị Phật giáo của sĩ phu theo Nho học từ thế kỷ thứ 15. Phan Phu Tiên cho rằng việc Trần Cảnh tha tội phản loạn và ngăn cản không cho Trần Thủ Ðộ giết anh là Trần Liễu không thể bảo là NHÂN mà do “lẽ trời chưa mất6. Bởi thế án dâm loạn vẫn còn. Chữ NHÂN của Phan Phu Tiên sử dụng trong trường hợp này quá hẹp và khái niệm “lẽ trời” lại quá mông lung để có thể chấp nhận nhận định này không phải là vu vơ.

Ngô Sĩ Liên và Ngô Thời Sĩ quy trách nhiệm cho Trần Cảnh về những hành động loạn luân của những vị vua cuối đời Trần, có nghĩa là gần 200 năm sau, cơ nghiệp nhà Trần suy vi. Họ đã quên cả một thời đại huy hoàng oanh liệt của nhà Trần qua sự khai sáng cơ nghiệp về văn trị cũng như võ công của Trần Thái Tông và tự mâu thuẫn khi ghi “vua khoan nhân đại lượng, có lượng đế vương”. Hơn nữa nếu đã suy diễn nhân quả “Thái Tông làm hại nhân luân, đã mở mối dâm loạn ” thì khả năng suy diễn chính nhờ phương sách ấy mà nhà Trần đã đưa Ðại Việt đến giai đoạn phồn thịnh nhất trong lịch sử Việt nam, đã giữ vững giang sơn độc lập và đã đào tạo những vị vua đạo đức anh minh kế tiếp có một không hai trong lịch sử Việt nam, đã đập tan quân Mông cổ, củng cố hoà bình và phồn thịnh cho nhân dân Việt Nam. Lý luận này có cơ sở lịch sử vững chắc và thuyết phục hơn lý thuyết về hậu quả 200 năm sau của nhà Trần mà Ngô Sĩ Liên và Ngô Thời Sĩ đưa ra ở trên.

Bởi thế vấn đề “tà hạnh” hay đạo đức của Trần Thái Tông nên nhìn từ một góc độ tìm hiểu khác. Trước tiên từ góc độ của người trong cuộc :

1.2. Người trong cuộc :

Trần Cảnh là người phản đối đầu tiên, phản đối dữ dội và quyết liệt biện pháp của Trần Thủ Ðộ. Ðược Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi năm 8 tuổi, sống với nhau gần 10 năm, mối tình của hai người đã được Chân Ngyên Thiền sư chép lại khá tường tận7, bỗng nhiên bị áp đặt phải lấy vợ của anh, Trần Cảnh tuyệt vọng bỏ ngai vàng trốn lên Yên Tử như chính nhà vua tường thuật trong Thiền tông chỉ nam :

Ðêm mùng ba tháng tư năm Bính Thân, niên hiệu Thiên Ưng Chính Bình thứ năm, trẫm cải dạng ra khỏi cửa cung… Giờ Mão hôm sau, đến bến đò núi Phả Lại, sông Ðại Than. Sợ có người biết, trẫm lấy áo che mặt qua sông, tắt đường núi mà đi. Ðến tối vào nghỉ ở chùa Giác hạnh, đợi sáng lại đi. Lặn lội, vất vả, núi hiểm, suối sâu, ngựa mỏi không tiến lên được nữa, trẫm liền bỏ ngựa, vin vách đá mà lần bước. Giờ Mùi mới đến núi Yên Tử. Sáng hôm sau lên thẳng đỉnh núi, vào yết kiến Quốc sư là Ðại sa môn phái Trúc Lâm, Quốc sư vừa thấy trẫm thì mừng rở, rồi ung dung bảo rằng :

“Lão tăng lâu ở núi hoang, xương gầy mặt võ, ăn rau đắng, nếm hạt dẻ, chơi cảnh rừng, uống nước suối, lòng như mây nổi, theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, tìm sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu điều gì mà đến chốn này?”

Trẫm nghe sư nói, rơi hai hàng nước mắt, đáp lại rằng : “Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ tựa nương. Lại nghĩ sự nghiệp đế vương thuở trước, hưng phế bất thường, cho nên tìm đến núi này để cầu làm Phật, chứ không cầu gì khác”

Sư nói : “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài.”

…“Trẫm thấy Thái sư cùng các cố lão khăng khăng không chịu bỏ trẫm, liền đem lời nói ấy bày tỏ với Quốc sư. Quốc sư cầm tay trẫm nói : “Phàm làm bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được! Duy có việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng chút xao lãng mà thôi”.

Vì thế trẫm cùng mọi người về kinh, miễn cưỡng lên ngôi. Trong khoảng hơn chục năm, mỗi khi được rảnh việc, trẫm lại hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo thiền. Ðến các kinh điển của đại giáo thì không kinh nào không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim Cương, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, vừa gấp sách lại ngâm nga, bỗng nhiên tỉnh ngộ, liền đem những điều giác ngộ được làm bài ca này, đặt tên là Thiền tông chỉ nam. Năm ấy Quốc sư từ núi Yên tử về Kinh, trẫm cho ở chùa Thắng Nghiêm để trông coi việc khắc in kinh sách. Nhân đó, trẫm viết ra bài ca, đưa cho Quốc sư xem. Mới đọc qua một lần, sư đã mấy phen tán thưởng, nói: Tấm lòng chư Phật ở cả trong bài ca này, sao không khắc in thành kinh bản để chỉ dẫn cho kẻ hậu học?

Trẫm nghe lời này, sai thợ viết chữ chân phương, ra lệnh khắc bản in. Chẳng những để chỉ đường mê cho hậu thế, mà còn tiếp nối công lớn các bận Thánh nhân đời trước. Vì thế tự làm lời tựa này.”8

Tuy viện lý do vì mất mẹ mất cha, nhưng việc bỏ lên Yên Tử rõ ràng có nguyên nhân từ biện pháp bỏ Chiêu Hoàng lấy Thuận Thiên để có con nối dõi. “Ðối với một người hạnh tốt biết đạo mà phải làm việc không hợp đạo lý này, nhà vua rất đau đớn” như Hoà thượng Thanh Từ nhận xét.


2. Biện minh :


Lê Mạnh Thát trong cuốn Trần Thái Tông toàn tập, tác phẩm lịch sử sưu tập đầy đủ nhất về Trần Thái Tông từ trước đến nay, đã đưa ra một biện minh với “một cái nhìn luân thường mới” mà tác giả gọi là “đạo đức cách mạng” để bác bỏ những hài tội của Phan Phu Tiên và Ngô Thời Sĩ:

Ngày nay, chúng ta có thuận lợi để nhìn về sự kiện này. Chúng ta không phủ nhận việc dùng luân thường đạo lý mà bất cứ xã hội loài người nào cũng phải có để đánh giá các hành vi xã hội của một con người. Tuy nhiên, trong trường hợp này, yêu cầu bảo vệ quyền lợi tập thể mà ở đây là quyền lợi của một quốc gia, một dân tộc, đòi hỏi phải có một cái nhìn luân thường mới, mà từ hiện đại thường dùng là đạo đức cách mạng. Tại sao ? Bình thường. giết người phải đền mạng. Một người đi giết người khác tất phải bị lên án, thậm chí bị tử hình. Song nếu vị quyền lợi của một cộng đồng, của một dân tộc, thì việc giết được một người đôi khi còn được ca ngợi là anh hùng khí phách…

Cho nên đặt biện pháp quyết liệt của Trần Thủ Ðộ trong bối cảnh quốc tế bấy giờ của đất nước ta và thế giới, ta mới hiểu lý do vì sao. Bản thân vua Trần Thái Tông không phải là không biết biện pháp này là sai lầm. Em không thể lấy vợ của anh ruột mình đang còn sống. Chính do nhìn sự kiện như thế, nên vua Trần Thái Tông đã nửa đêm bỏ ngai vàng tìm lên Yên Tử. Sự ra đi này biểu lộ một thái độ cương quyết không chấp nhận biện pháp ấy về mặt cá nhân. Nhà vua cũng cảm thấy bị bức xúc, không muốn làm một việc mà bất cứ một người Ðại Việt bình thường nào thời đó đều không muốn làm. Hơn nữa nếu xét về tư cách một người Phật tử, biện pháp vừa nói càng không nên thực hiện…

Vì vậy bảo rằng vua Trần Thái Tông đã “mở mối dâm loạn” mà những người như Phan Phu Tiên và Ngô Thì Sĩ đã nói tới. Thật sự tỏ ra họ đã không thông cảm nổi với chính những bức xúc của vua Trần Thái Tông, xét về mặt cá nhân và tư cách Phật tử.. Ðây là điểm thứ nhất, mà họ không thấy, như chính lời bàn của họ đã biểu lộ.” 9

Ðiểm thứ hai chính là vấn đề tại sao vua Trần Thái Tông đã làm một việc mà bản thân vua không thích và cảm thấy hết sức bức xúc vì nó ?10 chính là bối cảnh chính trị, quân sự của Ðại Việt nói riêng và tình hình thế giới thời bấy giờ. Nội trị cần có sự ổn định trật tự trong buổi giao thời chuyển tiếp từ Lý sang Trần, củng cố thế đứng vững chắc cũng như quyền lực cai trị của nhà Trần, mà Trần Thủ Ðộ là quân sư. Ngoại giao đang nằm trong sự khủng hoảng đe doạ của thế lực quân Mông Cổ, “tình hình quốc tế thời bấy giờ đang có những biến động lớn…”. Ðế quốc Mông cổ đã thôn tính nhà Kim (1234) và chuẩn bị tấn công Nam Tống (1236), nguy cơ thôn tính Ðại Việt chỉ còn là câu hỏi nay mai.

Việc chính thống hoá sự lên ngôi của nhà Trần “nhằm ổn định nhân tâm. Đoàn kết người dân lại thành một khối vững chắc”. Yêu cầu chính thống hoá phải có một người con của họ Trần do chính Lý Chiêu Hoàng sinh ra.11

Theo Lê Mạnh Thát “biện pháp quyết liệt” của Trần Thủ Ðộ “trước mắt là nhằm chính thống hoá sự lên ngôi vua, nhưng đồng thời để chuẩn bị dư luận nhằm đoàn kết toàn dân cho một cuộc chiến sắp tới đối với quân Nguyên-Mông… thể hiện một phần chiến lược an ninh quốc phòng của Ðại Việt thời bấy giờ. Chính vì nó thể hiện chiến lược an ninh quốc phòng này mà khi vua Trần Thái Tông bị buộc phải chấp nhận, dù bản thân hoàn toàn không muốn. Bài tựa do chính nhà vua viết để lại thì do nghe lời của Phù Vân quốc sư về việc lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình mà nhà vua đã gạt bỏ những suy tính cá nhân, chấp nhận việc trở lại kinh đô Thăng Long để thực hiện trọng trách lãnh đạo quốc gia…”12

Từ những lý luận trên Lê Mạnh Thát cho rằng : “Ðây là điểm mà Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sỹ đã không thấy. Cho nên, họ loanh quanh lẩn quẩn trong vòng đạo lý luân thường của những người dân bình thường mà không biết đặt vua trong góc độ của một nhà lãnh đạo đất nước, đặc biệt trong tình huống đất nước, đặc biệt đất nước đang có nguy cơ chiến tranh với một kẻ thù” hung hãn… “Biện pháp đó không phải là “tà mưu” như Phan Phu Tiên đã đánh giá. Ngược lại, nó là một mưu lược sáng suốt nhằm ổn định tình hình chính trị đất nước lúc bấy giờ và tạo điều kiện để tiến hành một số biện pháp khác nhằm tăng cường tiềm lực dân tộc...”13 (LMT. TTTTT, đã dẫn, tr. 53).


3.


Trong cuốn Khoá Hư Lục giảng giải, Hoà Thượng Thích Thanh Từ đã giới thiệu tác giả của Khoa Hư Lục, nhân vật Trần Thái Tông, từ biến cố năm Bính Thân (1236) như sau :

  • Thái Tông là ông vua chăm học, trong bài tựa Kinh Kim Cương tam muội ông viết : “Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được bao lăm. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, Trẫm cố học hành thêm. Chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm, cho nên ban đêm đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách; học sách Nho rồi còn học kinh Phật”. Thái Tông là ông vua cần mẫn hiếu học, không buông mình theo dục lạc.”

  • Thái Tông lại là ông vua anh hùng”, đã đích thân cùng với quân sĩ tham gia trận đánh quân Mông cổ năm 1257. “Ðây là ông vua vừa đạo đức vừa anh hùng, làm rạng rỡ những trang sử oai hùng của dân tộc Việt nam14

  • Trần Thái Tông “là người lãnh đạo đất nước, đồng thời là một ông vua Thiền sư

Về vấn nạn “án dâm loạn”, Hoà Thượng giảng:

Về đời Trần, các nhà nghiên cứu sử có những phê bình khác nhau, vì đứng từng góc độ khác nhau. Trên góc độ Khổng giáo, các vua đời Trần có lỗi là trong thân tộc cưới gả lẫn nhau, làm mất đi tinh thần luân lý đạo đức. Nhưng nếu nhìn qua góc độ Phật giáo Thiền Tông thì các ngài ở địa vị vua mà có thể tu hành đạt đạo, rất xứng đáng để chúng ta học hỏi.” (sách đã dẫn, tr. 19)

Về biện pháp của Trần Thủ Ðộ bắt Trần Cảnh bỏ Lý Chiêu Hoàng, Hoà thượng giảng :

Ðây là hành động mà các sử gia Nho học phê phán rất nhiều. Theo sử năm vua Trần Thái Tông được hai mươi tuổi, bà Lý Chiêu Hoàng mới mười chín tuổi bị giáng xuống làm Công chúa, lại đem chị bà là vợ Trần Liễu làm Hoàng Hậu, do đó có rối loạn trong nội bộ. Ðoạn sử này dẫn đến bài học hôm nay : Tựa Thiền tông Chỉ Nam” (sách đã dẫn, tr. 21)

Khác với Lê Mạnh Thát, theo lời giảng trên, án loạn luân của Trần Cảnh do Phan Phu Tiên và các nhà sử gia Nho học đề ra không được bàn luận mà chỉ được ghi lại như là dữ kiện lịch sử, nếu có tương quan chăng thì chỉ là một tưong quan ngoại tại : đoạn sử chỉ là một duyên tình cờ dẫn đến bài học về Thiền của tác giả Khoá Hư Lục, đã được giảng giải tường tận cho những Thiền sinh hậu học để biết yếu chỉ của phái Thiền Trúc Lâm, đối tượng chính của KHLGG.

Như thế Trần Cảnh bội tình, Trần Cảnh vua anh hùng, Trần Cảnh Thiền sư là những mảnh gương không có những liên hệ mật thiết đến một nhân vật lịch sử đã xây dựng cả một nền văn hoá Ðại Việt thế kỳ thứ 13.


4. Những thắc mắc hầu như chưa được giải đáp thoả đáng :


  1. Lời giảng quý báu của Hoà Thượng Thanh Từ đã không có chủ ý biện minh cho Trần Thái Tông, ngược lại sự vi phạm luân thường hầu như được xác nhận tuy HT đã giới hạn “trên góc độ Khổng giáo”, nhưng không triển khai trên góc độ của Phật giáo “án” này sẽ được giải thích là có “tội” hay không. Theo lời giảng trên góc độ Phật giáo thì Trần Thái Tông xuất hiện như một Thiền sư mà chúng ta cần nghiên cứu, học hỏi, độc lập với “nghi án” lịch sử đã nêu dẫn.

  2. Lê Mạnh Thát đã nhận xét rất đúng khi phê bình 3 vị sử gia đã không thấy “trường hợp Trần Thái Tông” trong khi đánh giá hành động đạo đức của Trần Cảnh mà không đánh giá trên góc độ của một nhà lãnh đạo đất nước (đã dẫn). Nhưng những luận cứ đưa ra lấy từ khái niệm “luân thường mới” hay “đạo đức cách mạng” thay vào “vòng đạo lý của người dân bình thường” dù có tính thuyết phục, vẫn chưa là điều kiện cần và đủ để biện minh cho hành động (dù ban đầu bị cưỡng ép) bội tình và loạn luân của Trần Cảnh. Bởi lẽ từ quan điểm đạo đức, một đạo lý bình dân vẫn có quyền đòi hỏi tuyệt đối kẻ hành động đạo đức (hay được đánh giá là đạo đức) trước hết phải “thuần tuý đạo lý” mà không có một lời “xin lỗi”, dù lời xin lỗi ấy khởi từ một “đạo lý cách mạng” cao cả, “vì sự an ninh quốc gia, dân tộc”. Ðiều kiện đạo đức không thể đứng vững hoàn toàn trên chủ nghĩa yêu nước và tình tự dân tộc như là chủ nghĩa của đại đa số hay của quyền lực trong chừng mực nếu con người nằm trong lòng “dân tộc ấy” trở thành những cọng rơm hèn mọn, không đáng được nhắc đến quá hai lần như trường hợp của Lý Chiêu Hoàng. Từ khái niệm dân tộc như là một tập thể bình dân với đạo lý bình dân, đạo đức cách mạng dựa trên chủ nghĩa yêu nước (dân tộc) và chủ nghĩa quốc gia (Nationalismus) có thể biến thành một loại đạo đức cho một lớp người “siêu nhân“ với “ý chí đạt quyền lực” (Wille zur Macht) của Nietzsche, mà hậu quả là sự độc tài của một Tần Thuỷ Hoàng hay một Hitler hay của những đảng phái chuyên chế với những hệ luỵ đi ngược lại với mục đích của con người trong tập thể hay trong đất nước ấy.

Chắc chắn Trần Cảnh đã có một ý thức dân tộc rất cao khi ông chấp nhận trở về dấn thân hay trói mình vào trong hoàn cảnh éo le mà chính ông đã phản đối và ước muốn giải thoát. Từ phản ứng bộc phát, ngay thẳng của ông không chấp nhận đề nghị của Trần Thủ Ðộ, một phản ứng đạo đức bình thường theo luân lý bình thường, ta có thể suy luận rằng chính Trần Cảnh đã không – nếu không nói là chưa bao giờ – xem “đạo đức cách mạng” (biện pháp Trần Thủ Ðộ) là nền tảng của hành động đạo đức của ông. Trong viễn tượng thúc đẩy của sự đòi hỏi đạo đức chân thực, – qua hành động nửa đêm bỏ ngai vàng lội suối trèo non lánh xa nơi ô trọc tội lỗi – đối với với Trần Cảnh quan điểm “đạo đức cách mạng” chỉ có thể là một giải pháp thứ yếu, khả dĩ chứ không phải là cơ sở xây dựng đạo đức thật sự cho con người hành động đạo đức.

  1. Mặt khác, từ góc độ Khổng giáo mà những sử gia đại diện đã đánh giá hành vi của Trần Thái Tông, như Lê Mạnh Thát nhận xét, ngoài hai điều “KHÔNG THẤY” đã đưa ra ở trên, còn có ba điều “KHÔNG THẤY” ở các vị này: họ đã không thấy giá trị tư tưởng văn học và đạo đức của Trần Thái Tông, không chú trọng đến khía cạnh tôn giáo, – mà đó chính là Phật giáo – đã hun đúc con người Trần Thái Tông cũng như yếu tố hoàn cảnh xã hội, văn hoá tập tục của thế kỷ 13, và từ đó không thấy được chữ NHÂN hay tính nhân bản trong tiến trình hành đạo của Trần Thái Tông, trong nghĩa trước tiên “hành đạo làm người Việt nam” ở cương vị của một nhà lãnh đạo đất nước.

  2. Chính do quan niệm về chữ NHÂN như yếu tố cơ bản của đạo đức tu thân và phương sách an dân (trong phần tới sẽ được triển khai) năng động, bao quát và do đó khác hẳn với cái nhìn thủ cựu và hạn hẹp về một chữ “NHÂN” có tính phán quyết (quid juris) thiện ác bất di bất dịch bao hàm tính cách khai trừ (discriminer) của cái nhìn Nho gia mà Trần Cảnh – mặc dù trong quốc sách trị dân đã nhận định rõ vai trò của “tiên thánh” Khổng gia – đã chọn đạo Phật làm nền tảng đạo đức và tâm linh cho hành trạng của chính mình và cho thời đại của ông. Chính từ góc độ giác ngộ cá nhân này chứ không từ một lý thuyết nào khác mà thái độ đạo đức của ông có thể được xác minh.

  3. Ðến đây cần nêu rõ tương quan giữa Trần Cảnh và đạo Phật ở một điểm nhạy cảm trên phương diện chính trị : Trần Cảnh tìm đến đạo Phật không phải như một phương tiện để củng cố thế lực chính trị của ông, như những đế quốc phương Tây trong tương quan với nhà thờ Cơ đốc giáo. Ông không đến Yên Tử với tư cách của một vị vua mà là của một người đang từ khước ngôi vua, của một hiện thân cùng khổ và đau đớn nhất, của một người đang rơi vào vực thẳm và đạo Phật đã là chiếc bè đưa ông trở lại trần gian để làm một con người mới.


5. “Phật trong lòng” và “Phật trong thiên hạ”


Quốc sư Phù Vân đã đưa cho Trần Cảnh chiếc bè với cẩm nang “bồ tát” trở lại thế gian : “trong núi không có Phật, Phật ở trong lòng”, “phàm làm bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được…”.

Trong tương quan giữa Trần Cảnh và quốc sư Phù Vân có lẽ có một câu hỏi chưa có lần được đặt ra cho quốc sư Phù Vân – và ở góc độ Khổng giáo của Phan Phu Tiên sẽ là một lời lên án vai trò của người đại diện Phật giáo – Tại sao quốc sư không tìm cách ngăn cản việc làm trái đạo lý của Trần Cảnh và để cho Trần cảnh đi tu ? Khuyên Trần Cảnh trở về để vướng luỵ một nghiệp chướng như thế có phải là quốc sư ủng hộ hành động vô đạo lý ?

Có thể có 4 cách trả lời và từ đó xác định quan điểm đạo đức của quốc sư Phù Vân:

* Vì sợ áp lực Trần Thủ Ðộ và quan quân ? – Nếu thế quốc sư Phù Vân sẽ không đáng mặt quốc sư cho Trần Cảnh và người đời kính trọng, hay nói cách khác, đây là một góc độ chủ nghĩa thực dụng trong hành động hay lý của kẻ mạnh, khó có thể được đánh giá là đạo đức hoàn toàn.
Khả năng này không đứng vững, bởi vì quốc sư là kẻ thoát vòng tục luỵ, đã nổi tiếng là “Phù Vân“ “lòng như mây nổi, theo gió đến đây” chẳng có thế lực nào có thể hăm doạ được.

* Vì đặt vận mệnh quốc gia dân tộc trên đạo đức cá nhân Trần Cảnh ? – Giả thiết này tương đương với quan điểm về “đạo đức cách mạng” của Lê Mạnh Thát. Như trên đã phân tích, yếu tố “đại sự dân tộc” sẽ không là yếu tố quyết định, nếu yếu tố “đạo đức cá nhân” của Trần Cảnh không dược xác minh.
* Vì tất cả mọi tầng lớp dân chúng đều công nhận Trần Cảnh, có nghĩa là “thiên hạ” đã chấp nhận giải pháp Trần Thủ Ðộ ? Nhưng thiên hạ đời sau lại có thể buộc tội Trần Cảnh như các sử gia đã làm. Hơn nữa chính những người trong cuộc (Trần Cảnh, Trần Liễu) đều phản đối và Trần Liễu đang nổi loạn.

* Những yếu tố này có thể cần nhưng chưa hoàn toàn đủ tạo nên lý do chính đáng làm cho quốc sư Phù Vân khuyên Trần Cảnh trở về Thăng Long. Lý do chính nằm ở điểm nhà sư đã THẤY được một điều mà các sử gia Phan Phu Tiên, Ngô Thì Sĩ và Ngô Sĩ Liên đã KHÔNG THẤY ở cá nhân Trần Cảnh : tự trong bản chất, Trần Cảnh là con người đạo đức (Phật trong tâm). Chính giọt nước mắt của Trần Cảnh đã cho nhà sư biết rằng nhân vật đứng trước mặt mình trước hết là kẻ có căn cơ đạo đức đồng thời lại có đủ trí tuệ để vượt khỏi khổ nạn đang chờ ông. Chính phản kháng bột khởi hay lòng bất nhẫn – như Mạnh Tử đã nhận xét ở thái độ “tha con trâu không giết vì nó đang sợ hãi” của Tề Tuyên Vương “đủ để làm vua trị thiên hạ” mặc dù sau đó một con dê khác được thay thế vào – là yếu tố quyết định. Tha con trâu đang sợ hãi nhưng luật giết thú vật bôi chuông vẫn giữ, Mạnh Tử15 đã đi xa hơn Phan Phu Tiên lẫn Ngô Thì Sĩ và Ngô Sĩ Liên trong quan niệm đạo đức khi bảo Tề Tuyên Vương có khả năng trị dân theo nhân nghĩa căn cứ vào cảm xúc đạo đức tự nhiên của vị vua này. Lòng bất nhẫn là khởi điểm của cơ sở đạo đức nhân bản, từ cơ sở ấy những quy luật hay tập quán của một xã hội có thể được điều tiết để phù hợp với con người trong những điều kiện mới. Trần Cảnh phản đối biện pháp bỏ Lý Chiêu Hoàng để lấy vợ của anh để có người nối ngôi, nhưng cuối cùng phải chấp nhận vì “thiên hạ” muốn Trần Cảnh trở về trong hoàn cảnh ấy.

Phù Vân đã thấy “Phật trong lòng” của Trần Cảnh chính trong tương quan nói trên. Truyền thống Thiền học công án thường cho thấy, ngay trong giờ phút “trao đổi”, gặp gỡ, đối diện, trực quan, thiền sư có thể “chẩn” bệnh người đối thoại, “nhập mật” vào những uẩn khúc của bản tánh người đến thỉnh cầu xin học. Phù Vân là một Thiền sư không xa lạ với Trần Cảnh, được Trần Cảnh quý trọng, ắt không phải là bậc tầm thường. Chính thái độ phản kháng quyết liệt và trung thực cũng như tâm trạng dày vò của Trần Cảnh cho nhà sư NHÌN THẤY được nhân vật đứng trước mặt mình là con người dù ngồi trong lửa đỏ vẫn là một đoá sen.

Trần Cảnh chứ không ai khác, không Trần Thủ Ðộ, Trần Liễu hay một nhân vật nào khác của thời ấy có thể gánh vác giang sơn Ðại Việt theo đúng con đường nhân nghĩa của Phật giáo : “lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình”, đem hết tài năng xả thân phục vụ đại sự cao cả mà lòng từ bi thì mở rộng đến vô cùng vô lượng.

Bởi thế nhà sư đã ân cần dặn dò: “Duy có việc nghiên cứu nội điển, xin bệ hạ đừng chút xao lãng mà thôi”.

Ðúng như sự mong đợi, hay có thể quá sự mong đợi của Phù Vân, lần trở về lại ngôi, Trần Thái Tông đã có sẵn một phương thức đạo đức làm nên lịch sử, ông đã viết lịch sử của một Trần Thái Tông anh hùng đại lượng trên phương diện đời và một Thiền sư độc sáng trên phương diện đạo. Ông còn vượt xa Tề Tuyên Vương trong khả năng lãnh đạo, trị nước, an dân và mở một kỳ nguyên mới cho văn minh Ðại Việt. Là chiến sĩ16, nghệ sĩ hay thiền sư, Trần Thái Tông trong thế tính tột cùng lại vẫn là một người thấm đượm tình người, cảm nhận tường tận sự yếu đuối mê lầm của con người trong sự chiêm nghiệm tâm linh của sám hối, từ đó tác phẩm đạo đức học đầu tiên của Việt nam được ra đời : Khoá Hư Lục với Lục thời sám hối khoa nghi.

6. Nhân nghĩa và sáng tạo chuyển nghiệp:

6. 1. Chữ Nhân của Phan Phu Tiên

Như trên đã đề cập, sử gia Phan Phu Tiên khi luận về nhân nghĩa, đã cho rằng hành động Trần Cảnh tha tội chết cho anh là Trần Liễu phản loạn không phải là NHÂN, bởi vì Trần Cảnh đã lấy vợ của anh là một điều loạn luân. Phan Phu Tiên quan niệm một chữ NHÂN hầu như đã bị đóng khung của Khổng giáo, ở đó mọi sai lầm thiếu đạo đức đều khó hay không thể sửa đổi, một chữ NHÂN đã bị trói chặt hai chân không cho con người cử động và tiến bước trong quá trình sửa đổi, cải thiện. Bình luận của Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ thiển cận theo góc độ hủ nho. Chính những người đại diện Khổng học này đã làm nghèo nàn chữ NHÂN ngay trong lý thuyết Khổng giáo. Chữ NHÂN được viết trong ngôn từ Hán học theo hai lối, một chữ NHÂN đứng trên hai chân và cách thứ hai chữ NHÂN được chiết tự ra NHÂN và NHỊ , trong nghĩa tôi và tha nhân, nhân quần nhân loại. Ðạo đức Phật giáo mà Trần Nhân Tông thể hiện theo quan điểm của Phù Vân bao gồm cả hai khía cạnh của chữ NHÂN : ta và thiên hạ trong thể nhất quán đồng đẳng và – đây chính là nét đặc biệt của đạo đức Phật giáo – trong viễn tượng khả thể chuyển nghiệp để thành NHÂN với nghĩa gấp đôi như một cơ hội tốt nhất để thành Phật theo lời dạy của Ðức Phật.

Khuyên Trần Cảnh trở về ngôi vua vì Phù Vân biết rõ Trần Cảnh sẽ không sử dụng thế lực của mình để làm việc bất nhân. Hành động ngăn cản Trần Thủ Ðộ không cho giết anh và bảo vệ anh nên được xem là dấu hiệu “thành nhân” của Trần Cảnh, dấu hiệu đức độ đang hình thành của đoá sen trong biển lửa ân oán nghiệp chướng trầm luân. Nếu biết nhìn xa hơn Phan Phu Tiên sẽ nhận định như Trần Anh Tông về người khai sáng nhà Trần :

Ðường - Việt khai cơ lưỡng Thái Tông
Ðường xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong
Kiến Thành trụ tử, An Sinh tại
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.

(Nhà Ðường bên Tàu với Việt nam đều có hai vua Thái Tông
Bên vua Ðường hiệu Trinh Quán, vua Việt ta hiệu Nguyên Phong
Ðường Thái Tông giết anh là Kiến Thành vì làm phản
Trần Thái Tông có anh là An Sinh làm phản mà không bị giết
Tuy miếu hiệu thì giống nhau mà đức độ thì khác nhau)17

Một người hay một nhóm người có thế lực trong tay rất dễ trở thành bất nhân ác đức do tham vọng độc tài bá chủ, vua Ðường Thái Tông giết anh phản loạn để trừ hậu hoạn cho thế lực của mình, vua Trần Thái Tông không giết anh, che chở cho anh, ôm anh mà khóc, có thể xem như một hành động thương yêu và sám hối. Cho nên không thể không làm sáng tỏ sự khác biệt đức độ của hai nguyên thủ áp dụng hai quan điểm đạo đức khác nhau.

Có thể nói hành trạng của Trần Cảnh trong suốt thời gian trở lại ngôi vua là hành trạng của một “kỳ tâm” đã từng bước chứng ngộ sức mạnh “trở thành” của ba chữ “vô sở trụ”, linh hoạt trong ý nghĩa đạo đức không ngừng chuyển nghiệp.

6. 2. Sáng tạo trong chuyển nghiệp như là một hành động đạo đức:

Những sử liệu mới nhất trong Trần Thái Tông Toàn Tập của Lê Mạnh Thát về các tác phẩm thiền học của Trần Thái Tông, đã cho ta có thể đi đến một kết luận gần đúng về hành trạng đạo đức của Trần Thái Tông qua các tác phẩm về lý thuyết Phật giáo của ông. Khác với phương thức Ngô Thì Sĩ áp dụng khi chia sự nghiệp chính trị văn học của Trần Thái Tông làm hai thời kỳ: thời kỳ cai trị nhập thế và thời kỳ xuất thế rút lui hưởng nhàn và trước thuật tôn giáo, một mô hình kiểu mẫu theo nhân sinh quan Khổng học :

Thái Tông những năm đầu tà hạnh, đều do Thủ Ðộ dẫn dắt. Những năm sau lưu ý học vấn, tấn tới rất sâu, lại thêm nghiên cứu nội điển, viết ra Khoá hư lục, mến chuộng cảnh núi rừng, coi sinh tử như nhau. Tuy ý gần trống vắng, nhưng chí lại nhằm chỗ rộng xa. Cho nên bỏ ngôi báu như cỡi chiếc dép rách18. Ngoài sự hiểu biết rất mù mờ về triết lý đạo Phật của Trần Thái Tông trong lời bàn, lối phân chia này đóng khung hai giai đoạn cuộc đời cũng như con người Trần Cảnh riêng biệt cứng nhắc hầu như không liên hệ với nhau. Sưu khảo của Lê Mạnh Thát cho ta thấy hoạt động chính trị văn học tôn giáo của Trần Thái Tông nhuần nhuyễn hội nhập trong một ý thức nhất quán của con người Trần Thái Tông. Những tác phẩm tôn giáo và đạo đức học chính yếu nhất của Trần Thái Tông đã được biên soạn và thực hành trong khoảng thời gian gần sau cơn khủng hoảng chạy trốn lên Yên Tử.19

Bởi vậy Trẫm với mọi người trong triều mới trở về kinh, miễn cuỡng mà lên lại ngôi báu. Ròng rã trong mười năm trời, mỗi khi có cơ hội việc nước nhàn rỗi Trẫm lại tụ họp các bậc kỳ đức để hỏi đạo Thiền…”

Khoá Hư Lục là quyển sưu tập các bài viết của Trần Thái Tông, trong đó Lục thời sám hối khoa nghi được giữ nguyên vẹn, theo những tài liệu kết hợp, đã được vua tự tay biên soạn trong khoảng thời gian vua trị vì và trước khi nhường ngôi cho con. Ðiều đó cho ta thấy Trần Thái Tông đã dụng tâm nghiên cứu và có thể nói đã thực hành cho mình nghi thức sám hối trong khoảng thời gian mười năm sau khi trở lại trị vì (1238-1248), rất gần với thời điểm khủng hoảng ân tình của Trần Thái Tông và Lý Chiêu Hoàng. Tuy nhiên dù niên đại không được chỉ rõ năm tháng, dù Trần Thái Tông đã trước tác trong thời gian cai trị hay sau khi nhường ngôi, nghi lễ sám hối của vị vua đã thâm nhập giáo lý nhà Phật này không phải là giáo lý suông, viết cho người khác, mà đã được viết qua thực chứng của chính con người Trần Cảnh20

Khoá Hư Lục thoạt tiên đã dành một bất ngờ khi từng trang được giở ra là một lời sám hối, chưa có một trứ tác nào của một vị vua nói về sám hối tường tận như Lục Thời sám hối khoa nghi. Tuy nghi lễ sám hối thuộc về nghi lễ thường thức trong đạo Phật, có sẵn trong kinh sách thời trước nhưng Trần Thái Tông đã tự tay biên soạn theo sự hiểu biết của ông, chứng tỏ “sám hối” đối với Trần Thái Tông không những về lý thuyết mà còn là một chìa khoá tu thân đặc biệt. Lục Thời sám hối khoa nghi theo Trần Thái Tông đã được ông chứng thực cho mình và cho người “tự lợi” và “lợi tha”. Trong muôn nghìn công việc đại sự đất nước, Trần Thái Tông đã dành thì giờ để thực hành sám hối, “ghi nhớ trong lòng, thương cảm ngổn ngang”. Chính lời tựa cho thấy tác giả không phải là nhà giảng đạo như Huệ Năng trong Pháp bảo Ðàn kinh giảng về sám hối, mà là một ngưòi trong cuộc, đã trải qua những “nghiệp chướng” của đời người.

Trẫm nhờ trời trên yêu mến hưởng ngôi chí tôn. Việc dân vất vả, việc nước bộn bề. Ngoài thì phồn hoa cám dỗ, trong thì thị dục xé vò. Miệng chán mùi ngon, mình đầy vàng ngọc. Mắt tai tôi tớ sắc thanh, ăn ở yên lành đài tạ. Lại nữa, thói đời khinh bạc, nhân pháp suy vi, kẻ học bướng mù, gốc lành yếu mỏng. Ngày thì bụi căn va chạm, lưỡi nghiệp kéo lôi, tối thì màn ngủ lấp che, dây lười trói buộc. Ngày đêm theo duyên, đâu chẳng là lỗi gây hoạ chuốc hiểm. Trẫm lấy điều đó ghi nhớ trong lòng, thương cảm ngổn ngang, quên ăn mất ngủ. Nhân lúc việc triều đình rảnh rỗi, xem hết kinh luân và các nghi văn, biên soạn “phép lợi mình lợi người” để chỉ bảo chúng sinh. Sau đó lại nghĩ rằng: phàm nghiệp chướng tích tụ đều do sáu căn tạo thành. Do thế Thích Ca Văn Phật khi chưa thành đạo trước vào tuyết sơn khổ hạnh sáu năm, cũng là vì sáu căn đó. Vậy trẫm phỏng theo ý ấy, chia sáu căn thành sáu thời, mỗi thời – sám hối một căn, Trẫm tự tay viết ra lời lễ sám, gọi là Lục thời lễ Phật sám hối khoa nghi.21

Trong thời gian “miễn cưỡng lên ngôi báu”, vị vua khai sáng nhà Trần đã làm một việc khác thường mà không một vị vua hay một người bình thường nào trên thế gian có thể nghĩ tới. Bình thường một kẻ lên đến đỉnh cao của quyền lực, giàu sang thường dễ quên hoặc tìm cách che giấu quá khứ nghèo hèn, khổ nhọc hay tội lỗi của họ để củng cố quyền lực, thoả mãn tham vọng giàu sang phú quý, đày đoạ hạ thần, ganh tị với từng người dân, vơ vét của cải của dân càng nhiều càng tốt, Trần Thái Tông tuy miệng dư thừa thức ngon vật lạ “mình đầy vàng ngọc” nhưng lại thực hiện hàng ngày chuyên cần cho mình (“tự lợi”) sáu thời sám hối “nghiệp chướng“ do sáu căn gây ra để tự giới mình trong bước chuyển nghiệp. Phải là người đã đau khổ cùng tột “đến quên ăn mất ngủ”, “thương cảm ngổn ngang”, hối hận dày vò trong một hoàn cảnh oan trái mới tìm đến “sám hối” để chuộc lỗi lầm. Chính đạo Phật đã cho Trần Thái Tông cơ hội và phương tiện chuộc lỗi đối với chính “tâm ngổn ngang” của mình, với những người thân của mình và với cả với thiên hạ thời ông.

HT Thích Thanh Từ cũng đã cho rằng : “Có lẽ ngài cảm thấy mình tội lỗi nên trằn trọc tìm cách giải những tội lỗi trước kia. Ngài tìm được khoa nghi Sám Hối này, Ngài tự tu, Ngài sám hối, đó là tự lợi, để người sau bắt chước tu theo đó là lợi tha. Như vậy Ngài biết mình không trong sạch nên phải sám hối rồi chỉ dạy cho người biết sám hối như Ngài.22

Hành động này không phải là một hành động tôn giáo huyền bí mà là một hành động tự giác sâu xa về tác nghiệp. Tác giả Lục thời sám hối khoa nghi đã tìm thấy trong các kinh điển diệu dụng của sám hối : “Cho nên kinh Ðại Tập nói : như áo dơ hàng trăm năm, có thể trong một ngày giặt được sạch sẽ. Như thế trong trăm ngàn kiếp đã tích tập các nghiệp chẳng lành, do nhờ lực Phật, khéo thuận tư duy, có thể trong một ngày hay một giờ, trọn hay tiêu diệt23

Lực Phật ấy nằm trong lòng người. Thể nghiệm từ bản thân, giọt nước mắt phản đối phi nhân nghĩa, trái luân thường của Trần Thái Tông là giọt nước mắt trong sáng, có nguồn suối từ “tánh giác thanh tịnh” tròn sáng như hư vô, nhưng một khi chấp nhận dấn thân trong cõi luân hồi đầy vọng tưởng, từ hành động bản thân, hoàn cảnh xã hội, đất nước, gia tộc, phong tục, “vọng tưởng chợt dấy cõi uế hiện thành…”. “Biết huyển cấu của chúng sinh từ vọng mà sanh, khuyên họ một niệm kính thành qui y sám hối. Khiến thân tâm an tịnh trong sạch như xưa. Gió yên thì sóng lặng, bụi sạch thì gương sáng. Sao thế? Vì trước khởi tâm ác, như mây che mặt trăng, sau sanh tâm thiện, như đuốc sáng tan bóng tối. Ôi! Công dụng sám hối lớn như vậy sao?”.24

Sám hối có ý nghĩa rộng lớn bởi lẽ động tác sám hối bao gồm cả ba lãnh vực Giới-Ðịnh-Tuệ. Khởi từ chánh kiến thấy rõ liên hệ nhân quả của lục căn lục trần (Tuệ) trên cơ sở thể nghiệm hội nhập tâm linh (Ðịnh) đến chuyển nghiệp qua hành động đạo đức (Giới) xuyên suốt quá khứ hiện tại và vị lai, sám hối đưa con người thâm nhập ý nghĩa giới hạn của hiện sinh hay ý nghĩa thể tính (ontologische Bedeutung) về thân phận con người trong “giới hạn và trở thành”, từ đó nảy sinh ra ý niệm “nhẫn”, hay “bao dung” hết cả đời người. Xét cho cùng hiện sinh mỗi người trước tiên là một sự chịu đựng đối với người khác trong giới hạn lục căn của nó, nên sám hối là sám lỗi trước và hối cải lỗi sau theo Huệ Năng25 tạo điều kiện sanh tâm thiện để trở thành Phật.

Ý nghĩa cùa sám hối theo nguyên ngữ đã được Lê Mạnh Thát giải thích rõ :

“Sám là phiên âm của chữ Phạn ksama, nghĩa đen là chịu đựng, tức muốn yêu cầu người mình xúc phạm đến chịu đựng những xúc phạm do mình gây ra và xin tha thứ cho những xúc phạm ấy. Còn hối là mình tự nhận thức những xúc phạm đó và tự bản thân kiên quyết thay đổi hành vi để chúng không bao giờ xảy ra nữa. Sám hối như vậy là một hành động tự giác của mỗi cá nhân trong cuộc sống xã hội, xem xét chính mình có một vi phạm gì làm tổn thương đến người khác và môi trường xung quanh.26

Từ trong ý nghĩa rộng lớn như vậy con người bày tỏ chí tâm của mình:

Chí tâm sám hối
Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay
Bỏ mất bản tâm không theo chánh đạo
Rơi ba đường khổ bởi sáu căn lầm
Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.”

(Trần Thái Tông, Khoá Hư Lục, Lục thời sám hối khoa nghi)


Nghi thức sám hối được thực hiện cho mỗi giác quan của con người trong mỗi ngày “Do thế nghi thức sám hối đã chia ra làm sáu thời điểm trong khoảng một ngày ấy, từ buổi sớm (sơ nhật) hôm trước cho đến tảng sáng (hậu dạ) hôm sau.”

Ðây là nghi thức mà Trần Thái Tông đã đề ra theo cảm nghĩ tâm linh của ông thay vào nghi thức đã có sẵn. Nghi thức này cho mỗi thời và mỗi căn đều tuần tự theo 3 phạm trù cơ bản : Ðịnh-Giới-Tuệ : trước hết phải lắng tâm chú tâm đi vào chiều sâu của ý thức và chiều rộng của Phật lực (Ðịnh) : lễ dâng hương, đọc bài kệ dâng hương và hoa, phát nguyện, tiếp đó dùng trí tuệ chánh kiến để xét điều kiện nhân quả của căn : tâu bạch, sám hối tội căn, xét nghiệp của căn (Tuệ) tiếp theo là khởi ý chí đạo đức, chí tâm khuyết thỉnh, chí tâm tuỳ hỉ, chí tâm hồi hướng, chí tâm phát nguyện (Giới), cuối cùng khởi ý thức hội nhập bằng một bài kệ vô thường cho từng thời nghi : đọc kệ vô thường theo thời nghi.

Chùa Phổ Minh hẳn được làm ra để cho nhà vua thực hiện nghi thức sám hối này. Thực tế thì ngay cả trước khi thoái vị, Thánh đăng ngữ lục tờ 8a1-9a4 đã ghi nhận là ở bên cạnh cung mình ở Thăng Long, nhà vua “cho mở chùa Tư Phúc làm nơi đốt hương tu hành, lại đối với thiền giáo, thỉnh mời các bậc cao toạ trú trì để tiện tham thỉnh, hàng ngày trai tăng 500 vị hơn và độ làm đệ tử hơn 30 người.” 27

Ta có thể tưởng tượng một cách có căn cứ, chính tiếng chuông sáu thời sám hối này của Trần Cảnh, đã có thể thoa dịu nỗi đau của những người trong cuộc với ông : Lý Chiêu Hoàng, Trần Liễu, Thuận Thiên và cảm hoá luôn cả Trần Thủ Ðộ và tất cả quần thần dưới quyền của ông. Từ trong gia tộc đến thần dân, Trần Thái Tông đã chứng tỏ khoan dung và đại lượng 28. Sám hối là phương thức trong sạch hoá tâm tham ái mê mờ, chuộc lỗi thành tâm nhất theo vị vua đảm lược đầy tự giác này.

Có thể nói trong khi Trần Cảnh sám hối tự tánh, ông đã tự “an tâm“ cho mình và cho người thân, từ đó an được “tấm lòng thiên hạ”. Từng giờ từng ngày mật niệm tâm linh về đạo đức chuyển nghiệp trong cuộc đời làm vua, ông đã thực hiện và phát triển được chữ NHÂN trong nghĩa gấp đôi : Thành Nhân để thể hiện Phật tính cho chúng sinh, cũng có nghĩa “lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình

Trong khi Trần Cảnh tìm thấy trong đạo Phật nền tảng đạo đức cho chính bản thân, ông đã khám phá đặc tính khoan dung của nền đạo đức này bao gồm cho tất cả chúng sinh, đồng đẳng, không phục vụ cho một giai cấp con người trên phương diện ác nghiệp, không phân biệt và khai trừ trong tương quan thiện ác mà đứng trên thiện ác với ý niệm chuyển hoá nghiệp ác sang nghiệp lành. Trong ý nghĩa đó, sáng tạo đạo đức có cơ sở tự chứng trong sám hối.

6. 3. Sáng tạo bằng “lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ”:

Ðọc các lời tựa còn truyền lại của Trần Thái Tông từ Thiền nam chỉ tông cho đến Lục thời sám hối khoa nghi, Kim Cương tam muội, văn phong của ông cho thấy ông không phải một thiền sư thoát tục ngồi trên núi cao dạy đạo hay một nhà Phật học lý thuyết suông, mà là văn phong của một người trong cuộc, của một người thao thức khổ tâm, của một kẻ đi tìm chân lý giác ngộ, khác hẳn với văn phong trong các tác phẩm Thiền học về sau. Vẫn giữ phong độ của một đấng quân vương nhưng không làm dáng khoe khoang, ngược lại là tâm sự trung thực của một kẻ rơi nước mắt lân cảm29, tuy chẳng thấy một lời biện minh hay xin lỗi với ai, nhưng bàng bạc một lời sám hối với tất cả mọi người, trong cuộc cũng như ngoài cuộc, với cả thế gian, xin thế gian chịu đựng con người – con người nói chung mà cũng là con người Trần Cảnh – để cho con người ấy tạo cơ hội thành Phật.

Sự chiêm nghiệm về sáu căn, ngũ giới, bốn núi, về sắc thân từ kinh nghiệm của chính bản thân, đưa đến sự lý ngộ điều kiện giới hạn của hiện sinh con người nằm trong lục căn lục trần,

từ đó thấy được thể tính của hiện sinh là vô thường, năm uẩn đều không, tổng quát hơn, thấy rõ tính Không của các pháp là nền tảng của Từ Bi, cơ sở thể tính (ontologique) của đạo đức học Phật giáo.

Trẫm tự tay viết ra lời lễ sám” sau khi đã chiêm nghiệm được yếu tính của sáu căn và được thuyết phục qua thực chứng tuyệt hảo của Phật Thích Ca.

Ðạo đức học Phật giáo của Trần Thái Tông là thực nghiệm sáng tạo của chính ông, một sáng tạo “lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ”, như lời của Trần Thủ Ðộ khi khuyên nhà vua trờ lại Thăng Long : “Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao ? Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy thân ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ?30.

Không phải chỉ một mình Trần Cảnh, sĩ phu thời sơ Trần đã chịu ảnh hưởng Phật gíáo truyền thừa từ đời Lý, quan điểm nhập thế của Trần Thủ Ðộ nói lên một khía cạnh năng động của Thiền học thời bấy giờ. Tư tưởng đạo đức của Trần Cảnh đã gây sinh khí dấn thân, đoàn kết xả thân cho đại nghĩa, phóng khoáng cho nên độ lượng và từ bi rộng đến chúng sinh, bao gồm cá nhân, gia đình và xã hội, tạo nên những anh hùng dân tộc như Trần Hưng Ðạo, Phạm Ngũ Lão, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung thượng sĩ, Trần Quang Khải, những người thấm nhuần giáo lý Thiền tông, và đã thể hiện giáo lý ấy trong văn nghiệp cũng như võ công.

Khai đạo và đặt nền tảng cho một nếp sống đạo đức Phật giáo Việt nam đã là công nghiệp dẫn đầu của vua Trần Thái Tông.

Trong hơn 40 năm chuyên cần cho đời và đạo, lấy đạo và đức để dẫn dắt thiên hạ, “sĩ thứ trong nước ai nấy đều phục tùng, đến đứa trẻ lên bảy cũng biết vua là cha mẹ dân”, bình định đất nước phía nam, chỉnh đốn văn học và giáo dục, phát huy kinh tế phồn thịnh cho dân, đồng cam cọng khổ với quân dân chống giặc Nguyên miền bắc, thế hệ Nguyên Phong đã thể hiện tâm thức dấn thân Phật giáo, đã tạo nên một thời đại vàng son nhất của dân tộc Việt nam với những kẻ kế thừa lừng lẫy : Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông đã noi gương Nguyên Phong vừa là chiến sĩ anh hùng, là những Thiền sư chân chính và những nhà văn học nhân bản.

Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong

(Trần Nhân Tông, thơ Xuân nhật yết Chiêu Lăng 31)

Nhắc đến Nguyên Phong của những kẻ bạc đầu đã vào sinh ra tử với Nguyên Phong, là nhắc về chiến công oanh liệt, về văn trị sáng ngời, về một con người mang Phật trong lòng đến cho con người Việt nam, không những bằng những bước chân rong ruổi khắp sơn khê đất Việt mà còn bằng một ngôn ngữ thi ca sáng tạo “tâm ngữ tâm” hoà nhập tâm cảnh và tâm thức Việt nam thành một bàn sắc nhầt thể, trong đó nơi mỗi nắng sớm, trăng khuya, chuông chiều, heo may, mưa bão, hoa đất tâm, hương rừng thiền, con người chợt nhận ra khoảnh khắc “ta gặp ta”

thân như băng gặp nắng
mạng tợ đuốc gió lùa
chớ mãi mê làm khách
quay về sớm chiếu soi32

Thi ca sáng tạo của hơn 70 bài vừa nguyện, tụng, kệ, bạch trùng trùng ngôn ngữ sáng ngời trí tuệ, nhưng người viết lại biết “dừng” không lượt là gấm hoa, nơi hạnh “giới ngữ”:

Văn thì rườm rà, nói thì lời xa xôi. Nếu văn rườm rà thì người lười sám hối, lời xa xôi thì dễ sanh nghi. Cho nên không dùng lời phù phiếm dồn cho đầy quyển, cốt khiến người đọc tụng vui vẻ, người nghe thấy dễ ngộ. Mới mong những kẻ có lòng tin, ngày đêm phát tâm chí thành, theo khoa nghi này làm lễ sám hối. Ðây là chẳng phụ chí nguyện tự lợi lợi tha của trẫm.

Người sáng mắt thời sau, chớ xem nghi văn này mà phát cười. Tuy nhiên như thế :

Không nhân ngõ tía hoa cười sớm,
Ðâu có hoàng oanh đậu liễu xanh.” 33

Người đời sau ta hãy cười, xin được cười nụ cười Ca Diếp, về một đoá sen đã nở trên “đất tâm” 34.

Ðất tâm mở ra, hoa nở rộn
Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm
Cành hoa đoá đoá dâng cúng Phật,
Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.

Giãi bày thay lời kết :


Bài này được viết trong tâm trạng của một kẻ đi tìm… nhân dạng của một cố nhân xa cách mấy mươi năm, một cố nhân lịch sử trong một buổi học lịch sử Việt Nam của một cô nữ sinh Ðồng Khánh 16 tuổi. Khi học đến đoạn Trần Cảnh bị Trần Thủ Ðộ buộc bỏ vợ Lý Chiêu Hoàng lấy vợ của anh là Trần Liễu đang mang thai, để có con nối nghiệp, cô học trò tức giận thương cảm đến chảy nước mắt.

Tìm lại một Trần Cảnh của thế kỳ 13 để trả lời cho giọt nước mắt đòi chung tình, đòi đoan chính, đòi tình đời phải trong như chén nước không vẩn bụi nhơ, đòi trái tim phải đập một mình cho nhân ái ân nghĩa, cũng như tìm trăng đáy nước, hoa trong gương, cũng như muốn… đập cổ kính ra tìm lấy bóng, chỉ có mảnh vỡ của gương. Cái bóng nào của lý luận là thật? Dữ kiện lịch sử nào là đáng tin ? Lối viết nào là đáng ngờ ? Tương quan nào là khách quan ? Góc độ nào là rộng lượng ? Ðường tìm về vẫn còn hun hút trong lối mòn lịch sử…

May chăng rốt cùng nhặt nhạnh được một hai điều khả dĩ đáp lại giọt nước mắt kia : đó là giọt nước mắt chân thành của Trần Cảnh nhỏ trên Yên Tử như âm vang tâm cảm, tuy hai mà một của sự khát khao nhân nghĩa đòi một nét tuyệt đối trong cuộc đời nhiều lừa lọc ngang trái, vô thường, tương đối. Cộng thêm một linh cảm nhỏ nhoi : viễn tượng sám hối là vệt sáng trên đường luân hồi cho thấy vô thường và tuyệt đối là một không hai, từ đó đã HIỂU giọt nước mắt nói trên liên hệ đến Lục Thời Sám hối khoa nghi của Trần Thái Tông mà không cần phải lý luận dông dài.

Muenchen, MÙA PHẬT ÐẢN
05. 2004

Thái Kim Lan

1 Nguyễn Ðăng Thục, Phật giáo Việt nam, Saigon 1974, 126

2 Công án Trần Nhân Tông I, Thái Kim Lan website Khuông Việt (không còn)

3 Lê Mạnh Thát, Trần Thái Tông toàn tập, 2004, tr. 46, 47)

4 Theo Ðại Việt sử ký toàn thư 5 tờ 1a3-b4: “ Hoàng đế Thái Tông họ Trần huý là Cảnh, trước huý là Bồ, làm chi hầu chính của triều Lý, nhận sự nhường ngôi của Chiêu Hoàng, ở ngôi 33 năm, nhường ngôi 19 năm, thọ 60 tuổi, băng tại cung Vạn Thọ, chôn ở Chiêu Lăng. Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương. Cho nên, có thể mở nghiệp truyền sau, đặt giềng mối cho chế độ nhà Trần tốt đẹp. Nhưng quy hoạch việc nước đều do Trần Thủ Ðộ làm, chốn buồng the có nhiều nét đáng thẹn.” (Theo Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt nam, tập III, 655)

5 đã dẫn (3)

6 đã dẫn (3)

7 Thiên nam ngữ lục của thiền sư Chân Nguyên (1647 – 1726) ghi :

Cảnh làm Nhưng hầu bấy chày,
Ra rày vua nhớ, vào rày vua yêu
Chiêu Hoàng dại chửa biết điều
Mặc mẹ toan liều, mình thì ngao du
Có khi muốn ngự vườn hoa
Cành quỳ làm ngựa vua hoà cưỡi vai…
Có khi vua ngự trong cung
Cảnh lên giường rồng quỳ xuống làm voi
Vua bèn ngự cưỡi mà chơi
Mày xuân gió vén cung trời hiện ra…”

(Lê Mạnh Thát, TTTTT, tr. 30)

Ðại Việt sử ký toàn thư 5 tờ 1a3-b4 ghi : “ Vua mũi cao, mặt rồng, giống Hán Cao tổ. Lúc mới 8 tuổi đã làm chi hầu chính của Chi ứng cục triều Lý. Có chú họ là Trần Thủ Ðộ làm điện tiền chỉ huy sứ, vua nhân đó được vào hầu trong cung. Chiêu Hoàng thấy mà vui.” (Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tr. 655)

8 Lê Mạnh Thát, Trần Thái Tông toàn tập, tr. 36 – 39 ; Hoà thượng Thích Thanh Từ, Khoá Hư Lục giảng giải, tr. 15 – 19. Xem thêm Ðại Việt sử ký toàn thư ; Lê Mạnh Thát, TTTTT, tr. 33

9 Lê Mạnh Thát, TTTTT, tr. 48 – 49)

10 Lê Mạnh Thát. TTTTT, đã dẫn

11 sđd, tr. 53

12 sđd, tr. 36-39

13 sđd, tr. 53

14 Hoà Thượng THÍCH THANH TỪ, Khoá Hư Lục giảng giải, tr. 9 - 13

15 Mạnh Từ Chu Hy tập chú, quyển thượng, Lương Huệ Vương (thượng), VII, dịch giả Nguyễn Nhượng Khôi, Saigon 1972

“Tuyên Vương nói rằng : “Ðức thế nào thì có thể làm vua thiên hạ được”. Mạnh tử nói rằng : “Biết bảo vệ nhân dân có thể làm vua thiên hạ được, không ai ngăn cản nổi”. Vua lại nói: “Như quả nhân đây có thể bảo vệ nhân dân được không”. Mạnh tử nói: “Có thể”. Vua nói: “Vì sao mà biết ta có thể?”. Mạnh tử nói: “Tôi nghe ông Hồ Hột nói rằng: “Vua ngồi ở trên đền, có kẻ dắt trâu đi qua dưới đền, vua trông thấy hỏi: “Dắt trâu đi đâu?” Kẻ ấy thưa rằng: “Ðem đi bôi chuông” Vua nói: “Tha cho nó, ta không nỡ thấy nó sợ hãi, như kẻ không có tội mà phải đến chỗ chết”. Kẻ ấy lại thưa: “Vậy thì bỏ việc bôi chuông sao?” Vua bảo: “Bỏ thế nào được. Lấy dê thay vào”. Không biết việc ấy có không?”

Tuyên Vương nói: “Có việc ấy” Mạnh tử nói: “Lòng nhân ấy của vua, đủ để làm ua trị thiên hạ. Dân chúng đều cho vua tiếc con trâu, nhưng tôi thì tôi thực biết vua là vì lòng bất nhẫn.”

16Quân Mông cổ lần đầu tiên sang xâm chiếm nước ta. Vua tự làm tướng đem quân ra chống giữ biên giới.” Ðại Việt sử ký toàn thư, TTTTT, Lê Mạnh Thát, 84

17 Theo Nguyễn Ðăng Thục, Phật giáo Việt nam, tr. 123

18 Ngô Thì Sĩ, Việt sử tiêu án 3 tờ 14a4-6, theo Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt nam, 728

19Lê Mạnh Thát, TTTTT, 188-192

20 Một số tác phẩm của Trần Thái Tông:

Năm Tác phẩm

  1. Quốc triều thống chế, 20 quyển

Quốc triều thường lễ

k. 1240 Thiền tông chỉ nam tự

1240 – 1258 Kim Cang tam muội kinh tự

Bình đẳng lễ sám văn tự

Lục thời sám hối khoa nghi

(xem tiếp, Lê Mạnh Thát, TTTTT, t. 199-200)

21 Lê Mạnh Thát, Trần Thái Tông Toàn tập, 128

22 Hoà Thượng Thích Thanh Từ, Khoá Hư Lục giảng giải, 264

23 xem 18), trang 252

24 như trên

25Thiện tri thức, trên đây là VÔ TƯỚNG SÁM HỐI. Thế nào là SÁM? Thế nào là HỐI? Sám là sám trừ tội trước, từ trước tất cả các tội ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ thảy đều sám hết, chẳng bao giờ khởi nữa gọi là sám. Hối là hối cải lỗi sau, tất cả ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ... nay đã giác ngộ, đều cho đoạn dứt, chẳng bao giờ tạo nữa gọi là hối. Phàm phu ngu mê, chỉ biết sám trừ tội trước, chẳng biết hối cải lỗi sau, vì chẳng hối cải, nên tội trước chẳng diệt, tội sau lại sanh, tội trước đã chẳng diệt, tội sau lại tiếp tục, như thế làm sao gọi là SÁM HỐI được”. Huệ Năng, Pháp Bảo Ðàn Kinh, Phẩm Sám Hối thứ sáu, theo thư viện Hoa sen (Hoa Ký) tỳ kheo Thích Duy Lực dịch.

26 Lê Mạnh Thát TTTTT, 213

27 Lê Mạnh Thát, TTTTT, tr. 130

28 Vua đã tha tội Hoàng Cự Ðà chạy trốn khi giặc Nguyên hung hãn và không chịu giúp hoàng thái tử, bời vì chính vua trước đó đã đối xử không công bằng với Hoàng Cự Ðà (ĐVSKTT tờ 22a3-23b4, theo Lê Mạnh Thát, TTTTT, tr. 85 -86

29Trẫm nghe lời ấy hai hàng nước mắt tự tràn… Ðối với người hạnh tốt biết đạo mà phải làm việc không hợp đạo lý này, nhà vua rất là đau đớn, không thể nào ngồi yên được… lý do thầm kín ngài nói ra không được, nên khi mở miệng là tràn nước mắt, đau đớn nát lòng… Ðọc tới đây chúng ta mới thấy nỗi đau của ngài, làm vua mà bị ép buộc”, Hoà thượng Thích Thanh Từ, Khoá Hư Lục giảng giải, tr. 8

30 HT Thích Thanh Từ, sách đã dẫn, tr. 9

31 Nguyên Phong : vua Trần Thái Tông cải hiệu là Nguyên Phong năm 1250

Xuân nhật yết Chiêu Lăng
Trượng vệ thiên môn trúc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong

(Trần Nhân Tông)

Dịch:

Ngày xuân viếng Chiêu Lăng
Nghi vệ dàn bày đủ
Quân thần mũ áo đông
Bạc đầu lão sĩ nọ
Ôn lại chuyện Nguyên Phong.

(Theo Nguyễn Ðăng Thục, Phật giáo Việt nam, tr.120)

32 Khoá Hư Lục, Lục thời sám hối khoa nghi, Kệ vô thường buổi sớm, theo HT Thích Thanh T ừ, KHLGG 274

33 đã dẫn 254 - 255

34 Kệ dâng hoa, Trần Thái Tông, Lục thời sám hối khoa nghi, theo HT Thích Thanh Từ, KHLGG, 269

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss