Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á

Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á



Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh
hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á




Hồ Bạch Thảo




Tuy rằng kim chỉ nam [chỉ nam châm 指南針] được sáng chế trước thời nhà Tần, nhưng mãi cho đến đời Tống dụng cụ này còn khá đơn giản, chỉ có hai hướng nam bắc mà thôi. Bắt đầu từ đời Nguyên, kim chỉ nam được phân định 48 hướng ; nhờ vậy sử dụng vào việc hàng hải đáng tin cậy hơn. Kim chỉ nam thời nay dùng 360 độ, trước kia có 48 hướng, như vậy vào thời ấy khoảng cách giữa 2 hướng kế tiếp là 7,5 độ [360 : 48 = 7,5]

Qua bài Biển Giao Chỉ (1) chúng tôi đã đề cập đến Chu Khứ Phi, một vị quan tại vùng Lãnh Ngoại, thời Tống Quang Tông [1190-1194]. Qua tác phẩm LÃNH NGOẠI ÐẠI ÐÁP ông cho biết tàu thuyền đến các nước Phiên [tên người Trung Quốc xưa gọi các nước thuộc Ðông Nam Á ngày nay] phải qua biển Giao Chỉ [Giao Chỉ dương] rồi theo hướng nam mà đi.

Ðời Nguyên Chu Ðạt Quan, trong CHÂN LẠP PHONG THỔ KÝ, dùng kim chỉ nam với 48 hướng, mô tả hải trình đến nước Chân Lạp [Cam Pu Chia] như sau :

“ Khởi hành từ Ôn Châu [thuộc tỉnh Chiết Giang] theo hướng Ðinh Mùi [202,5 độ] qua các hải cảng tại Mân [Phúc Kiến], Quảng [Quảng Ðông], biển Thất Châu [phía đông đảo Hải Nam], biển Giao Chỉ, rồi đến Chiêm Thành. Lại từ Chiêm Thành theo chiều gió khoảng nửa tháng đến Chân Lạp. Từ Chân Lạp theo hướng Khôn Thân [232,5 độ] qua biển Côn Lôn, rồi vào cảng.(2)

Cần lưu ý biển Côn Lôn là vùng biển xung quanh Côn Ðảo hiện nay ; vị trí Côn Ðảo với núi cao là điểm nhắm khá chính xác, để tàu bè Trung Quốc xưa lấy hướng đi xuống các nước Ðông Nam Á.

Dưới thời Minh, Trịnh Hoà dẫn một đoàn quân đến thị uy và thăm viếng vùng Ðông Nam Á, chuyến hành trình được gọi là “ Trịnh Hoà hạ Tây Dương ”. Cuộc hải hành sử dụng 63 chiếc bảo thuyền, mỗi thuyền chiều dài 44 trượng 4 xích [151,18 mét], rộng 18 trượng [61,6 mét], có 9 cột buồm, sử dụng 12 chiếc buồm, vật dụng nặng đến mấy ngàn cân, cần dùng 200 người chuyên điều hành. Về kỹ thuật Trịnh Hoà sử dụng kim chỉ nam 48 phương vị, kết hợp với “ quà dương khiên tinh thuật ” tức thuật quan sát thiên văn để dẫn đường. Minh Sử chép “ Bảo thuyền cao lớn như lầu, đáy nhọn, phía trên rộng, có thể chứa hàng ngàn người ”. Trước sau Trịnh Hoà hạ Tây Dương 7 lần ; 6 lần đầu dưới thời Minh Thái Tông, lần cuối dưới thời Minh Tuyên Tông :

- Lần thứ nhất từ năm 1405 đến 1407

- Lần thứ 2 : 1407-1409

- Lần thứ 3 : 1409-1411

- Lần thứ 4 : 1413-1415

- Lần thứ 5 : 1417-1419

- Lần thứ 6 : 1421-1422

- Lần thứ 7 : 1430-1433

Thống kê tất cả hải trình bao gồm 20 tuyến hàng hải :

- Tuyến thứ nhất từ Ngũ Hổ Môn, Phúc Kiến đến Chiêm Thành, mất 10 ngày đêm ; hành trình đi qua duyên hải Quảng Ðông, biển Giao Chỉ, rồi đến Chiêm Thành.

- Tuyến thứ 2 từ Chiêm Thành đến nước Chân Lạp, mất 3 ngày đêm.

-Tuyến thứ 3 từ Chiêm Thành đến nước Tiêm La [Thái Lan] mất 10 ngày đêm.

- Tuyến thứ 4 từ Chiêm Thành đến núi Giao Lan [nay thuộc Lan Ðảo, Indonesia], mất 10 ngày đêm.

- Tuyến thứ 5 từ Chiêm Thành đến nước Trảo Oa [Java] mất 20 ngày đêm.

- 15 tuyến còn lại gồm hài trình giữa các nước từ Mã Lai trở xuống phía nam. (3)


Vào gần cuối triều Minh, một bộ sách nổ tiếng về hàng hải ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 45 [1617], được đưa vào TỨ KHỐ TOÀN THƯ. Sách mamg tên ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO, tác gỉả là Trương Tiếp. Ông người đất Long Khê, đậu cử nhân năm Vạn Lịch thứ 23 [1595]. Ðể hoàn thành tác phẩm, tác giả đã tham khảo hàng trăm bộ sách nổi tiếng, cùng nhiều loại HẢI ÐẠO CHÂM KINH tức tài liệu dẫn đạo hàng hải ; bao quát chi tiết về chỉ nam châm, thiên văn, và thuỷ văn của các chuyến hải trình. Phần lớn tư liệu trong bộ sách này thiên về thực dụng, cung cấp các tài liệu hàng hành cho các thuyền Trung Quốc dưới thời nhà Minh hàng hải đến các nước vùng đông nam Á. Trương Tiếp cho biết trên mỗi thuyền phải có một châu sư [navigator], căn cứ vào tài liệu có sẵn, hướng dẫn thuyền đi đúng hải trình. Tài liệu cung cấp 3 yếu tố căn bản, buộc các châu sư phải lưu ý :

- Phương hướng : trên thuyền có kim chỉ nam, lẽ dĩ nhiên không dùng độ như ngày nay, nhưng nếu chịu khó tìm hiểu cũng có thể đổi [decode] ra được ; ví như hướng đơn Hợi = 330 độ ; hướng Nhâm Tý = 352,5 độ.

- Khoảng cách : không tính bằng dặm, mà tính bằng canh ; một ngày một đêm có 10 canh.

- Ðộ sâu : không tính bằng thước mà tính bằng sải tay. Ðây cũng thiên về thực dụng, lúc thuỷ thủ dòng dây từ thuyền xuống đáy biển, khi kéo dây lên dùng sải tay đo đếm dễ dàng, mỗi sải tay khoảng 1,6 m.

Giống như hải trình của Trịnh Hoà đến các nước Ðông Nam Á ; trong quyển 9, ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO, Trương Tiếp cho biết các thuyền buôn Trung Quốc cũng đi qua biển Giao Chỉ. Thuyền được mô tả “ lớn rộng 3 trượng 5 hoặc 6 xích (4), dài hơn 10 trượng ; thuyền nhỏ rộng 2 trượng, dài khoảng 7,8 trượng. Trên thuyền trang bị vũ khí cung, tên, đao, thuẫn đầy đủ, gặp giặc đến mọi người cương quyết tự vệ ; thuyền chắc như trường thành, không dễ gì bị huỷ hoại. Khi tạo thuyền tổn phí hơn ngàn lượng vàng, hàng năm tu bổ không dưới 500 lượng ; ngoài số tiền chủ thuyền bỏ ra, các con buôn đóng góp vào như kiến tha vào tổ ; kinh phí lớn gấp 3 thuyền chiến, nên ắt phải chắc chắn hơn.” Tuy nhiên đây là thuyền buôn cần phải bán hàng dọc theo hải trình, nên lần lượt ghé qua các hải cảng tại miền nam nước Ðại Việt, Chiêm Thành, trước khi hướng kim chỉ nam về đảo Côn Sơn, để đi xuống vùng Ðông Nam Á. Hải trình tiêu biểu lần lượt qua những chặng như sau :


Bản đồ 1 : Hàng hải từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á


ha

- Ô Trư sơn : [tại cửa sông Châu Giang tỉnh Quảng Ðông] Trên có miếu Ðô Công, khi thuyền qua biển này, mang lễ vật cúng lạy từ đằng xa, xin thần phối hưởng, dùng thuyền giấy rực rỡ tống tiễn thần. Từ biển này theo dòng nước 10 sải tay, hướng đơn Thân [240 độ], đi 13 canh đến Thất Châu Dương.

- Núi Thất Châu, Thất Châu dương : QUỲNH CHÂU CHÍ chép Thất Châu Dương tại phía đông huyện Văn Xương 100 lý ; trên biển có 7 ngọn núi nhô lên liên tiếp, trong có nước suối ngọt có thể uống được. Thời nhà Nguyên, Lưu Thâm truy kích Tống Trang Tông, bắt thân thuộc là Lưu Ðình Khuê tại nơi này. Tục truyền thời xưa có 7 châu chìm xuống dưới biển ; thuyền đến mang súc sinh và cháo cúng thần, không tuân sẽ biến thành ma đói. Thuyền đi qua rất nguy hiểm, lệch sang hướng đông phạm vào Vạn Lý Thạch Ðường ; nơi mà QUỲNH CHÍ chép là phía đông châu Vạn có biển Thạch Ðường, thuyền đến đó ít có chiếc nào thoát hiểm. Từ châu Thất Dương theo hướng Khôn Mùi [217,5 độ], thời gian 3 canh đến Ðồng Cổ Sơn.

- Ðồng Cổ sơn : QUẢNG ÐÔNG THÔNG CHÍ chép núi tại phía đông bắc huyện Văn Xương. Dân Liêu đúc đồng thành trống lớn, treo trước đình ; gặp giặc thù đến thì đánh trống báo động, mọi người đến đông đúc. Sau đó vùi vào núi này, dân địa phương đào lấy được nên có tên như vậy ; QUỲNH CHÂU CHÍ nói biển Ðồng Cổ thực thâm hiểm. Theo hướng Khôn Mùi [217,5 độ], thuyền đi 4 canh đến Ðộc Châu Sơn.

- Ðộc Châu sơn : tên tục là Ðộc Trư sơn ; QUỲNH CHÂU CHÍ chép Ðộc Châu sơn [獨州山] còn có tên là Ðộc Châu sơn [獨珠山], tại phía đông nam châu Vạn. Ðỉnh núi cao trên biển, chu vi 5,6 chục lý ; các nước phương Nam đến cống, thuỷ trình lấy núi này làm chuẩn, biển này gọi là Ðộc Châu dương ; người đi thuyền nói trên núi có miếu Linh Bá, khách vãng lai thường tế hiến. Theo dòng nước 65 sải tay, hướng Khôn Mùi [217,5 độ], thời gian 10 canh đến biển Giao Chỉ.


Bản đồ 2 : Hàng hải từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á

hb

- Từ biển Giao Chỉ theo hướng Khôn Mùi [217,5 độ], thời gian 11 canh [1 canh = 2giờ 24 phút] đến núi Ngoại La. Núi này trông xa như một cửa thành, đến gần thấy phía đông cao, phía tây thấp, có hồ Liễu Tử, phía tây có hòn Cổ Lão.

Căn cứ vào khoảng cách, phương hướng và sự mô tả ; Ngoại La Sơn hay núi Ngoại La có thể là cù lao Ré, tức huyện đảo Lý Sơn, vì tại đây có hòn lớn và hòn bé, ngoài biển từ xa nhìn vào như hai cột của cửa thành. Ngoài ra sách VIỆT SỬ CƯƠNG GIÁM KHẢO LƯỢC [越史綱鍳考畧] của Nguyễn Thông chép về đảo Lý Sơn có câu 理山島又名外岣嶗 俗稱外嶗 [Lý Sơn đảo hựu danh Ngoại Cù Lao, tục xưng Ngoại Lao] Ðảo Lý Sơn lại có tên là Ngoại Cù Lao, dân thường gọi là Ngoại Lao ; phải chăng người Trung Quốc đọc chệch hai chữ “ Ngoại Lao ” thành “ Ngoại La ” ?

- Từ Ngoại La Sơn thuyền men theo phía tây, theo luồng nước sâu 45 sải tay, hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 3 canh đến cầu Mã Lăng, trong đó là Ðề Di, một huyện của Giao Chỉ.

Sách ÐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (5) của nước ta chép : Tấn Ðề Di ở phía đông bắc huyện Phù Cát [Bình Ðịnh], rộng 11 trượng, thuỷ triều lên sâu 6 thước, thuỷ triều xuống sâu 4 thước, phía tây có đầm nước ngọt, thuyền buôn thường đỗ tại đây, thủ sở tại địa phận thôn An Quang….

Nơi đây thuộc lãnh thổ Việt Nam, nên cũng cần biết qua cách thức giao dịch giửa chủ thuyền buôn Trung Quốc cùng quan lại và dân chúng nước ta ; sự việc được chép trong mục Giao dịch, quyển 1 Giao Chỉ, ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO :

Khi thuyền buôn ghé, mang lụa đến trình báo Tù trưởng. Sau đó viên chủ thuyền đến gặp Tù Trưởng, hành lễ 4 vái ; dâng lễ cống phương vật, số lượng đã thành qui định. Tù trưởng đãi ăn và cấp cho bài gỗ, treo bài tại nhà lồng chợ để dân tự do mua bán. Viên Tù trưởng lên xe đi, giao cho viên quan lo việc mậu dịch trông coi. Tù trưởng tại Quảng Nam có thể ra hiệu lệnh cho các Tù trưởng địa phương tại Liệt Can, Ðông Kinh, Ðề Di, Tân Châu. Phàm thuyền buôn ghé tại Tân Châu, Ðề Di phải đi mấy ngày đến Quảng Nam nhập cống ; viên Tù trưởng Quảng Nam cấp bài gỗ giao cho. Dân thấy bài gỗ thì kính cẩn, không dám to tiếng. Tại Thuận Hoá có nhiều phụ nữ đến mua bán, phụ nữ để tóc trần gió bay phất phơ, đưa trầu cau mời ăn để tỏ vẻ ân cần. Riêng sĩ nhân yêu thích sách, đem nhiều tiền để mua.

Mở Tống Sử ra xem cũng chép rằng cống sứ An Nam đến kinh đô, xin được mua sách ; quan phụ trách bảo rằng pháp luật không cho. Chiếu vua khen là biết mộ điều phải, chấp nhận ; chứng tỏ rằng người nước đó thích sách không phải chỉ có một lần !

- Từ cầu Mã Lăng tại Ðề Di theo luồng nước sâu 25 sải tay, bờ phía nam có đá ngầm, khi ra khỏi theo hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 4 canh đến bán đảo Giao Bôi, tức cảng Tân Châu. Tại đây hình thế 2 bán đào như 2 chén giao nhau, nên có tên là Giao Bôi.

Ðịa danh Tân Châu, được xác định trong MINH THỰC LỤC ; khi tường thuật việc phái đoàn nhà Minh cầm đầu bởi Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong Vương cho Bàn La Trà Duyệt, theo thông lệ ghé đến cảng Tân Châu [gần thành Chà Bàn, Quy Nhơn], thì được biết vùng này đã bị An Nam chiếm. Bèn hàng hải tiếp đến Linh Sơn thì được tin cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt. Vì trên thuyền chở nhiều hàng hoá nên phải hành trình tiếp đến Mãn Thứ Gia [thuộc vùng đất Mã Lai hiện nay] để bán hàng, rồi mới trở về Trung Quốc :


Ngày 14 tháng 12 năm Thành Hoá thứ 10 [21/1/1475]

Công khoa Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành không vào được, bèn nạp trở lại những thứ đã mang đi như chiếu sắc, ấn mạ vàng bạc, các vật như lụa, đoạn. Bọn Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong cho Quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng Tân Châu, Chiêm Thành ; quân phòng thủ từ chối không cho vào, người thông dịch cho biết đất này đã bị An Nam chiếm, còn Quốc vương Chiêm Thành tị nạn tại Linh Sơn. Khi đến Linh Sơn thì được biết cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt và đất Chiêm Thành bị đổi tên thành châu Giao Nam. Bọn Tuấn không dám ghé vào ; nhưng thuyền chở hàng hoá tư, cùng nhiều thương nhân, nên giả lấy cớ bị gió bão rồi hàng hải tiếp đến Mãn Thứ Gia buôn bán, lại dụ Vương nước này sai sứ đến triều cống. Đến nay trở về tâu đầy đủ việc An Nam chiếm cứ Chiêm Thành, cùng việc Quốc vương Mãn Thứ Gia cung cấp thức ăn và các nhu yếu phẩm khác, đối đãi lễ nghi rất đầy đủ

(MINH THỰC LỤC v. 45, t. 2553-2554 ; Hiến Tông quyển 136, trang 6a-6b.)


Bản đồ 3 : Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á

hc

- Từ phía trong cảng Tân Châu theo dòng nước sâu 18 sải tay, nhắm hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 3 canh đến Bán Dự. Tại Bán Dự có tháp bằng đá, có thể ghé thuyền. Phía trong theo luồng nước sâu 8,9 sải tay, ngoài sâu 20 sải, phía nam có đá ngầm không thể đến gần, theo hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 3 canh đến Yên Ðổng. Ðây là nơi phân giới giữa Giao Chỉ và Chiêm Thành, nhìn lên thấy mây như ống khói nên đặt tên như vậy ; tuy trời tạnh nhìn lên núi vẫn thấy khí mây bao phủ.

Tuy hai địa danh Bán Dự và Yên Ðổng không ghi trong ÐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ, nhưng căn cứ thời gian hàng hải có thể đoán rằng Bán Dự tức bán đảo Hoà Lợi thuộc huyện Sông Cầu, Phú Yên ; ngoài ra chữ “ bán dự ” cũng có nghĩa là bán đảo. Riêng Yên Ðổng có thể là vịnh Xuân Ðài, giáp giới huyện Tuy An, Phú Yê ; nơi này gần núi cao, mây bao phủ nên gọi là Yên Ðổng chữ này cũng có nghĩa là mây tuôn như ống khói. Ngoài ra theo văn bản MINH THỰC LỤC nêu trên, thì đất Tân Châu đã bị An Nam chiếm, vua Chiêm trốn về Linh Sơn, vậy thời gian cuối thế kỷ thứ 15, Yên Ðổng có khả năng là nơi phân giới giữa An Nam và một phe Chiêm Thành (6). Riêng ÐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ xác nhận biên giới lúc bấy giờ tại núi Thạch Bi huyện Tuy Hoà ; núi Thạch Bi cao, có chi nhánh chạy ra biển ; vậy phải chăng các địa danh Yên Ðổng, Thạch Bi đều chỉ chung một rặng núi.

- Từ Yên Ðổng theo hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 3 canh đến Linh Sơn. Nơi đây là một thắng cảnh, núi đảo liên tiếp, dưới thì sông suối quanh co như dây đai, trên có núi hình như đầu Phật nên có tên là Linh Sơn. Thuyền bè vãng lai, người sùng đạo Phật tụng kinh, thả đèn hình giống thuyền trên sông, để cầu khỏi tai họa trên biển.

Theo sự mô tả nêu trên, cùng MINH THỰC LỤC, thì địa danh Linh Sơn có thể là thị xã Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên ngày nay. Từ đó thuyền ra khỏi mũi Ðại Lãnh, hướng kim nam châm thẳng đến đảo Côn Lôn, hoặc men theo bờ bể tiếp tục cuộc hải hành như sau :

- Từ Linh Sơn theo luồng nước sâu 60 sải tay, nhắm hướng đơn Ngọ [180 độ], thời gian 2 canh đến Già Nam Mạo. Trong cảng này có 3 đảo nhỏ, lúc thuỷ triều lên thì không thấy. Qua núi, theo luồng nước sâu 15 sải tay, nhắm hướng Khôn Mùi [217,5 độ] thời gian 5 canh từ Khuê Long vào La Loan Ðầu tức cảng Chiêm Thành.

Căn cứ và thời gian hàng hải phỏng đoán rằng Giả nam Mạo tức Mũi Gành tại phía bắc tỉnh Khánh Hoà, còn cảng Chiêm Thành tức thành phố Nha Trang.

- Từ La Loan Ðầu theo luồng nước sâu 50 sải tay, nhắm hướng Khôn Thân [232,5 độ], thời gian 5 canh tới Xích Khảm Sơn. Ðời Tống vua Chiêm Thành trốn Giao Chỉ thường dời đến ở đây.

Theo hướng kim chỉ nam được ghi nhận dưới đây, từ Xích Khảm Sơn theo hướng 210 độ đến đảo Côn Lôn ; như vậy ngược lại từ đảo Côn Lôn đến Xích Khảm Sơn là [(210+180)-360=30] 30 độ. Trên bản đồ hãy dùng kim chỉ nam đặt tâm điểm tại Côn Sơn, theo hướng 30 độ sẽ dẫn tới Phan Rang ; vậy Xích Khảm Sơn tức thị xã Phan Rang.

-Từ Xích Khảm Sơn theo hướng đơn Mùi [210 độ], thời gian 15 canh đến núi Côn Lôn. Ðây không phải địa danh Côn Lôn trên nguồn sông [chỉ núi Côn Lôn tại Trung Quốc], mà chính là thắng cảnh Côn Lôn trên biển cả. Nơi đây núi cao mà vuông, chân núi rộng ; tục ngữ cảnh báo dân đi biển rằng : thượng phạ Thất Châu, hạ phạ Côn Lôn (sợ nhất là Thất Châu, rồi đến Côn Lôn) ; vì qua những nơi này nếu không cẩn thận đi lệch hướng kim nam châm hoặc lạc tay lái, có thể đâm vào chốn nguy hiểm khó tồn tại. Tại Côn Lôn theo hướng đơn Canh [255 độ] và Canh Dậu [262.5 độ] sẽ đến Tiểu Côn Lôn.

Theo TẬP BẢN ÐỒ HÀNH CHÍNH 64 TỈNH, THÀNH PHỐ VIỆT NAM của Nhà Xuất Bản Bản Ðồ, tại đảo Côn Sơn có núi An Hải cao 577 mét, từ đảo chính theo hướng 255 độ có đảo Hòn Bà.


Bản đồ 4 : Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á

hd

- Từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Thân [232,5 độ] cùng Canh Dậu [262,5 độ], thời gian 30 canh đến Cát Lan Châu. Cát Lan Châu là bến cảng của nước Ðại Nê. Xưa gọi là Bột Nê [Borneo 渤泥], nước này thường đến triều cống Trung Quốc qua tỉnh Phúc Kiến.

- Từ núi Côn Lôn theo hướng Tân Dậu [277,5 độ] thời gian 26 canh đến Lục Khôn, đó là thuộc quốc của nước Tiêm La.

- Lại từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Mùi [217,5 độ] thời gian 30 canh đến Ðấu Dự, lại theo hướng Ðinh Ngọ [187,5 độ] đến nước Bành Hanh [tức Pahang thuộc Mã Lai]


*


Qua hai bài khảo luận Biển Giao ChỉTrung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á chúng ta thấy rằng suốt trong 3 triều đại Tống, Nguyên, Minh vắng bóng những chuyến hải hành qua vùng biển chữ U, mà Trung Quốc hiện nay lớn tiếng đòi chủ quyền. Nếu một, hai lần các tác giả Trung Quốc nhắc đến Vạn Lý Thạch Ðường, tức quần đảo Hoàng Sa của ta, thì cũng chỉ báo động chỗ đó là nơi nguy hiểm chớ nên đến mà thôi ; như tác giả LÃNH NGOẠI ÐẠI ÐÁP mô tả “ Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường rộng vạn dặm, nước thuỷ triều thi triển đẩy vào chốn cửu u. Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này, nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều, nên may thoát được ” hoặc tác gỉả ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO từng báo động “ Phía đông châu Vạn [thuộc đảo Hải Nam] là biển Vạn Lý Thạch Ðường, thuyền lạc vào đó khó thoát được.” (7)

Hồ Bạch Thảo





(1) Biển Giao Chỉ, Diễn Ðàn forum, ngày 9/4/2010.

(2) Chỉ Nam Châm, trang mạng Duy Cơ Bách Khoa.

(3) Trịnh Hoà hạ Tây Dương, Tự Do đích bách khoa toàn thư.

(4) 1 trượng = 10 xích ; 1 xích = 0,32 mét.

(5) ÐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ, bản dịch của Viện Sử Học, tập 3, trang 47.

(6) Theo sử Việt, sau khi đánh bắt Trà Toàn, vua Lê Thánh Tông chia Chiêm Thành thành 3 nước nhỏ.

(7) ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO, quyển 9.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss