Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Trao đổi về giá trị và giá trị sử dụng

Trao đổi về giá trị và giá trị sử dụng

Ý kiến của Đoàn Tiểu Long và trả lời của Phan Huy Đường về bài "Giá trị sử dụng của hàng hoá trong học thuyết kinh tế của Marx"


Đối thoại : Đoàn Tiểu Long -- Phan Huy Đường (bài trả lời phía dưới)



Trao đổi thêm về quan niệm
của Marx về giá trị và
giá trị sử dụng của hàng hóa



Đoàn Tiểu Long



Nhân đọc bài “Giá trị sử dụng của hàng hóa trong học thuyết kinh tế của Marx”
(
http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/gia-tri-su-dung-hang-hoa/) của anh Phan Huy Đường.

Mấy thắc mắc của người bạn anh Phan Huy Đường đã động đúng vào một vấn đề khiến tôi băn khoăn suốt mười mấy tháng nay, kể từ khi đọc bài “Nàng tiên kinh tế thị trường
(http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/nang-tien-kinh-te/ ).

Trong bài viết tán tỉnh nàng tiên dung nhan yêu kiều nhưng tiều tụy đó, anh Phan Huy Đường có lấy ví dụ từ một bài viết của tôi tranh luận về lý thuyết giá trị của Marx: “Gã chủ thầu xây dựng và lý thuyết giá trị của Marx
(http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11644&rb=0502 ),
chính là ví dụ về giá trị của một đống cát được hình thành như thế nào. Rồi anh nhận xét là Đoàn Tiểu Long này còn marxist hơn cả Marx, khiến tôi bối rối quá.

Tôi bối rối vì tôi biết chắc một điều rằng quan điểm của tôi về sự hình thành giá trị của đống cát, được tôi xúc từ ngoài sông và chở vào cho ai đó xây nhà, là hoàn toàn dựa trên quan điểm của Marx, chứ tôi tài cán gì mà nghĩ ra nổi một điều Marx không nghĩ ra!

Người bạn của anh dẫn mấy đoạn trích trong Tư bản, quyển IV, thế nhưng trước đó, ngay trong quyển II, quyển bàn về quá trình lưu thông của tư bản, Marx đã viết rất rõ về vấn đề này. Xin cung cấp thêm để anh tham khảo, khỏi mất thời gian lục lọi sách vở (thời giờ là tiền bạc mà lị).

Ngay ở đầu quyển II, trong chương 1 – “Tuần hoàn của tư bản tiền tệ”, Marx đã viết như sau về vai trò của công việc vận chuyển hàng hóa, người ngợm từ chỗ này sang chỗ khác:

“Trong công thức chung, sản phẩm của quá trình sản xuất được coi là một vật vật chất khác với các yếu tố của tư bản sản xuất, là một vật phẩm có sự tồn tại tách rời quá trình sản xuất và có một hình thái sử dụng khác với hình thái sử dụng của các yếu tố sản xuất… Tuy vậy, có những ngành công nghiệp độc lập, trong đó sản phẩm của quá trình sản xuất lại không phải là một sản phẩm vật chất mới, không phải một hàng hóa. Trong những ngành này, thì chỉ riêng ngành công nghiệp giao thông vận tải mới có một tầm quan trọng về kinh tế, dù đó là ngành vận chuyển theo nghĩa hẹp, tức là vận chuyển hàng hóa và hành khách, hay đơn thuần là việc chuyển tin tức, thư từ, điện tín, v.v..” (*)

Tiếp đó Marx trích dẫn một đoạn trong cuốn “Kinh tế đường sắt” của nhà kinh tế học người Nga A. Tchuprov:

“Chủ xưởng có thể sản xuất ra sản phẩm trước, rồi sau mới tìm người tiêu dùng, do đó sản xuất và tiêu dùng biểu hiện ra thành hai hành vi tách rời nhau trong không gian và thời gian; còn trong ngành công nghiệp vận chuyển là ngành không tạo ra sản phẩm mới, mà chỉ vận chuyển người và vật, thì hai hành vi ấy lại nhập thành một; những việc phục vụ của đường sắt (vận chuyển) bị tiêu dùng ngay khi chúng được sản xuất ra…”

Marx viết tiếp:

“Bất luận là vận chuyển người hay vận chuyển hàng hóa, kết quả của vận chuyển cũng vẫn là thay đổi địa điểm của người hay hàng hóa: ví dụ, sợi bây giờ ở Ấn Độ chứ không phải ở nước Anh là nơi sản xuất ra sợi”.

(Nếu Marx tình cờ thay từ “sợi” bằng “táo”, “Anh” bằng “Pháp” còn “Ấn Độ” bằng “Ziao Chỉ”, thì sẽ có đúng ví dụ yêu thích của anh Phan Huy Đường, hè hè… bắt chước giọng cười của anh tí chút).

“Nhưng cái mà công nghiệp vận chuyển bán ra là bản thân việc đổi chỗ. Hiệu quả có ích do nó cung cấp thì gắn liền không thể tách rời được với quá trình vận chuyển, tức là với quá trình sản xuất của công nghiệp vận chuyển. Người và hàng hóa cùng di chuyển với phương tiện vận chuyển, và sự vận động của phương tiện này, sự đổi chỗ của nó chính là quá trình sản xuất. Hiệu quả có ích chỉ có thể tiêu dùng được trong thời gian quá trình sản xuất. Nhưng giá trị trao đổi của hiệu quả có ích ấy, cũng như giá trị trao đổi của bất cứ hàng hóa nào khác, cũng vẫn được quyết định bởi giá trị của các yếu tố sản xuất được tiêu dùng để sản xuất ra nó (sức lao động và tư liệu sản xuất), cộng với giá trị thặng dư do lao động thặng dư của công nhân ngành vận chuyển tạo ra. Còn việc tiêu dùng hiệu quả có ích đó, thì cũng hoàn toàn giống như các hàng hóa khác. Nếu hiệu quả có ích đó đi vào tiêu dùng cá nhân, thì giá trị của nó sẽ biến mất cùng với việc tiêu dùng; nếu nó được tiêu dùng một cách sản xuất, thành thử bản thân nó là một giai đoạn sản xuất của hàng hóa đang được vận chuyển, thì giá trị của nó sẽ chuyển vào bản thân hàng hóa với tư cách một giá trị phụ thêm”.

Vấn đề vận chuyển được Marx xem xét một lần nữa trong chương VI – “Chi phí lưu thông”, tiểu mục III – “Chi phí vận chuyển”. Tại đây Marx đưa ra một kết luận quan trọng:

“Quy luật chung là: tất cả những chi phí lưu thông nào mà chỉ do sự chuyển hóa hình thái của hàng hóa gây ra thì không bỏ thêm giá trị vào hàng hóa. Đó chỉ là những chi phí để thực hiện giá trị, hay những chi phí cần thiết để chuyển giá trị từ hình thái này sang hình thái khác (tức là việc hàng hóa chuyển từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ, tức quá trình bán hàng, hay ngược lại, từ hình thái tiền sang hình thái hàng hóa, tức việc mua hàng - ĐTL). Những chi phí này thuộc phạm vi những faux frais (hư phí) của sản xuất tư bản chủ nghĩa, và đứng về toàn thể giai cấp tư bản mà xét, là một khoản khấu trừ vào giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư; cũng tựa hồ số thời gian mà người lao động tiêu phí vào việc mua tư liệu tiêu dùng cho mình là thời gian bị mất đối với anh ta.”

Đoạn sau đây nói trúng phóc những gì từng khiến anh Phan Huy Đường băn khoăn nhá:

“Số lượng sản phẩm không vì vận chuyển mà tăng lên. Tất cả những sự thay đổi do vận chuyển gây ra trong thuộc tính tự nhiên của sản phẩm, trừ một số ngoại lệ, đều không phải là một hiệu quả có ích đã dự kiến, mà là một điều tai hại không tránh khỏi (kiểu như những hư hỏng, giảm chất lượng hàng hóa trong quá trình vận chuyển - ĐTL). Nhưng giá trị sử dụng của các vật phẩm chỉ được thực hiện trong khi tiêu dùng chúng, và sự tiêu dùng vật phẩm có thể làm cho sự di chuyển vị trí của vật phẩm trở nên cần thiết. Vì vậy tư bản sản xuất đầu tư vào công nghiệp vận tải sẽ làm tăng thêm giá trị các sản phẩm được vận chuyển…”

Marx cũng không quên những chuyện nhỏ nhặt khác (trong khi những người chưa từng đọc Marx thì lại rất hay quả quyết rằng Marx không biết cái này, quên cái nọ, bỏ qua cái kia), ví dụ như những chi phí liên quan đến khả năng hư hỏng, vỡ, cháy nổ của hàng hóa. Marx nhận xét một cách châm biếm:

“Việc vận chuyển đòi hỏi những biện pháp dự phòng, vì vậy nó gây ra một chi phí lao động nhiều hay ít tùy theo vật phẩm có dễ vỡ, hư hỏng hay cháy nổ hay không. Về mặt này, các trùm tư bản đường sắt phát huy nhiều thiên tài hơn các nhà thực vật học hoặc động vật học trong việc phát minh ra những giống kỳ quặc. Ví dụ, việc phân loại các hàng hóa được công nhận trong ngành đường sắt nước Anh, đã được ghi thành những pho sách dày cộp, và nguyên lý chung của việc phân loại này là khuynh hướng biến bao nhiêu thuộc tính tự nhiên của hàng hóa thành bấy nhiêu nhược điểm xét về mặt vận chuyển, và thành bấy nhiêu cớ để nặn tiền… Chẳng hạn, giá vận chuyển đồ pha-lê tăng gấp 3 lần, lấy cớ là dễ vỡ, nhưng ngành đường sắt lại không bồi thường cho những thứ thực sự bị vỡ”.

Nói chung, chương “Chi phí lưu thông” trong quyển II là một chương khá quan trọng (mà thực ra làm gì có chương nào trong bộ Tư bản lại không quan trọng!), vì trong đó Marx phân tích các chi phí liên quan đến quá trình lưu thông hàng hóa như: thời gian mua và bán hàng hóa, kế toán, chi phí bảo quản, dự trữ hàng hóa, chi phí vận chuyển. Marx chỉ rõ, những chi phí nào cần thiết và tạo ra giá trị; những chi phí nào cần thiết nhưng không tạo ra giá trị, và những chi phí nào vừa không cần thiết, vừa không tạo ra giá trị. Đọc chương này giúp người ta chí ít là bớt ngộ nhận về việc Marx chỉ quan tâm đến sản xuất, còn coi khinh các hoạt động cần thiết khác.

Đó là chưa kể đến việc trong quyển IV, phần bàn về lao động sản xuất và phi sản xuất, Marx còn chỉ ra rằng những hoạt động mà ngày nay chúng ta vẫn gọi là “dịch vụ” cũng là hoạt động sản xuất, mặc dù là sản xuất phi vật chất, nếu như chúng tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Marx lấy ví dụ trường học tư thục có thể coi là “xưởng giáo dục”, tại đó các giáo viên bằng lao động của mình cũng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư cho ông chủ ngôi trường. Đây là quan điểm rất riêng, đặc thù của Marx về phạm trù lao động sản xuất trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa – lao động nào tạo ra giá trị thặng dư thì coi là lao động sản xuất. Trái lại, lao động nào không tạo ra giá trị thặng dư, thì không coi là lao động sản xuất. Một ca sĩ tự biểu diễn, tự thu tiền, như hai chú bé Rémi và Matchia trong tiểu thuyết “Không gia đình”, thì không phải lao động sản xuất. Nhưng nếu chúng làm thuê cho cụ Vitaly, thì lao động của chúng lại trở thành lao động sản xuất. Trong bài “Gã chủ thầu…” tôi có lấy ví dụ lao động của Ronaldinho cũng là lao động sản xuất, vì anh chàng xấu trai răng vẩu đó tạo ra giá trị thặng dư cho các ông bầu ngành bóng đá, chính là nhắc lại quan điểm này. Dĩ nhiên Marx có lý do để đưa ra quan niệm khác người đó.

Như thế, tôi bối rối vì thấy hình như anh nhận xét oan cho Marx. Thành ra, đã mấy lần tôi định viết thư trao đổi tý chút với anh về vấn đề này, nhưng rồi lại thôi. Thì may sao, hôm nay bỗng thấy bài của anh trên Diễn Đàn, trao đổi những thắc mắc hết sức hợp lý của người bạn anh. Tôi thật mừng chết đi được (nhưng vẫn sống nhăn, hè hè…). Bèn lục bộ Tư bản ra, lui cui gõ máy tính…


Đoàn Tiểu Long




(*) Những đoạn trích trong bài viết này là từ Tư bản, quyển II, NXB Tiến bộ, 1985





Thảo luận với anh Đoàn Tiểu Long về bài :
Trao đổi thêm về quan niệm của Marx
về giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa



Phan Huy Đường



Cảm ơn anh đã cho tôi biết những thông tin này. Quả là lý thú.
 

1.

Trước hết, tôi xin giải quyết một sự nhập nhằng trong chữ nghĩa của tôi trong bài anh đề cập tới. Khi tôi nói tới TBL, có lúc tối nghĩ tới ba quyển sách đầu (nxb Éditions Sociales, tome I, II, III) gom thành Quyển I (Livre I). Nhưng cũng có lúc tôi nói tới Livre II và Livre III (Tomes 4-8 của nxb Éditions Sociales), tôi có đọc nhưng không tóm tắt. Dưới cùng cụm từ TBL có hai sự kiện khác nhau :

Sự kiện thứ nhất : tác phẩm đã được chính Marx cho xuất bản, đã biên tập, thậm chí viết lại, nghĩa là đã khẳng định : đây là học thuyết kinh tế hoàn chỉnh của tôi.

Sự kiện thứ hai : những "tác phẩm" của Marx chưa được ông khẳng định, mới trong dạng thai nghén thôi. Không có nghĩa là không đáng kể nhe ! Nhất là khi đã được Engels biên soạn để cho đăng.
 

2.

Về sự bối rối của anh

> Rồi anh nhận xét là Đoàn Tiểu Long này còn marxist hơn cả Marx, khiến tôi bối rối quá. 

** Có gì mà anh phải bối rối ? Tôi đã viết :

Ông Đoàn Tiểu Long "duy vật biện chứng" đích thực đấy ! Chỉ vì ông ngày ngày phải mặc cả giá mấy đống cát để sinh nhai mà ông ấy mácxít hơn cả Marx trong vấn đề này ! Một cách chính đáng ! Lại hoàn toàn phù hợp với triết lý "duy vật biện chứng" của… Marx !

Đáng lẽ anh phải mừng chứ !

> Tôi bối rối vì tôi biết chắc một điều rằng quan điểm của tôi về sự hình thành giá trị của đống cát, được tôi xúc từ ngoài sông và chở vào cho ai đó xây nhà, là hoàn toàn dựa trên quan điểm của Marx, chứ tôi tài cán gì mà nghĩ ra nổi một điều Marx không nghĩ ra! 

** Ra thế. Quả vậy, đối với Marx Livre II, IV, những "tác phẩm" chưa được Marx khẳng định, còn đang trong quá trình thai nghén. Thế thì anh bối rối là phải. Tôi thử đoán mò xem vì sao nhé.

 

Marx để lại cho đời 2 quan điểm về giá trị sử dụng của hàng hoá :


a/ định nghĩa khái niệm, chính thức, trong Góp phần phê phán kinh tế chính trị học TBL-Quyển I :

"Hàng-hoá trước tiên là, như các kinh-tế gia Anh nói, « một đồ-vật nào đó, cần-thiết, có ích, hay thú vị cho cuộc sống, một phương-tiện sinh sống trong nghĩa rộng nhất của ngôn-từ này. Hình-thái tồn-tại của hàng-hoá trong tư-cách giá-trị-sử-dụng trùng với hình-thái tồn-tại vật-lý sờ mó được của nó. »"1

« Một giá-trị-sử-dụng [đồ-vật] có thể được sử-dụng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên, hình-thái tồn-tại của nó như một vật-thể có những đặc-tính nhất định bao gồm toàn bộ những khả năng sử-dụng nó. »2

Và ông kết luận :

« Khi giá-trị-sử-dụng không do bất cứ hình-thái kinh-tế nào quyết định, nghĩa là khi giá-trị-sử-dụng được dùng như giá-trị-sử-dụng, nó không thuộc lĩnh vực kinh-tế-chính-trị học. »3

Đây là một định nghĩa "duy vật máy móc", giới hạn trong quan hệ giữa con người với vật giới, dựa vào vật lý của thế kỷ 19.


b/ giá trị sử dụng của hàng hoá do sự di chuyển trong không gian mà hình thành (TBL-Quyển-2-4).


Hai quan điểm ấy phủ nhận lẫn nhau ! Phủ nhận chứ không phải phủ định biện chứng nhe, tôi sẽ nói rõ vì sao.

Quan điểm a/ "duy vật máy móc", thuộc lôgích hình thức kinh viện.

Quan điểm b/ biện chứng nhưng khiếm khuyết, què quặt.

Nếu ta chấp nhận quan điểm a/ là đúng thì chẳng biết nhét quan điểm b/ vào đâu trong những thuộc tính vật lý của hàng hoá.

Nếu ta chấp nhận quan điểm b/ là đúng thì, trong trạng thái hiện nay của nó (văn bản Marx để lại), không phủ định quan điểm a/, ta rơi vào mê hồn trận này :

 

(trước tiên, để đơn giản hoá vấn đề, ta xem xét sự di chuyển của đồ vật đã)

– trong quá trình vận chuyển sản phẩm trong không gian, có người tạo ra giá trị sử dụng mới và, dĩ nhiên, đi đôi với sự kiện đó, tạo ra giá trị mới, khiến giá trị tổng hợp của hàng hoá tăng. Điều này đúng ! Và là chuyện cơm bữa, sổ sách kinh doanh ghi rất rõ, chẳng ai phiền hà cả.

– nhưng cũng ngay trong quá trình di chuyển ấy, có người (ai ?) tiêu thụ liền (bằng cách nào ?) giá trị sử dụng mới ấy. Thế thì, theo TBL-I, giá trị sử dụng ấy tiêu vong hay hao mòn (trong trường hợp này thì là tiêu vong, như giá trị sử dụng của quả táo tiêu vong khi anh nhậu nó) và, cùng với sự tiêu vong ấy, giá trị gắn liền với nó cũng phải tiêu vong ! Thế thì giá trị tổng hợp của hàng hoá phải giảm chứ !

Còn nếu không ai tiêu dùng nó thì làm sao nó biến mất được ? Nó vẫn là một phần của giá trị sử dụng của sản phẩm chứ !

– nhưng không ! Khi hàng hoá đã tới nơi quy định thì giá trị sử dụng do sự di chuyển trong không gian tạo ra nhẹ nhàng biến mất, và dĩ nhiên là phải thế vì nó gắn với thuộc tính vật lý nào của hàng hoá đang nằm chình hình ở đó ? Nhưng linh hồn của nó vẫn cứ vương vấn đâu đó trong giá trị tổng hợp của hàng hoá !

Trước một chuyện hoang đường như thế này, ai mà không bối rối…

Marx không đưa quan điểm b/ vào tác phẩm kinh tế hoàn chỉnh của ông là phải lắm.

– nếu ông đã có quan điểm ấy trước khi đăng TBL-I thì nghĩa là : ông không biết móc nó vào cành nào trong định nghĩa giá trị sử dụng của ông. Anh cứ thử làm thì biết !

– nếu chỉ vì TBL-I đã đăng rồi ông mới có quan điểm ấy thì ông điều chỉnh định nghĩa giá trị sử dụng chính thức của ông, có khó khăn gì ? TBL-I đã được xuất bản và tái bản nhiều lần trong nhiều thứ tiếng ngay thời ông còn sống. Mỗi lần, ông thường viết thêm lời tựa hay lời bạt để làm sáng tỏ một vấn đề hay khiến văn bản của ông đầy đủ, hoàn chỉnh hơn. Ông đã không làm điều ấy trong vấn đề này. Mà đây là một khái niệm gốc trong lý thuyết kinh tế của ông ! Đủ thấy chính ông cũng bối rối không ít !

Phải suy luận như thế nào mới thống nhất được hai quan điểm đều đúng, đều què quặt kia ? Đó là nội dung chính của bài tôi vừa mới đăng, đã khiến anh vui : phải triệt để biện chứng. Cách suy luận của tôi, trong vấn đề này, khác cách suy luận của Marx ở đó. Tôi mê Marx, nhưng chưa đến mức tin rằng ông viết bất cứ gì ở bất cứ đâu, đều đúng hết. Tóm lại : ta phải vượt khái niệm "giá trị sử dụng của hàng hoá" bằng khái niệm "giá trị sử dụng trong không-thời-gian (của) hàng hoá đối với người sử dụng". Khái niệm đầu chỉ thể hiện quan-hệ giữa người với vật-giới thôi. Khái niệm sau thể-hiện quan-hệ ba-chiều-kích của con người với thế-giới : vật-giới, sinh-giới, vì phải là một con vật có ý-hướng mới biết làm chuyện ấy để mưu sinh, và trí-giới, thế giới của giá-trị chỉ có trong quan-hệ giữa người với người thôi. Nó vẫn lưu giữ quan-hệ đầu, nhưng lồng quan-hệ ấy vào một quan-hệ tổng-hợp rộng lớn hơn, khớp với thực tế của hiện tượng sản xuất – tiêu dùng hơn.

Với khái niệm mà tôi chủ trương thì :

a/  trong toàn bộ quá trình đi từ sản xuất tới khả năng tiêu dùng, không có chuyện "tiêu dùng"4 bất cứ gì cả, nhưng có chuyện đồ vật thay đổi dạng liên miên kể cả trong không-thời-gian, do lao động của con người, và thời gian lao động xã hội cần thiết để thực hiện những sự thay đổi ấy "kết tinh" trong giá trị (của) sản phẩm. Kết quả là : sản phẩm cuối cùng ở một nơi nào đó, có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của một con người nào đó ở đó và, do đó, có khả năng biến thành hàng hoá nếu có người mua.

b/  toàn bộ "giá trị sử dụng" đã được tạo ra trong sản phẩm mới, kể cả sự di chuyển trong không gian, chưa hề bị ai tiêu dùng cả. Nó nằm lù lù ngay trong sản phẩm ở nơi nó ở : chính lao động của con người khiến nó có và có ở đó. Dó đó, toàn bộ giá trị "gắn liền" với nó cũng ở ngay nó ở đó.

c/  nhưng vì đây, cuối cùng, là quan-hệ giữa người với người nên cả giá trị sử dụng lẫn giá trị kia đều chỉ có dưới dạng khả năng thôi. Để cho nó trở thành hiện thực thì phải có hành-động của con người : tôi mua sản phẩm đó ở đó và tiêu dùng nó. Qua hành-động của tôi, cả giá trị sử dụng lẫn giá trị trở thành hiện thực và đồng thời… tiêu vong, đúng như Marx đã nhận định.


Bây giờ ta xem xét trường hợp di chuyển con người :

d/  nếu người ấy được di chuyển với tư cách là sức lao động thì nó có khác gì một hàng hoá khác đâu vì bản thân nó là hàng hoá mà. Tất cả những nhận định trên có thể áp dụng cho sự di chuyển của nó, sổ sách kế toán cũng xử lý nó gần "y hệt" một hàng hoá khác, gần thôi, vì hàng hoá cần được gói ghém nhưng nó còn cần được ăn. Trừ khi hàng hoá là một sinh vật. Chính khách hàng mua giá trị sử dụng của nó ở nơi nó tới là người trả giá tất cả và tiêu dùng tất cả. Sổ sách kinh doanh cũng ghi rất rõ.

e/  nếu tôi di chuyển với tư cách du khách Paris – Hà Nội thì quả nhiên tôi đã tiêu dùng một dịch vụ, như Marx nhận xét rất đúng. Dịch vụ ấy bắt đầu từ lúc tôi bước vào sân bay Roissy và chấm dứt khi tôi bước ra khỏi sân bay Nội Bài. Sau đó, tôi muốn đi ăn bún ốc hay không thì cứ tuỳ tiện, hãng máy bay không quan tâm. Và đây là tiêu dùng đích thực, chấm dứt một quy trình sản xuất – tiêu dùng. Đi ăn bún ốc Hà Nội là một quy trình sản xuất – tiêu dùng mới. Về mặt tâm lý, tôi có thể nghĩ rằng bát bún ốc ngon thật nhưng đắt quá. Tâm lý ấy không có chức năng kinh tế gì đối với nhà hàng : nó vẫn bán bát bún ốc với cùng giá bán cho bất cứ ai đến ăn.

Khái niệm "giá-trị-sử-dụng-trong-không-thời-gian đối với người sử dụng (của) hàng hoá " không những bao gồm tất cả các hình thái vật lý của nó (thời-gian chẳng hạn : gửi đồ bằng máy bay đắt hơn là gửi bằng tàu thuỷ vì nó tới nơi nhanh hơn), nó còn khớp với một nguyên lý nền tảng của học thuyết kinh tế của Marx : nó mà biến đi thì giá trị phải biến theo. Cuối cùng, về mặt phương pháp luận, nó nhất quán với định nghĩa giá-trị của Marx : đó là quan hệ giữa người với người để trao đổi lao động với nhau, nấp đằng sau quan hệ giữa đồ vật với đồ vật, chứ không chỉ là thuộc tính vật lý của vật thể tuy không thể nào độc lập với chúng được.


Tóm lại, theo tôi :

a/  khi khởi công viết TBL, Marx đã đưa ra một định nghĩa duy vật máy móc về giá trị sử dụng của hàng hoá và, do đó, phải loại ngay nó ra khỏi lĩnh vực kinh tế chính trị học sau khi đã khẳng định nó là điều kiện cần thiết để khiến bất cứ gì có thể trở thành hàng hoá !

b/  nhưng càng nghiên cứu rộng và sâu hơn những hiện tượng có thực trong nền kinh tế tư bản thời ông, ông đã linh cảm rằng vừa không thể nào loại nó ra khỏi lĩnh vực kinh tế chính trị học được vừa không thể nào chỉ dùng nó thôi mà hiểu được nhiều hiện tượng không nhỏ của quan hệ sản xuất ấy. Do đó, ông đã đề ra những quan điểm mới về vấn đề này, vượt khỏi cái khái niệm đã được định nghĩa. Ông chưa kịp thống nhất những kiến thức ấy với nhau để tạo một khái niệm mới thống nhất chúng thì ông quy tiên, để lại cho chúng ta một mối tơ vò chẳng dễ gỡ rối tí nào.

c/  ông đã làm được như thế vì triết lý của ông có yếu tố thôi thúc ông suy luận theo những hướng mới ấy. Ông chưa thống nhất được tư duy của ông trong vấn đề này vì nó không đơn giản và vì ông cứ bị vướng víu bởi ngôn ngữ mà ông có được để tư duy. Một nhà tư tưởng khẳng định mình theo chủ nghĩa "duy vật" mà bàn liên miên về sản phẩm phi vật chất thì lạ thật. Riêng với Marx thì không lạ : theo triết lý của ông và Engels thì bản thân "thời-gian" và "không-gian" cũng là những hình-thái vận-động vật-chất, bài của tôi đã vạch rõ, xin miễn trích lại. Thế thì ta cũng có thể "tiêu dùng" chúng được ! Trong thực tế, có lúc vậy thật.

Đời này nói tới "vật-thể-trong-không-thời-gian" đã trở thành chuyện phổ biến, ít nhất trong một giới trí thức nào đó vì nó đã trở thành kiến thức khoa học trong ngành vật lý, thậm chí đối với quần chúng rộng rãi hơn vì nó đã được đề cập tới trong tiểu thuyết và phim ảnh viễn tưởng. Thời ông, chưa ai nói tới cả. Nhiều nhất thì có vài người linh cảm điều ấy trong tư duy triết thôi. Như Engels đã nhận xét, triết thường "đi trước" khoa học ! Dễ hiểu : nó không cần được thử nghiệm mà vẫn có người tin !


3.

Chính vì thế, khi anh bạn tôi cho tôi biết những thông tin mà tôi trích lại trong bài ấy, tôi mừng : Marx cũng đã từng quan tâm đến và, phần nào, cũng đã hay đang suy nghĩ tới khía cạnh ấy của "giá trị sử dụng" khi ông viết hay tiếp tục viết "TBL". Phần nào thôi, vì ông đã thống nhất được những quan điểm ấy đâu, những ví dụ sau cho thấy :


4.

> “Quy luật chung là: tất cả những chi phí lưu thông nào mà chỉ do sự chuyển hóa hình thái của hàng hóa gây ra thì không bỏ thêm giá trị vào hàng hóa. Đó chỉ là những chi phí để thực hiện giá trị, hay những chi phí cần thiết để chuyển giá trị từ hình thái này sang hình thái khác (tức là việc hàng hóa chuyển từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ, tức quá trình bán hàng, hay ngược lại, từ hình thái tiền sang hình thái hàng hóa, tức việc mua hàng - ĐTL). Những chi phí này thuộc phạm vi những faux frais (hư phí) của sản xuất tư bản chủ nghĩa, và đứng về toàn thể giai cấp tư bản mà xét, là một khoản khấu trừ vào giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư; cũng tựa hồ số thời gian mà người lao động tiêu phí vào việc mua tư liệu tiêu dùng cho mình là thời gian bị mất đối với anh ta.” 

** Không có những chi phí ấy thì sản phẩm cũng chẳng thể biến thành hàng hoá được !

Trước khi có thể mang đồng tiền ra đổi lấy một sản phẩm, cũng đã phải có ai đó in nó, quản lý quá trình sản xuất, lưu giữ, lưu thông, tái tạo nó trong xã hội (ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác). Không lẽ khối lượng lao động khổng lồ kia không mang lại một giá trị sử dụng nào cho xã hội cả ? Nếu thế ai hơi đâu mà làm hay trả tiền cho người khác làm ? Trong thực tế, mọi người, hàng ngày, vẫn "xài" tiền. Thế thì những lao động trên cũng tạo ra giá trị sử dụng và giá trị. "Duy vật biện chứng" đích thực đấy.

Thị trường chỉ thực sự hoàn chỉnh sau khi tiền tệ hình thành. Trước đó vẫn có hiện tượng trao đổi sản phẩm nhưng không có thước đo phổ cập (universel) cho mọi sản phẩm : tiền. Chính thước đo ấy cho phép đưa toàn bộ lao động sản xuất của xã hội vào hình thái kinh tế thị trường. Tầm quan trọng đặc thù của Góp phần phê phán kinh tế chính trị học ở đó : chưa ai giải thích lôgích khai sinh tiền tệ rõ ràng, thuyết phục và dễ hiểu như Marx.

Thời gian lao động cho phép biến hàng hoá thành tiền và ngược lại cũng cần thiết để tạo giá trị sử dụng và giá trị ! Ít nhất là đối với ai dùng nó. Bằng chứng ? Họ trả tiền cho nó mà không thắc mắc gì cả.

Nói cho cùng, ngay cả thời gian quét rác, lau chùi nhà máy cũng là thời gian lao động cần thiết để tạo ra sản phẩm, hàng hoá và giá trị mà nó tạo ra cũng kết tinh trong giá trị tổng hợp của hàng hoá. Sổ sách quản lý của anh tư bản cho thấy rất rõ. Thế thì những người làm những công việc ấy cũng là những "công nhân" tham gia lao động sản xuất của xã hội chứ không phải là những kẻ ăn bám. Không những thế, họ cũng có thể tạo ra giá trị thặng dư : hiện nay ở Pháp có đầy hãng tư bản chỉ kinh doanh món đó thôi. Và có lời chẳng thua ai.


> đứng về toàn thể giai cấp tư bản mà xét

** đây chỉ là nhận xét tạm thời của Marx. Đối với mọi anh tư bản thì chỉ có điều quan trọng này thôi : làm gì cũng được, miễn sao có lời và, như thế, là góp phần phát triển kinh tế. Không hoàn toàn sai. Anh chủ ngân hàng tập trung vốn không lời hay lời thấp của hàng triệu người thành "lượng tiền cần thiết để biến tiền thành TB", cho phép khởi công sản xuất một cái gì đó đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của xã hội, cũng tiến hành một lao động hữu ích cho xã hội chứ ? Vậy thì lao động của anh ấy cũng tạo ra giá trị sử dụng và giá trị.


> cũng tựa hồ số thời gian mà người lao động tiêu phí vào việc mua tư liệu tiêu dùng cho mình là thời gian bị mất đối với anh ta

** đây cũng chỉ là tựa hồ của Marx thôi. Tôi quý ông ở đó : tư duy từng vấn đề một tới tận gốc nhưng đồng thời "không bao giờ" mãi mãi khép vấn đề trong một cái khung nhỏ bé, khiếm khuyết. Để hoàn thành cả hai, phải có thời giờ. Thời giờ ấy, một đời ông chưa đủ, tiếc thay.

Bình thường, thời gian ta bỏ ra để mua tư liệu tiêu dùng (để sản xuất hàng hoá hay để tiêu dùng cho mình thôi ?), chẳng ai thấy là bị mất cả :

a/  nếu là để sản xuất hàng hoá thì thời gian lao động cần thiết ấy cũng góp phần cấu tạo giá trị của hàng hoá. Coi sổ sách kế toán, thấy liền !

b/ nếu là thời gian đi mua hoa tặng người yêu, có khi ta còn thấy là thời gian quý đẹp nhất đời mình ! Chỉ có điều không mang nó trao đổi ngang giá với hàng hoá của người khác được : quan-hệ yêu đương không thuộc lĩnh vực kinh tế học.


5.

> Đó là chưa kể đến việc trong quyển IV, phần bàn về lao động sản xuất và phi sản xuất, Marx còn chỉ ra rằng những hoạt động mà ngày nay chúng ta vẫn gọi là “dịch vụ” cũng là hoạt động sản xuất, mặc dù là sản xuất phi vật chất, nếu như chúng tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Marx lấy ví dụ trường học tư thục có thể coi là “xưởng giáo dục”, tại đó các giáo viên bằng lao động của mình cũng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư cho ông chủ ngôi trường. Đây là quan điểm rất riêng, đặc thù của Marx về phạm trù lao động sản xuất trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa – lao động nào tạo ra giá trị thặng dư thì coi là lao động sản xuất. Trái lại, lao động nào không tạo ra giá trị thặng dư, thì không coi là lao động sản xuất. Một ca sĩ tự biểu diễn, tự thu tiền, như hai chú bé Rémi và Matchia trong tiểu thuyết “Không gia đình”, thì không phải lao động sản xuất. Nhưng nếu chúng làm thuê cho cụ Vitaly, thì lao động của chúng lại trở thành lao động sản xuất. Trong bài “Gã chủ thầu…” tôi có lấy ví dụ lao động của Ronaldinho cũng là lao động sản xuất, vì anh chàng xấu trai răng vẩu đó tạo ra giá trị thặng dư cho các ông bầu ngành bóng đá, chính là nhắc lại quan điểm này. Dĩ nhiên Marx có lý do để đưa ra quan niệm khác người đó. 

Trong điểm 5, anh bàn tùm lum về nhiều quan-hệ rất khác nhau.

Cho phép tôi góp vài ý nhỏ.

> Marx còn chỉ ra rằng những hoạt động mà ngày nay chúng ta vẫn gọi là “dịch vụ” cũng là hoạt động sản xuất, mặc dù là sản xuất phi vật chất, nếu như chúng tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.

** tôi không biết Marx có viết y chang như thế không và trong ngữ cảnh nào. Dù sao thì cũng chỉ mới là trong quá trình thai nghén học thuyết thôi.

Nếu ông chỉ mô tả và giải thích tâm lý của mấy anh tư bản thì đúng và vui. Trong TBL-I có nhiều đoạn văn như thế, tuyệt vời. Nhưng tâm lý không có chức năng gì cả trong học thuyết kinh tế của Marx, "khoa học duy vật" mà. Bốn khái niệm nền tảng của học thuyết ấy do ông định nghĩa và cho đăng, giá trị sử dụng, giá trị, giá trị của sức lao động và giá trị thặng dư, đều không có một yếu tố tâm lý của bất cứ ai cả. Marx khác Samuelson lắm lắm. Tâm lý thuộc một lĩnh vực khác, cũng mácxít : quan hệ giữa hạ từng cơ sở kinh tế với thượng từng ý thức hệ trong một hình thái xã hội. Tất cả, tất nhiên, xuyên qua nghiệm sinh có thực của con người thực trong giới hạn văn hoá của nó. Người đời sau, có người gọi là xã-hội học mácxít khi môn xã hội học trở thành thời thượng. Đọc Marx mệt ở đó, biện chứng mà : khi tìm hiểu quan-hệ giữa người với người, hễ đã tách một quan-hệ nào đó của con người khỏi quan-hệ tổng hợp của nó với thế-giới thì không tài nào có được một hiểu biết "toàn diện" về bất cứ hiện tượng nào trong nhân-giới. Nhưng khi muốn trình bày bằng ngôn ngữ quan điểm tổng hợp của mình về một vấn đề nào đó, thì không thể nào làm khác hơn được : phải trình bày tuần tự, từng khía cạnh một (lời tựa khét tiếng cho Góp phần phê phán kinh tế chính trị học). Và khi muốn trình bày một ý tưởng có tính tổng hợp, thì phải viết những câu văn tràng giang đại hải mà ta thường gặp trong tác phẩm của các nhà tư tưởng theo xu hướng biện chứng. Nhức đầu lắm. Tôi cũng đã giải thích vì sao trong Tư Duy Tự Do.

Nếu không như thế thì đáng tiếc. Trong trường hợp này :

Thí dụ một

Tôi bỏ 100$ để sản xuất một sản phẩm. Với tiền đó, tôi mua vật liệu, sức lao động trực tiếp tạo ra vật thể và một đống dịch vụ chẳng tạo ra một cái gì sờ mó được. Tôi bán hàng hoá đã được sản xuất 120$. Giá trị thặng dư = 20$.

Đố ai biết được phần nào trong giá trị thặng dư đó do sức lao động nào tạo ra !

Trong TBL–Quyển I : toàn bộ giá trị thặng dư đều do sức lao động trực tiếp làm ra sản phẩm tạo ra vì chỉ có nó mới tạo ra vật thể có giá trị sử dụng mới. Điều ấy, về mặt lôgích hình thức dễ dãi thường tình, dễ hiểu nhưng sai. Như những bài vở của anh và của tôi cho thấy.

Nếu ta chấp nhận lao động dịch vụ cũng tạo ra giá trị sử dụng và giá trị, vấn đề vẫn rất dễ hiểu với tư duy biện chứng, nhưng đo đếm bắt đầu lôi thôi phức tạp. Ta biết ta đã trả bao nhiêu $ cho phần dịch vụ. Nhưng làm sao khẳng định được ta đã bán sản phẩm (nào ?) của phần dịch vụ ấy với giá bao nhiêu $ để mà biết nó có tạo ra giá trị thặng dư hay không và, qua đó, có là lao động sản xuất hay không ? Ta có bán lẻ món đó đâu ! Cho rằng ta đã bán nó huề vốn, thậm chí lỗ, thì đó không là lao động sản xuất hay sao ? Thế nào đi nữa, không có nó, không có sản phẩm để mà bán, vậy thì nó cũng là lao động xã hội cần thiết, ở lượng nào đó, để tạo ra giá trị sử dụng mới và giá trị. Rồi thì ta bán một sản phẩm, người mua mua sản phẩm ấy, thế thôi.

Trong thực tế ngày nay, các nhà tư bản giải quyết như thế này :

a/ nếu được, hạ giá thành của bất cứ hình thái lao động nào.

b/ bớt được giá thành ở đâu thì bớt. Thí dụ :

sức lao động đơn giản ở Trung Quốc rẻ, ta trực tiếp hay gián tiếp mua nó.

dịch vụ trả lời điện thoại bằng tiếng Anh ở Ấn độ rẻ, ta mua ở đó để trả lời mấy anh Anh ngữ.

Thị trường lao động toàn cầu hoá đó. Thế thôi.

Thí dụ 2

Tôi mở tiệm chà phô, buôn đi bán lại. Không có lao động của tôi thì vật thể không trở thành hàng hoá được, nó đọng ở đâu đó, hư hỏng đi, không có giá trị sử dụng đối với ai cả, nói chi là giá trị. Lao động của tôi cần thiết cho xã hội, cho kinh tế thị trường. Vậy thì lao động ấy cũng tạo ra giá trị sử dụng và giá trị đối với người dùng nó. Bằng chứng là họ mua nó và trả tiền sòng phẳng, chẳng cằn nhằn gì hết, tuy có khi… hi hi. Tiếc thay, tôi làm việc tối tăm mặt mũi thì cũng chỉ đủ nuôi thân, tái tạo sức lao động của tôi (và vợ con) thôi, chẳng tạo ra giá trị thặng dư cho ai cả, kể cả tôi. Vì thế mà lao động của tôi không là lao động sản xuất, tôi chỉ là thằng ăn bám thôi sao ?


> Trái lại, lao động nào không tạo ra giá trị thặng dư, thì không coi là lao động sản xuất.

** Tôi khó tin rằng Marx sẽ viết y chang như thế trong một tác phẩm hoàn chỉnh, đưa đăng. Ông đã từng phân biệt tái sản xuất đơn thuần, có thực trong lịch sử, hiện nay vẫn có thực trong một số cộng đồng người sống trong những rừng thẳm của Amazonie, với tái sản xuất mở rộng. Chỉ trong tái sản xuất mở rộng mới có giá trị thặng dư. Thế thì trong tái sản xuất đơn thuần, không có gì đáng gọi là lao động sản xuất hay sao ? Nếu thế, xã hội lấy gì mà ăn ?

Hơn thế, ngay hôm nay, ngay đối với nhiều công ty tư bản lớn, cũng có hiện tượng này : sau một quy trình sản xuất – tiêu dùng, chỉ có anh Nhà nước, anh Ngân hàng và vài anh khác được chén giá trị thặng dư thôi, anh công ty thì… huề vốn. Không lẽ cả quá trình sản xuất kia đều không coi như lao động sản xuất ? Cách đây không lâu lắm, trước cuộc "cách mạng" tân tự do, nghệ thuật quản lý ở nhiều công ty tư bản lớn của Pháp tập trung vào điểm này : khai làm sao cho không có lời để khỏi phải đóng thuế !5

Ngoài ra, khái niệm giá trị thặng dư không thể đồng nhất với khái niệm tư bản được.

a/  anh "thợ" thủ công, một mình lao động trong tiệm nhỏ nhoi của mình, đem sản phẩm ra thị trường bán. Không những anh kiếm được tiền để tái tạo sức lao động của anh mà còn dư ra để mua đồ nghề tối tân hơn và phát triển cửa tiệm của anh. Món tiền dư ra đó là giá trị thặng dư đúng theo định nghĩa của Marx, đúng không ? Nhưng phải điên điên mới coi anh là nhà tư bản đang bóc lột chính mình.

b/  cũng anh thợ ấy, bán sức lao động của mình cho một ông chủ, đúng giá thị trường, mỗi ngày làm việc y chang, thậm chí còn nhiều hơn thế. Nhưng lương chỉ đủ để tái tạo sức lao động của mình thôi, phần giá trị dư ra trong hàng hoá đi về tay ông chủ. Lúc ấy, có quan-hệ tư bản.

Phải có giá trị thặng dư mới có thể có hình thái kinh tế tư bản hay bất cứ hình thái bóc lột sức lao động nào khác trong lịch sử. Nhưng không nhất thiết là một khi đã có giá trị thặng dư thì hình thái kinh tế tư bản trường tồn, vĩnh cửu. Vì thế mà người đời đã từng và sẽ mơ ước tới một hình thái kinh tế khá hơn.


Tôi xin tránh bàn về giáo dục và nghệ thuật. Lôi thôi lắm, sản phẩm của nó là cái quái gì ? Chỉ mới đề cập tới mấy vấn đề đơn giản trên thôi cũng đủ nhức đầu rồi.


> Như thế, tôi bối rối vì thấy hình như anh nhận xét oan cho Marx.

Đây là nội dung chủ yếu và kết luận của bài thảo luận của anh. Tôi mạn phép tóm tắt thế này : khi PHĐ dùng hình ảnh đống cát của ĐTL để phê phán định nghĩa khái niệm giá trị sử dụng của hàng hoá của Marx trong TBL-I, hình như anh ấy đã xét oan cho Marx không biết rằng hình ảnh ấy chỉ minh hoạ một quan điểm của chính Marx về giá trị (sử dụng ?) do sự di chuyển hàng hoá mà hình thành, đã được đăng trong TBL-II.

Anh suy luận như thế cũng phải. Sự kiện đúng là thế, người đời, kể cả tôi, tán thành anh ngay. Còn xét oan hay không thì… tuỳ. Làm ông quan toà trong lĩnh vực này không đơn giản tí nào.

Nhưng điều này, quan trọng hơn nhiều, thì không oan uổng cho Marx tí nào : định nghĩa khái niệm "giá trị sử dụng của hàng hoá" của ông trong TBL-Iduy vật máy móc. Và đây là một khái niệm gốc trong tư duy kinh tế của ông, hai tác phẩm gốc do chính ông cho đăng đều bắt đầu với định nghĩa ấy.

Chính vì thế mà nó không thể nào dung túng được quan điểm "giá trị sử dụng do sự di chuyển hàng hoá mà hình thành" mà ông đã đề ra trong quá trình thai nghén dở dang của ông để viết TBL-II.

Thú thực, tôi không ngờ rằng khi tôi dùng hình ảnh đống cát của anh, tôi đã dùng gậy ông đập lưng ông. Lỗi tại anh đó, tại kiến thức và tài minh hoạ của anh đó.

Cũng chính vì thế mà tư duy kinh tế mácxít đã bế tắc và thất bại khi phải đương đầu với nền kinh tế tư bản phát triển ở thế kỷ 20. Theo tôi, nó cũng chỉ bế tắc tạm thời thôi vì hình thái kinh tế tư bản còn lù lù đó, và không có tư tưởng của Marx thì không thể hiểu được nó. Người đời còn quý trọng tư tưởng ấy, tuy ít, không phải là số 0. Bề gì thì mỗi cuộc khủng hoảng kinh tế ngày nay lại khiến người ta nhao nhao bàn lại nhiều vấn đề mà ông đã phân tích ít nhiều cặn kẽ.

Đó là suông và giới hạn trong một vấn đề thôi, chứ về tình thì tôi không trách Marx tí gì cả mà ngược lại : làm được những gì ông đã làm cũng tày trời rồi.

Bây giờ ta đã biết sự kiện trên, thì còn vấn đề này : quan điểm trên đúng sai thế nào, mang lại gì mới cho phép ta hiểu thêm Marx hay giải quyết được những khuyết điểm hay bế tắc có ngay trong học thuyết kinh tế mà chính ông đã khẳng định khi ông cho đăng. Đó mới là điều quan trọng. Đối với chính mình, đối với chính ông, đối với người đời. "Kế thừa" tư tưởng của Marx, đối với tôi, là như thế.


Tổng kết cuộc thảo luận, đối với tôi.


1/ Marx có một học thuyết kinh tế đã thành văn bản hoàn chỉnh do chính ông xác nhận, gồm :

a/ Góp phần phê phán kinh tế chính trị học

b/ TBL–Quyển I

Phần này đủ giúp ta hiểu kinh tế thị trường và kinh tế tư bản ở mức cơ bản nhất. Nhưng khiếm khuyết nặng nề trong một lĩnh vực : khái niệm "giá trị sử dụng của hàng hoá", một khái niệm nền tảng trong học thuyết ấy.

2/ Marx có một số ý tưởng lẻ tẻ khác về "giá trị sử dụng", trong những tài liệu làm việc mà ông để lại sau khi chết. Những ý tưởng ấy cho phép ta ý thức "giá trị sử dụng" một cách khác hơn, nhưng không thể đồng nhất được với định nghĩa của khái niệm "giá trị sử dụng" trong học thuyết đã được ông khẳng định.

Để vượt khái niệm "giá trị sử dụng" kinh điển của ông và thống nhất một cách hữu lý nhất quán tất cả các ý tưởng có giá trị của ông về "giá trị sử dụng của hàng hoá", phải vận dụng một quan điểm đặc biệt về hành-động của con người, về quan-hệ-kinh-tế trong không-thời-gian. Quan điểm ấy đã có mầm trong triết lý của ông và Engels. Nhưng chưa được vận dụng triệt để, nhất quán trong học thuyết kinh tế của ông.

3/ tôi chỉ biết rõ điểm 1/.

Điểm 2/, vì đủ thứ lý do, hoặc tôi đã không chú ý hoặc tôi chưa hề đọc (TBL-4).

Và tôi xin thú thực : cách đây vài chục năm, khi tôi tìm hiểu học thuyết kinh tế của Marx, dù có quan tâm tới điểm ấy thì tôi cũng không hiểu nổi tầm quan trọng của nó. Phải sau khi tiếp cận những vấn đề mà ngành vật lý và sinh học hiện đại đặt ra cho tư duy, sớ rớ tới… dịch văn, ta tư duy bằng ngôn ngữ mà, và chỉ sau khi viết Tư Duy Tự Do để sòng phẳng giải quyết những mâu thuẫn mung lung trong đầu mình, thì tôi mới có khả năng hiểu và đánh giá nó.

Hôm nay, được biết tới, tôi mừng :

a/ rất khớp với vài điều tôi đã nghĩ ra một mình và đã đăng.

b/ hậu sinh đã có thêm yếu tố để làm nốt chuyện Marx đã bỏ dở.

Chúng ta đọc Marx không để thờ văn bản của ông, nhất là từng mẩu lẻ tẻ một. Để hiểu thế giới ta đang phải sống.

Nếu những ý tưởng ông để lại đâu đó, tuy đúng ở mặt nào đó, nhưng lại phủ nhận lẫn nhau vì chưa hoàn chỉnh và, do đó, chưa cho phép ta hiểu chúng một cách hợp lý nhất quán, ta nên tự tìm hiểu thêm. Biết đâu…

Trong vấn đề này, anh đã biết rõ những ý tưởng của Marx trong điểm 2/, lại đang ở tuổi sung sức, minh mẫn. Vậy, tôi xin chúc anh thành công trong cuộc tìm hiểu này. Đáng làm lắm.

Cảm ơn anh đã cho tôi một dịp suy nghĩ lại những vấn đề quan trọng này.


Phan Huy Đường

2009-07- 02




1 Contribution à la Critique de l’Économie Politique, Éditions Sociales, 1966, tr. 7. PHĐ nhấn mạnh.

2 Contribution à la Critique de l’Économie Politique, Éditions Sociales, 1966, tr. 7. PHĐ nhấn mạnh.

3 Contribution à la Critique de l’Économie Politique, Éditions Sociales, 1966, tr. 8. PHĐ nhấn mạnh.

4 chính cái từ nhập nhằng này khiến Marx bối rối, phải phân biệt "tiêu dùng đơn thuần" với "tiêu dùng để sản xuất". Nếu ta gọi "tiêu dùng để sản xuất" là "chế biến trong không-thời-gian" thì mọi chuyện sẽ rõ liền. Tư duy của con người lệ thuộc ngôn ngữ của chính nó như thế đó.

5 Đây là một hậu quả của quá trình cải tổ tổ chức theo lôgích "toàn cầu hoá" của hãng Procter & Gamble, một trong 10 hãng lớn nhất trên thế giới.

1/ Trụ sở : ở Thụy Sĩ, nắm hết marques và brevets, tập trung quyền quyết định. Small is beautiful mà.

2/ Các xí nghiệp sản xuất tứ xứ biến thành công ty độc lập, vốn 100% Procter & Gamble. Đầu vào : phải mua vật liệu của Procter & Gamble, rất lợi, vì nó mua khối lượng lớn cho toàn bộ các nhà máy của nó trên thế giới nên rẻ. Đầu ra : phải bán cho Procter & Gamble vì chỉ có nó mới có sức mua hết và điều đình giá bán với các anh dịch vụ Super Marché không lồ ở tứ xứ.

3/ Xí nghiệp sản xuất càng không có lời càng tốt : khỏi phải đóng thuế cho nhà nước. Khi cần, thì dẹp. Nhẹ nhàng : đây là chuyện nội bộ của Pháp hay nước nào đó thôi.

4/ tất cả các thứ khác, văn phòng, ăn uống cho nhân viên et tutti quanti : thuê người khác làm, khi cần dẹp thì rất nhanh và chẳng bị phiền hà gì cả.

Phải chăng vì vậy mà mấy anh lao động ở Pháp et tutti quanti đều không là lao động sản xuất ?



Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss