Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Trung Quốc tiếp tục cách mệnh / Trung Quốc tiếp tục cách mệnh (3 và hết)

Trung Quốc tiếp tục cách mệnh (3 và hết)

Chương ba : Triển khai cuộc vận động phản đế [1923-1926]



Trung Quốc tiếp tục cách mệnh,
cùng chính sách liên Nga dung Cộng


Hồ Bạch Thảo


Chương ba

Triển khai cuộc vận động phản đế
[1923-1926]


ttl

Trương Tác Lâm [1875-1928]
Lãnh tụ quân phiệt Phụng hệ
nguồn : zh.wikipedia.org/zh/张作霖


1. Trực hệ tan rã


Ngô Bội Phu một thời vươn lên, chẳng phải toàn dựa vào sức mình ; bấy giờ được dư luận đồng tình, nên gây ảnh hưởng rất lớn. Nhưng sau đó, cái mà Ngô tự cho là không có kẻ đối địch, dẫn đến chiến tranh không ngớt, rồi hành động sai lầm, đi đến chỗ suy sụp. Những sự kiện như Lê Nguyên Hồng bị đuổi, Tào Côn soán chức, lòng dân khinh thường Trực hệ, mối thất bại trở thành hiển nhiên. Rồi Phụng hệ, Hoán hệ, Tôn Trung Sơn lập trận tuyến chống Trực hệ, trong nội bộ thì quân nhân hai lòng, khiến sụp đổ mau.


Khởi đầu cuộc chiến phát xuất từ các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang. Lô Vĩnh Tường chiếm giữ đất Chiết Giang là phần đất duy nhất còn lại của Hoán hệ, Lô chống lại Trực hệ mọi việc ; nên Tào Côn, Ngô Bội Phu coi như cái đinh trong mắt. Đốc quân Trực hệ Tề Biến Nguyên, địa vị chỉ dưới Ngô Bội Phu một bực, có tranh chấp sát nách với Lô về công xưởng hải quân và thuế thuốc phiện tại Thượng Hải. Tháng 7/1923 có tin đồn rằng Trực hệ sắp đánh Chiết Giang, Thượng Hải ; các thân sĩ tại vùng này vận động phản đối, khiến Công sứ các nước Anh, Mỹ, Pháp, Nhật kháng nghị cảnh cáo, nên được tạm thời vô sự. Tháng 11, viên Cảnh sát trưởng tại Thượng Hải bị giết, Tề Biến Nguyên bèn cử người kế chức, nhưng viên này không dám đến trấn nhậm ; tình hình trở nên căng thẳng, tạo thành cái thế hai bên vũ khí sẵn sàng. Lúc bấy giờ Đốc lý Phúc Châu [Fuzhou, Phúc Kiến] Tôn Truyền Phương, ở vào thế không được đắc chí, bèn hướng lên Chiết Giang phát triển, cấu kết với Tề Biến Nguyên. Tháng 1/1924 có một chi quân binh thuộc Hoán hệ bị Tôn đánh đuổi, chạy lên Chiết Giang, Lô Vĩnh Tường thu nạp đám quân này ; Ngô Bội Phu đòi giải tán nhưng bị cự, bèn sai Tề, Tôn tiến binh. Lô ở thế bị Trực hệ bao vây, tự cho rằng thực lực có thể chống lại Tề, Tôn ; lại có Trương Tác Lâm, Tôn Trung Sơn đồng minh, nên không chịu kém. Vào ngày 3/9 cuộc chiến tranh giữa Tề, Lô bộc phát tại Thượng Hải, Giang Tô ; binh lực mỗi bên khoảng 5, 6 vạn người. Tôn Trung Sơn lập tức tuyên bố bắc phạt, Trương Tác Lâm điều Phụng hệ tây tiến, Đoàn Kỳ Thuỵ cũng thông điện thảo phạt Tào Côn. Tề Nguyên Biến tuy được Ngô Bội Phu cùng An Huy, Giang Tây viện trợ, nhưng không hạ được Lô. Nhưng Tôn Truyền Phương nhờ quân địa phương Chiết Giang làm nội ứng đánh thẳng vào Hàng Châu [Hangzhou, Chiết Giang ], quân Lô phải rút về Thượng Hải ; Chiết Giang rơi vào tay Tôn Truyền Phương. Cuối cùng vào ngày 13/10, Lô không chống nổi Tề, Tôn giáp công, bèn chạy sang Nhật Bản ; tuy nhiên cuộc chiến Trực hệ, Phụng hệ tại phương bắc lại mở màn.


Trước đó 2 năm cho đến nay, Phụng hệ tích cực chỉnh đốn quân bị, khuếch sung binh công xưởng, thành lập không quân ; Nhật Bản là nước chi viện lớn. Trung tuần tháng 9/1924, Phụng quân khoảng 15 vạn, chia đường đến đánh Nhiệt Hà [Chengde, Hà Bắc] và Sơn Hải Quan [Shanhaiguan, Hà Bắc]. Ngô Bội Phu ước tính đại cuộc sai, cho rằng Trương Tác Lâm không dám khinh suất cất quân ; khi sự việc xẩy ra bèn điều quân từ Lạc Dương [Luoyang, Hà Nam] lên Bắc Kinh ; vẫn với thái độ kiêu kỳ, mục hạ vô nhân, cho rằng đánh tất phải thắng. Ngô đích thân điều khiển mặt trận Sơn Hải Quan, giao cho Phùng Ngọc Tường, Vương Hoài Khánh đương đầu phía Nhiệt Hà. Lực lượng Trực hệ kể cả quân hậu bị vào khoảng 25 vạn, lại có hải quân trợ chiến ; nhưng quân bị thiếu, vũ khí kém, lòng quân không hăng, số quân có thể dùng được khoảng 10 vạn. Ngô từng mật đàm với Công sứ Nga Xô Leo Karakhan, hy vọng Nga xô gây áp lực với Phụng quân; lại thương lượng với Công sứ Nhật Bản, Phương Trạch Liêm Cát, chấp nhận cho chuyển quân bằng xe lửa Nam Mãn, nhưng sự thực không thi hành được. Anh, Mỹ thì đồng tình với Ngô, hy vọng Trực quân thắng. Riêng Nhật Bản là nước viện trợ cho Phụng quân, lại lo Trực quân thắng, nội các Nhật quyết định chỉ đạo thích đáng và chi viện thêm cho Trương Tác Lâm, để duy trì quyền lợi tại Mãn Mông. Nhật phái viên Thiếu tá Tùng Thất Hiếu Lương tìm cách dò xét động tĩnh nội bộ phe Ngô. Trong phe này có Phùng Ngọc Tường không hoà hợp với Ngô Bội Phu, lại có mối oán với Tào Côn, nên Phùng kết thân với những tướng lãnh Trực hệ bất mãn với Tào, Ngô, như Hồ Cảnh Dực, Tôn Nhạc và liên lạc với Quốc dân đảng, Nga Xô qua sự móc nối của chính khách Hoàng Phu. Lúc chiến tranh Trực, Phụng mới khởi sự, có thuyết cho rằng Nhật mua chuộc Phùng Ngọc Tường làm phản, qua viên Tư lệnh Nhật trú tại Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc] đưa 100 vạn đồng nguyên Nhật, nhận từ ngân hàng Tam Tĩnh, rồi giao cho Đoàn Kỳ Thuỵ để chuyển giao cho Phùng Ngọc Tường. Riêng theo lời kể của Trương Học Lương, con trai của Trương Tác Lâm, thì chính Học Lương đã hối lộ Phùng Ngọc Tường 50 vạn nguyên 1. Với kế hoạch định sẵn, quân Phùng chần chừ dọc đường, vào ngày 19/10/1924 chờ lúc hai quân Ngô Bội Phu, Trương Tác Lâm giao tranh mạnh tại Sơn Hải Quan [Shanhaiguan, Hà Bắc], bèn mang quân trở về, ngày 23 đột nhập Bắc Kinh, ép Tào Côn phải ra lệnh đình chiến. Quân dưới quyền đổi tên là Quốc dân quân, Phùng giữ chức Tổng tư lệnh kiêm Quân trưởng đệ nhất quân, Hồ Cảnh Dực và Tôn Nhạc lần lượt giữ chức Tư lệnh đệ nhị và đệ tam quân. Ngô Bội Phu nghe tin dữ, định quay trở về Bắc Kinh gấp, nhưng Phụng quân phản công mạnh, quân Nhật lại không cho sử dụng hải cảng Tần Hoàng đảo [Qinhoangdao, Hà Bắc] tại phía tây nam, nên Trực quân tan vỡ nhanh. Ngô Bội Phu theo đường biển trở về nam, toan tính tuyển quân, lập chính phủ tại Vũ Xương [Wugang, Hồ Bắc] nhưng không thành, bèn lên Hà Nam, bị Sư đoàn trưởng Thiểm Tây Hám Ngọc Côn, và Quân trưởng Hồ Cảnh Dực đánh đuổi, phải rút về Hồ Bắc. Một lần thất bại không ngóc đầu lên nổi, vào tháng 1/1925 gửi thân trên quân hạm tại sông Trường Giang, phiêu bạt sinh nhai.


Riêng Phùng Ngọc Tường chiếm được Bắc Kinh, xưng là thủ đô cách mệnh, Tào Côn mất chức, Hoàng Phu giữ chức quyền quốc vụ Tổng lý, nhiếp chính chức vụ Tổng thống. Điều đáng chú ý là chính phủ này bỏ điều kiện ưu đãi tôn thất nhà Thanh, cưỡng bách Phổ Nghi [Tuyên Thống] ra khỏi cung. Bắc Kinh không còn Hoàng đế. Thứ đến Phùng Ngọc Tường mời Tôn Trung Sơn lên Bắc Kinh chỉ đạo việc chính trị ; sau đó bị Phụng hệ làm áp lực phải cùng Trương Tác Lâm đưa Đoàn Kỳ Thuỵ làm lâm thời chấp chính. Ngày 24/11/1924 Đoàn nhậm chức tại Bắc Kinh, nội các nhiếp chính của Hoàng Phu từ chức, Đoàn trực tiếp chỉ huy nội các, không đặt Quốc vụ Tổng lý, người đứng đầu các bộ quá nửa thuộc Hoán hệ ; hiến pháp và lâm thời ước pháp thời Tào Côn đều bị phế.


Các Đốc quân Trực hệ như Tề Biến Nguyên, Tiêu Diệu Nam, Tôn Truyền Phương lúc đầu muốn mang quân viện trợ Ngô Bội Phu, nhưng khi thấy đại thế đã hỏng, bèn tuyên bố ủng hộ Đoàn Kỳ Thuỵ để mong tạm an toàn. Đoàn cũng muốn bảo trì tàn dư Trực hệ, để tạo thế quân bình. Trương Tác Lâm, Phùng Ngọc Tường mưu khuếch trương địa bàn ; dã tâm của Trương rất lớn. Quốc dân quân Tôn Nhạc chiếm lãnh Bảo Định [Baoding, Hà Bắc], Hồ Cảnh Dực giữ chức Đốc biện Hà Nam, dọc theo phía nam thiết lộ Kinh-Hán. Phụng quân, Lý Cảnh Lâm, chiếm lãnh Thiên Tân giữ chức Đốc biện Trực Lệ. Đoàn Kỳ Thuỵ cử Lô Vĩnh Tường làm Tuyên phủ sứ Giang Tô, An Huy, đóng tại Nam Kinh. Trương Tông Xương điều động Phụng quân hướng nam dọc theo thiết lộ Tân-Phố, giữ chức Đốc quân Sơn Đông. Tề Biến Nguyên rút về Thượng Hải, giữa Tề và Lô vẫn ở vị thế kình chống như 3 tháng trước, nhưng đã hoán đổi địa bàn đông, tây. Tôn Truyền Phương sợ Phụng quân của Trương Tông Xương tiến đánh Chiết Giang, tháng 1/1925 giúp Tề Biến Nguyên mang quân chống lại ; nhưng Phụng quân đánh bại Tề quân, tiến đến Thượng Hải, ở thế đối chọi với Tôn Truyền Phương. Qua sự điều đình của Đoàn Kỳ Thuỵ, các quân thuộc Tôn và Phụng đều rút lui ra phía sau, Thượng Hải không còn quân trú đóng, binh công xưởng do Thương hội tiếp quản, được coi như một khu trung lập.


Hám Ngọc Côn đánh đuổi Ngô Bội Phu ra khỏi đất Lạc Dương [Luoyang, Hà Nam], Trịnh Châu [Zhengzhou, Hà Nam], tự coi đất Hà Nam như là của riêng, nhưng Hồ Cảnh Dực không chấp nhận ; tháng 2/1925 Hồ đánh Hám, Đốc quân Thiểm Tây Lưu Trấn Hoa trợ Hám, riêng Tôn Nhạc trợ Hồ ; tháng 2 Hám chiến bại tự tử, Lưu cũng mất luôn đất Thiểm Tây.


Khi cuộc chiến tranh chống Trực Hệ bộc phát, Tôn Trung Sơn định đem toàn lực bắc phạt, bỏ lại mọi thứ, không nghĩ đến việc trở về Quảng Châu ; nhưng các quân phần lớn không tuân mệnh, lại bị Thương đoàn quấy nhiễu, nên chậm chạp không phát động được. Đợi đến lúc Thương đoàn gây biến được dẹp tan, nhân Phùng Ngọc Tường chiếm lãnh Bắc Kinh có lời mời ; Tôn quyết định lên phía Bắc, mệnh Hồ Hán Dân thay mặt giữ chức Nguyên soái, Đàm Diên Khải chủ trì bắc phạt, mang quân lên Giang Tây. Cuộc chiến tranh chống Trực hệ lần này, về mặt quân sự Tôn Trung Sơn không thành công chút nào, nhưng thuở thịnh thời Trực hệ chiếm hơn 10 tỉnh, sau cuộc chiến chỉ còn 3 tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, Hồ Bắc.




2. Chủ trương của Quốc dân đảng đối lập với Trương Tác Lâm, Đoàn Kỳ Thuỵ



Khôi phục Trung Quốc tự do bình đẳng trên trường quốc tế là chủ trương trước sau như một của Quốc dân đảng ; sau khi cải tổ lại càng nhấn mạnh đến tội ác do việc cấu kết giữa quân phiệt và đế quốc. Lúc khởi đầu chiến tranh chống Trực hệ, Tôn Trung Sơn ra tuyên ngôn nêu rõ “ Mục đích cuộc chiến này không chỉ lật đổ Tào, Ngô ; mà sau khi Tào, Ngô bị lật đổ, sẽ vĩnh viễn không có bọn tương tự kế thừa mưu đồ phản cách mệnh. Nói một cách khác, mục đích cuộc chiến đấu này không chi lật đổ quân phiệt, mà muốn đánh vào chủ nghĩa đế quốc, chỗ dựa nuôi dưỡng bọn quân phiệt. Có như vậy Trung Quốc mới thoát ly được hình thức bán thuộc địa, để tạo thành nước tự do độc lập ”. Đối với thời cuộc, chủ trương triệu tập Quốc dân hội nghị, để mưu thống nhất kiến thiết ; đối ngoại phế trừ bất bình đẳng điều ước, đối nội thực hiện dân trị. Trước khi triệu tập Quốc dân hội nghị cần triệu tập dự bị hội nghị do các đoàn thể thực nghiệp như Thương nghiệp, Giáo dục hội, Đại học, Học sinh liên hiệp hội, Công hội, Nông hội cộng đồng phản đối bọn quân phiệt Tào, Ngô. Tháng 11/1924 Tôn Trung Sơn từ Quảng Tây đến Thượng Hải, mở cuộc họp báo, trình bày gốc rễ mối hoạ loạn tại Trung Quốc do quân phiệt và đế quốc chủ nghĩa hiệp trợ cho quân phiệt; nay triệu tập quốc dân hội nghị nhắm đối phó với quân phiệt, đòi phế bỏ bất bình đẳng điều ước nhắm đối phó với chủ nghĩa đế quốc. Sau đó lại mổ xẻ rằng nguyên nhân Trung Quốc chưa thực sự thống nhất, không do bên trong mà do tại bên ngoài, đế quốc chủ nghĩa viện trợ cho quân phiệt, Trung Quốc bị trói buộc bởi bất bình đẳng điều ước ; bởi vậy cần phải phế bỏ bất bình đẳng điều ước.


Liệt cường, quân phiệt đối với chủ trương của Tôn Trung Sơn, ra sức phản đối, gây khó khăn nhiều bề. Công sứ đoàn muốn ngăn cản không cho Tôn đến Thượng Hải ; báo chí Anh, Mỹ tại Thượng Hải chủ trương cấm chỉ Tôn vào tô giới, không cho trú qua mùa đông, không đếm xỉa đến yêu cầu phế trừ điều ước bất bình đẳng. Tháng 12, Tôn qua Nhật Bản, rồi ghé đến Thiên Tân, Lãnh sự Pháp tại Thiên Tân không cho phép cử hành đón tiếp tại tô giới Pháp. Công sứ đoàn coi Tôn Trung Sơn như kẻ địch, không để cho Tôn tiếp xúc với Phùng Ngọc Tường và nội các Hoàng Phu chi trì cho Phùng Ngọc Tường và cũng không tham dự yến hội do nội các này tổ chức. Riêng Đoàn Kỳ Thuỵ tuân thủ điều ước trong quá khứ, Công sứ đoàn mới chấp nhận Đoàn lâm thời chấp chính ; Tôn hết sức phẫn nộ, nghiêm trách Đoàn.


Việc phế trừ bất bình đẳng điều ước không phải chỉ vươn lên một lần mà có thể đoạt được ; còn triệu tập Quốc dân hội nghị là việc không thể đình hoãn, Đoàn Kỳ Thuỵ cố tình hảnh động khác đi bằng cách cho các tỉnh, khu địa phương triệu tập Thiện hậu hội nghị, sau đó mới tái sản sinh Quốc dân hội nghị. Tôn Trung Sơn yêu cầu Thiện hậu đại biểu phải thu nạp đại biểu nhân dân ; riêng Đoàn hạn chế Đại biểu gồm thủ lãnh các quân, Trưởng quan các tỉnh, khu, và một số người có công lao hoặc địa vị đặc biệt. Quốc dân đảng, Trung cộng kịch liệt phản đối ; về phía Trung Cộng, trong cuộc đại hội đại biểu lần thứ 4 khai mạc vào tháng 1/1925, ra quyết định số 1 phản đối Thiện hậu hội nghị ; lúc bấy giờ Trung Cộng có hơn 1.000 đảng viên, 4.000 Thanh niên đoàn viên. Cả 2 đảng, không tham gia Thiện hậu hội nghị khai mạc vào tháng 2/1925, hy vọng nhân dân tự thi hành chế định tổ chức Quốc dân hội nghị, các địa phương rầm rộ thảo luận cách tổ chức. Kết quả Thiện hậu hội nghị không thành, Quốc dân hội nghị cũng không thể triệu tập.


Cuối tháng 12/1924, Tôn Trung Sơn ôm bệnh đến Bắc Kinh, ngày 12/3/1925 mất ; di chúc đảng viên Quốc dân đảng kế tục ra sức kêu gọi dân chúng, liên hợp với các dân tộc đối đãi bình đẳng với Trung Quốc, ra sức phấn đấu để trong thời gian ngắn xúc tiến Quốc dân hội nghị, cùng phế trừ bất bình đẳng điều ước. Di chúc do Uông Triệu Minh cầm bút ghi lại, trước sự chứng kiến của thân bằng quyến thuộc như vợ, Tống Khánh Linh ; em vợ Tống Tử Văn ; con trai, Tôn Khoa ; đảng viên đồng hương như Trâu Lỗ vv…cuối cùng Tôn Văn ký tên vào ngày 11/3 ; nguyên văn tạm dịch dưới đây :


Tôi ra sức phục vụ cách mệnh phàm 40 năm, mục đích mưu tự do bình đẳng cho Trung Quốc. Rút 40 năm kinh nghiệm biết rõ rằng muốn đạt được mục đích này cần phải hô hào dân chúng cùng liên hợp với các dân tộc lấy bình đẳng đối xử với nước ta, để cùng chung phấn đấu.


Hiện nay cách mệnh vẫn chưa thành công ; phàm các đồng chí cần y theo những điều tôi đã viết trong “ Kiến Quốc Phương Hướng ”, “ Kiến Quốc Đại Cương ”, “ Tam Dân Chủ Nghĩa ” cùng “ Đệ Nhất Thứ Toàn Quốc Đại Biểu Đại Hội Tuyên Ngôn ” kế tục nỗ lực để mong quán triệt. Chủ trương gần nhất mở Quốc dân hội nghị, cùng phế trừ bất bình đẳng điều ước, cần thực hiện trong thời gian ngắn nhất.”


“ Tôi vốn tận tuỵ với việc nước, không chú ý về gia sản. Còn để lại sách vở, quần áo, nơi trú ngụ, đều giao cho vợ Tống Khánh Linh làm kỷ niệm. Con trai, con gái tôi đã trưởng thành, có thể tự lập ; hy vọng mỗi người yêu danh dự bản thân kế tục chí của tôi.”


Lại có di thư gửi cho Nga Xô trong đó chép rằng đã dặn dò đảng viên Quốc dân đảng hợp lực cộng tác với Nga Xô làm công việc lịch sử giải phóng Trung Quốc cùng các quốc gia bị đế quốc xâm lược. Tin tưởng sâu sắc rằng Nga Xô tiếp tục viện trợ Trung Quốc đạt mục đích cách mệnh, hai nước nắm tay chiến đấu cho các dân tộc bị áp bức dành được thắng lợi. Chủ tịch Cộng sản quốc tế Zinoviev [Tề Nặc Duy Phu], cùng Tổng thư ký đảng Cộng sản Nga Xô Stalin [Tư Đại Lâm] gửi điện phân ưu, chi trì Quốc dân đảng phấn đấu phản đế quốc chủ nghĩa ; Trung cộng cũng có biểu thị tương tự. Các đại đô thị Trung Quốc rầm rộ tế lễ truy điệu, số người tham dự đám tang có đến hàng chục vạn người ; cuộc vận động cách mệnh tại Hoa bắc và toàn quốc đạt được tiến triển chưa từng thấy.


Sinh mệnh chính phủ lâm thời Đoàn Kỳ Thuỵ dựa vào hai tập đoàn quân phiệt lớn : Trương Tác Lâm và Phùng Ngọc Tường. Vũ lực của phe Trương vốn mạnh hơn phe Phùng ; lúc hai phe hợp tác, Phùng quay giáo chống lại Trực hệ khiến phe này bị thua bại, nên Trương quân tịch thu được số lớn súng đạn. Phùng quân tiến vào Thiên Tân trước, nhân bị Trương quân áp lực nên phải rút. Đốc lý Trực Lệ Vương Thừa Bân, từng tham gia kế hoạch đánh đổ Ngô Bội Phu của Phùng Ngọc Tường, bộ hạ bị Phụng hệ tước khí giới. Đoàn Kỳ Thuỵ nghiêng về Trương Tác Lâm, các Tổng trưởng trong chính phủ không có người thuộc phe Phùng Ngọc Tường.


Do chỗ dựa trên trường quốc tế không giống nhau, địa bàn hoạt động cách biệt là nguyên nhân lớn hai phe Trương, Phùng xung đột. Nhật Bản chi trì Trương, Đoàn ; Nga Xô chi viện Phùng Ngọc Tường. Phùng là người có tâm huyết trong đám quân phiệt phương bắc, sinh hoạt chất phác, bộ hạ tương đối có kỷ luật ; Đại biểu Nga Xô Adolf A. Joffe có lời khen, Leo Karakhan cho là “ Cột trụ giải phóng Trung Quốc ”. Cuối năm 1923 Phùng đã chú ý nghiên cứu tình hình nước Nga, trong nhà có treo tượng Lenin ; là tín đồ Cơ đốc giáo chuyển sang hâm mộ chủ nghĩa xã hội. Khi Phùng lật đổ Ngô Bội Phu, chưa hẳn đã có liên quan với Nga Xô, nhưng sau khi chiếm được Bắc Kinh 4 ngày, từng gặp gỡ Karakhan. Ngoài ra Tổng trưởng ngoại giao Vương Chính Đình trong nội các Hoàng Phu, cũng đã từng có duyên tiếp xúc với Karakhan. Ngày 12/11/1924 viên Đại biện nước Mỹ, Mayers [Mai Diệp], báo cáo với Quốc vụ viện rằng ảnh hưởng của Nga Xô đối với chính phủ Bắc Kinh rất lớn. Ngày 15, Trương Tác Lâm đàm luận với Tổng lãnh sự Gauss [Cao Tư] tỏ ra bất mãn với Hoàng Phu, Vương Chính Đình ; ngày 29, lại gặp Gauss, đả kích hành động của Nga Xô tại Hoa. Phần đất thuộc Phùng Ngọc Tường không giáp biển, nhưng giáp giới với Nga Xô, nên vấn đề tiếp tế từ bên ngoài phải dựa vào Nga Xô. Tháng 2/1925 Phùng mua vũ khí của Nga Xô ; tháng 4 cố vấn quân sự Nga Xô đến công tác trong quân của Phùng ; từ đó trở về sau vũ khí đạn dược, Nga Xô rầm rộ chuyển cho phe Phùng qua hướng Trương Gia Khẩu [Zhangjiakou, Hà Bắc]. Đối với Trương Tông Xương thuộc Phụng hệ chiêu mộ Bạch Nga, Karakhan cực lực kháng nghị, yêu cầu giải tán ; Cục trưởng Trung đông thiết lộ Nga Xô cũng có tranh chấp với Trương Tác Lâm.


Phùng Ngọc Tường là người có công đầu trong việc đánh đổ Trực hệ, nhưng sau đó mọi việc không đắc ý. Trương Tác Lâm từng bước tiến bức, mang Phụng quân đến Bắc Kinh ; do Tôn Nhạc, Hồ Cảnh Dực mật mưu bắt nên Trương sợ rút ; hai phe gờm nhau như hai mồi lửa, sẵn sang cháy bén bất cứ lúc nào. Phùng nhân đất căn bản chưa vững, nên không dám khinh suất hành động, riêng Trương thì ra sức khuếch trương. Đoàn Kỳ Thuỵ chỉ muốn Trương, Phùng yên chỗ, riêng phe mình cũng có chỗ thu hoạch. Trước hết theo thế đã định sẵn đem Hà Nam trao cho Quốc dân quân ; Trực Lệ, Nhiệt Hà trao cho Phụng quân, riêng phe Đoàn giữ An Huy và chia tỉnh Giang Tô với Phụng hệ. Lại giao Sát Cáp Nhĩ [bắc Hà Bắc], Tuy Viễn [Nội Mông] cho Phùng Ngọc Tường, để Phùng phụ trách biên giới tây bắc ; Trương đốc biện biên giới đông bắc ; Trương trở về Thẩm Dương [Shanyang, Liêu Ninh], Phùng trở về Trương Gia Khẩu. Quốc dân quân Tôn Nhạc giữ chức Tổng tư lệnh Hà Nam,Thiểm Tây, Cam Túc ; Phụng hệ Trương Tông Xương Tổng tư lệnh dẹp giặc tại Sơn Đông, Giang Tô, An Huy. Tháng 4/1925 Đốc biện Hà Nam Hồ Cảnh Dực chết, Đoàn cho bộ hạ của Hồ là Nhạc Duy Tuấn kế vị, đồng thời giao cho Phụng hệ Trương Tôn Xương chức Đốc biện tỉnh Sơn Đông. Trương Tác Lâm được một tấc, mưu giành một thước, Phụng quân đòi trú tại vùng phụ cận Bắc Kinh, Phùng quân sau đó rút lui ra phía sau. Nga Xô viện trợ thêm gấp cho Phùng, gây thành thế hai phe Phùng, Trương sẵn sàng xung đột ; Karakhan còn ký mật ước với Phùng Ngọc Tường, nên việc Phùng, Trương quyết liệt tiêu diệt sẽ trở thành sự việc trong sớm tối.




3. Cuộc vận động mạnh mẽ phản đế quốc chủ nghĩa



Các nước lúc bấy giờ đối với việc Trung Quốc dương cao ngọn cờ phản đế, thiếu nhận xét chính xác, chỉ cho rằng hiện tượng này do phần tử thiểu số trí thức, cùng Quốc dân đảng, Trung Cộng, chịu sự phiến động của Nga Xô ; nên trấn áp cũng không khó. Bãi công là một trong những thủ đoạn chính nhắm phản đế quốc chủ nghĩa, từ khi cuộc bãi công tại đường sắt Kinh-Hán [Bắc Kinh, Hán Khẩu] bị thất bại, trong vòng hơn một năm tình hình tương đối vô sự. Từ năm 1924 trở về sau Quốc dân đảng cùng Trung cộng hợp lực huy động phản đế quốc, hô hào vận động quần chúng ; về đường chính trị Trực hệ bị đánh đổ, uy vọng của Tôn Trung Sơn lên cao là những yếu tố giúp cho cuộc vận động tiện lợi. Tháng 2/1925, Tổng công hội thiết lộ toàn quốc cử hành đại hội đại biểu tại Trường Tân Điếm [Changxindian, Hà Bắc]. Tháng 3, do Quốc dân đảng lãnh đạo, Công hội liên hiệp hội các tỉnh họp đại hội toàn quốc tại Bắc Kinh. Tháng 5, do Trung Cộng lãnh đạo, Toàn quốc lao động đại hội khai mạc lần thứ hai tại Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông] tổ chức công hội toàn quốc, đấu tranh kinh tế với giai cấp tư sản và các nước tư bản, tiến sang bước đấu tranh chính trị.


Các xưởng dệt ngoại quốc tại Hoa, phần lớn do người Nhật làm chủ ; đãi ngộ công nhân rất hà khắc, mỗi ngày phải làm việc 12 giờ, tiền công chỉ được 1 giác 5 phân, không bằng lòng thì bị đánh đập hoặc đuổi. Vào tháng 2/1925, hơn 1 vạn công nhân Thượng Hải tại xưởng Nhật, vì lý do bị hành hạ hoặc bị đuổi, tổ chức đình công trong và ngoài xưởng. Tháng 4, hơn 1 vạn công nhân hãng dệt Đại Khang, Nhật Bản tại Thanh Đảo [Qingdao, Sơn Đông] cũng phản đối ngược đãi bãi công, trải qua thời gian đến 20 ngày. Vào tháng 5, phong trào công nhân tại hai nơi này lại dấy lên. Tại Thanh Đảo bị lực lượng quân cảnh khống chế, ngày 24/5 bao vây hãng dệt Đại Khang, quân cảnh trấn áp từ bên ngoài hãng, quân Nhật trấn áp từ bên trong ; công nhân tử thương hơn 20 người, nên nội vụ không được khuếch đại. Tại Thượng Hải tình hình khác hẳn, đấu tranh triền miên ; thứ nhất do tại Thượng Hải học sinh, công nhân tập trung đông ; thứ hai do Quốc dân đảng và Trung cộng ra sức hoạt động tại nơi này ; thứ ba, kẻ sát hại công nhân chính là người Nhật. Tại bên trong và bên ngoài các hãng dệt, tơ bông, tiếp tục bãi công, yêu cầu tăng lương. Ngày 15, hai công nhân bị đuổi ; công nhân nòng cốt đấu tranh, Cố Chính Hồng, bị người Nhật bắn chết. Ngày 18, học sinh cử hành truy điệu ; trước sau bị đám tuần tiễu công cộng tô giới bắt 18 người. Ngày 25, Quốc dân đảng điện trách người Nhật giết người Hoa một cách vô lý. Ngày 28, Trung cộng quyết định cử hành thị uy. Ngày 30 hơn 2.000 học sinh chia nhóm, tại công cộng tô giới diễn thuyết, viện trợ công nhân bãi công ; bị đàn áp bắt hàng trăm người. Vào 3 giờ chiều, lực lượng biểu tình tụ tập tại phòng Tuần bổ [Louza police Station], đường Nam Kinh, yêu cầu trả những học sinh bị bắt. Tuần bổ Anh dùng bạo lực can thiệp, xả súng bắn chết 11 người, hơn 20 người bị thương nặng ; Công bộ cục [municipal council] Thượng Hải ra lệnh giới nghiêm, trường đại học phải đóng cửa ; sự kiện này được gọi là Ngũ Châu thảm án, hay “ Ngũ châu vận động.”


Ngày 31/5, Công bộ cục Thượng Hải công cộng tô giới cấm chỉ người Hoa đi bộ thành đoàn ; Tổng thương hội, Tổng công hội quyết định vào ngày 1/6 bãi thị, bãi công, viện trợ học sinh; phần lớn nhân viên tuần tiễu Trung Quốc tô giới đình chỉ phục vụ. Công bộ cục điều động Nghĩa dũng đội ngoại quốc, Lục chiến đội để tuần tiễu bố phòng, chiếm đóng các trường đại học, người Hoa tiếp tục bị tử thương. Tháng 6, Công thương học liên hiệp hội thành lập, triệu tập đại hội thị dân, tuyệt giao kinh tế với Anh, Nhật; công nhân, thương nhân, giáo viên tại các đô thị toàn quốc, rầm rộ phấn khởi, học sinh tiếp tục bãi khoá, yêu cầu thu hồi tô giới cùng quyền lãnh sự tài phán của hai nước Anh, Nhật. Ngày 5, công nhân, học sinh tại Trường Sa [Changsha, Hồ Nam] thị uy, số người tham gia đến mấy vạn. Ngày 10, cử hành quốc dân đại hội tại Bắc Kinh, số người tham gia hơn 10 vạn. Ngày 11, công nhân Hán khẩu [Hankou, Hồ Bắc] diễu hành, bị thuỷ quân Anh và Thương đoàn bắn chết 8 người, bị thương hơn 40 người ; đó là “ Hán Khẩu thảm án ”. Ngày 13, trong ngoài thành phố Cửu Giang [Jiujiang, Giang Tây] có xung đột, Lãnh sự quán Anh bị thiêu huỷ, ngân hàng Nhật Bản bị đốt. Ngày 25, toàn quốc truy điệu “ Ngũ châu thảm án ”, nhất trí đòi huỷ bỏ tô giới Anh, Nhật và quyền Lãnh sự tài phán. Nước Anh bị phản đối mạnh nhất, học sinh tình nguyện xin được huấn luyện quân sự để cùng Anh quyết chiến.


Quảng Châu là đại bản doanh phản đế quốc chủ nghĩa, lúc bấy giờ Quốc dân đảng đang bận bịu đối phó với quân Vân Nam, Quảng Tây, nên lúc đầu chưa có hành động tích cực ; đợi sau khi dẹp xong, các giới thành lập hiệp hội đối ngoại. Từ ngày 19 đến ngày 21/6, Hương Cảng và tô giới Sa Diện [Shamin Island, Quảng Đông] 2 thực hiện bãi công ủng hộ “ Ngũ Châu thảm án ”, số người tham gia đến ngoài 20 vạn, đây là cuộc bãi công lớn nhắm vào các cảng khẩu. Đối ngoại hiệp hội cử hành đại thị uy, xưng rằng quyết tử chiến với đế quốc chủ nghĩa. Riêng cục diện tại Quảng Châu vẫn còn bất ổn, nên trước khi cử hành thị uy, nhà đương cục lưu ý thận trọng để tránh sự việc xẩy ra ngoài ý muốn. Ngày 23, đoàn biểu tình đi qua Sa Cơ, đối diện với Sa Diện ; thành phần gồm công nhân, thương nhân, học sinh, cùng học sinh trường võ bị Hoàng Phố có mang súng. Khi gần qua cầu tiếp giáp với Sa Diện, trong tiếng hô đả đảo đế quốc chủ nghĩa và thủ tiêu bất bình đẳng điều ước, thì có xung đột ; quân Anh dùng súng trường, súng máy từ Sa Diện bắn vào đám biểu tình, lực lượng Pháp tại quân hạm bắn pháo yểm trợ, khiến 60 dân chết, học sinh lục quân chết 23 người, số bị thương đến hơn 500, người Pháp chết 1, Anh bị thương 5 ; vụ này được gọi là “ Sa Cơ thảm án ”, sau đó Tưởng Trung Chính [Giới Thạch] truy điệu với hành chữ 沙基血迹 黄埔淚潮 [Sa Cơ huyết tích, Hoàng Phố lệ trào], nói lên niềm đau bởi đổ máu tại Sa Cơ, và dòng nước mắt khóc chiến sĩ trường Hoàng Phố. Chính phủ Quảng Châu nghiêm khắc kháng nghị, Quốc dân đảng quyết định đoạn tuyệt lợi ích với Anh, Pháp, cùng bố trí phòng ngự. Anh, Pháp cự tuyệt lời kháng nghị, tăng quân Quảng Châu ; yêu cầu Mỹ, Nhật có hành động cưỡng chế, nhưng không được đồng ý. Tân Tư lệnh vệ nhung Quảng Châu, Tưởng Trung Chính [Giới Thạch] cũng lập kế hoạch chống lại quân Anh.


Lúc bắt đầu Ngũ châu thảm án, Trung cộng hiệu triệu dân chúng toàn quốc, phản đối đế quốc chủ nghĩa dã man giết chóc. Sau vụ án tại Sa Cơ, Quốc dân đảng quyết định phản đối đế quốc chủ nghĩa. Chính phủ mới thành lập, trong thư gửi cho các nước trình bày nỗi thống khổ Trung Quốc phải chịu đựng đế quốc chủ nghĩa, không trừ bỏ bất bình đẳng điều ước, không dứt trừ được mối hoạ đế quốc chủ nghĩa. Hơn 50 đoàn thể tại Bắc Kinh hợp thành liên minh phản đế quốc chủ nghĩa, gửi điện trong và ngoài nước hô hào phản đối chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, đoàn kết lực lượng phản đế các dân tộc bị áp bức, cùng mưu cầu giải phóng và tự do. Vào trung tuần tháng 7, quân hạm Anh, Pháp tại Quảng Châu gia tăng phòng bị, phần lớn dân Anh dời sang Hương Cảng. Quốc dân đảng toàn lực duy trì và khuyếch đại bãi công, hàng chục vạn công nhân Hương Cảng lục tục trở về Quảng Châu, không để cho thuyền buôn nước Anh vào bến, thiết lập Bãi công uỷ viên hội tại cảng. Số thuyền vào Hương Cảng giảm thiểu 85 %, cư dân giảm 40 %, thương điếm đóng cửa, giá đất xuống thấp. Kinh tế tại Quảng Châu cũng chịu ảnh hưởng, mỗi ngày phải cứu tế gần 1 vạn nguyên cho công nhân là một gánh nặng phải chịu đựng.


Thương nhân tại Thượng Hải có mối mưu thuẫn với Trung Cộng ; đối với sự lãnh đạo công, thương, học sinh hiệp hội, không tích cực chi trì. Ngày 13/6 Phụng quân chuyển đến ; ngày 22, tuyên bố giới nghiêm, cấm chỉ nhân dân hoạt động. Ngày 26 đình chỉ bãi công, bãi thị tại công cộng tô giới. Ngày 6/7 Công bộ cục đình chỉ cung cấp nguồn điện cho Trung Quốc, khiến xưởng không mở cửa được. Nhật Bản hy vọng sớm phục hồi, Tổng lãnh sự Nhật thương lượng với đương cục Thượng Hải cấp tuất cho gia đình Cố Chính Hồng, trả tiền thù lao thời gian bãi công và hứa không sa thải vô cớ ; riêng công nhân bãi công thời gian lâu, nên cũng cảm thấy mệt mỏi, không hăng hái như trước. Vào ngày 7/9 Trung Cộng phát động kỷ niệm Tân Sửu [1901] điều ước, số tham gia cũng không nhiệt liệt. Ngày 9 chấm dứt bãi công tại xưởng dệt Nhật. Ngày 18 Tư lệnh giới nghiêm giải tán Tổng công hội, bắt Uỷ viên trưởng hội này là Lý Lập Tam, Lý cũng là Trung cộng Trung ương uỷ viên, tổng chỉ huy bãi công. Ngày 22, công, thương, học sinh liên hiệp hội tuyên cáo giải tán ; ngày 30, chấm dứt bãi công với Anh.


Về thảm án tại Thượng Hải, chính phủ Bắc Kinh mấy lần kháng nghị với ngoại giao đoàn, nhưng Công sứ đoàn không thừa nhận nhà đương cục tô giới phải chịu trách nhiệm, chỉ chấp nhận gửi phái người đến điều tra. Thái độ hai nước Anh, Nhật hết sức cường ngạnh ; riêng Nga Xô đối với dân Trung Quốc biểu thị đồng tình. Sáu nước Anh, Mỹ, Pháp, Nhật, Ý, Tỷ Lợi Thì, phối hợp tổ chức điều tra đoàn, nhưng ý kiến không hợp với đại biểu Trung Quốc ; Công bộ cục [municipal council] tại tô giới từ chối trừng trị những nhân viên liên quan. Công sứ đoàn thu nạp ý kiến của Anh, để Anh, Mỹ, Nhật tiếp tục điều tra, nhưng Trung Quốc cự tuyệt không tham gia. Vào tháng 12, Công bộ cục chấp nhận cho Tổng tuần bổ từ chức, đưa số tiền 75.000 nguyên để phủ tuất người Hoa bị thiệt mạng ; nhưng cự tuyệt xin lỗi và những điều kiện khác. Chính phủ Bắc Kinh tuy không đồng ý, nhưng không làm gì được, vụ án Thượng Hải không thể kết thúc ; nhưng cuộc vận động chống đế quốc chủ nghĩa vẫn tiếp tục phát triển, thế lực của Quốc dân đảng, Trung cộng, khuếch trương chưa từng thấy. Cố vấn Nga Borodin có nhận xét rằng “ Chúng ta không thể tạo ra Ngũ Châu thảm án ; nhưng chính Ngũ Châu thảm án đã tạo ra chúng ta.


Sau khi vụ án Thượng Hải xẩy ra, chính phủ Bắc Kinh bị dư luận đòi hỏi, bèn yêu cầu tham gia cuộc hội nghị tại Hoa Thịnh Đốn về tu chính điều ước. Nước Mỹ muốn lòng dân Trung Quốc hoà hoãn, ổn định chính cục ; đề nghị triệu tập hội nghị quan thuế, phái người điều tra tư pháp ; chuẩn bị cho Trung Quốc tự chủ quan thuế, cùng thủ tiêu lãnh sự tài phán ; các nước Anh, Nhật cũng muốn mượn cơ hội này để ngăn cản thế lực Nga Xô tiếp tục phát triển. Tháng 10/1925 hội nghị về quan thuế bắt đầu, điều tra tư pháp cử hành vào tháng 1/1926, nhưng chưa có kết quả rõ ràng ; lúc này nội chiến quy mô lại sắp xẩy ra, Bắc Kinh gần như vô chính phủ, nên mọi thứ đàm phán đều không đến nơi đến chốn.




4. Quân phiệt phương bắc chia, hợp ; lại hỗn chiến



Từ “ Ngũ châu thảm án ” khích động nên cuộc vận động chống đế quốc cả nước ; rồi lại dẫn đến cuộc hỗn chiến giữa các phe quân phiệt ; cuộc hỗn chiến khiến cho phong trào chống đế quốc lớn mạnh không ngừng. Tháng 2/1925 Phụng hệ và phe Tôn Truyền Phương rút quân ra khỏi Thượng Hải, nhưng vẫn đợi thời cơ quay lại. Tôn Truyền Phương ngầm lấy khí giới của công binh xưởng Thượng Hải, riêng Trương Tác Lâm trước hết muốn khống chế chính phủ Bắc Kinh, sau đó mưu chiếm vùng hạ lưu sông Trường Giang. Trong thời gian Ngũ châu thảm án Trương Tác Lâm yêu cầu thay đổi cấp chỉ huy quân sự tại các tỉnh Giang Tô, An Huy ; vào ngày 3/6, lấy danh nghĩa duy trì trị an, Phụng quân được điều đến Thượng Hải ; Tôn Truyền Phương bèn điều quân bố phòng. Tôn và Phùng Ngọc Tường có liên lạc mật thiết ; Đốc quân Hồ Bắc Trực hệ Tiêu Diệu Nam cũng liên lạc thân mật với Đốc biện Hà Nam, Nhạc Duy Tuấn; viên này cấu kết với quân nhân thuộc Hoán hệ, thành lập công ước liên phòng. Theo lời Trương Tác Lâm, tháng 8 Đoàn Kỳ Thuỵ cử Dương Vũ Đình thuộc Phụng hệ làm Đốc biện tỉnh Giang Tô, Khương Năng Tiến làm Đốc biện An Huy ; đồng thời Đoàn cũng cử Phùng Ngọc Tường làm Đốc biện Cam Túc, Tôn Nhạc làm Đốc biện tỉnh Thiểm Tây.


Người đầu tiên phát động chiến tranh chống lại Phụng hệ là Tôn Truyền Phương. Tháng 7/1925 Tôn được tin Trương Tác Lâm mua một số lượng vũ khí, mưu đánh Chiết Giang vào mùa thu năm sau ; bèn ra tay trước để chế ngự. Vào ngày 10/10 mượn tiếng diễn tập mùa thu, Tôn điều động 5, 6 vạn quân, chia đường tiến đến Giang Tô ; mượn lời lẽ chống đế quốc để bài xích chính phủ Bắc Kinh đàn áp công nhân Thượng Hải bãi công, cùng nghe lời ngoại quốc thực hành điều tra vụ án Thượng Hải, bằng lòng mở hội nghị quan thuế. Phụng quân cho rằng phòng tuyến quá dài, không ngăn được quân Tôn Truyền Phương, phía bắc lại bị Quốc dân quân của Phùng Ngọc Tường khiên chế nên chưa đánh đã rút ; Tôn bèn chiếm Thượng Hải, Nam Kinh. Tháng 11, lại chiếm Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô], tự xưng là Tư lệnh liên quân 5 tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tô, An Huy, Giang Tây. Riêng Ngô Bội Phu lu mờ trong 10 tháng trời, nay lại dấy lên tự xưng tại Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc] là Tổng tư lệnh 14 tỉnh liên quân dẹp giặc. Lúc này tình trạng Trương Tác Lâm khốn khó như Ngô Bội Phu một năm về trước, là đối tượng để các phe phái nhắm lật đổ.


Sau khi Tôn Truyền Phương đánh Từ Châu, bèn án binh bất động, nhắm bảo vệ những gì chiếm được. Màn chiến trận thứ hai do Quốc dân quân tiếp diễn, chiến lược đánh đổ Phụng hệ của Phùng Ngọc Tường, đại để nhân Tôn Truyền Phương ra tay trước chiếm được Giang Tô, An Huy ; tiếp đó do đạo quân đệ nhị của Quốc dân quân do Nhạc Duy Tuấn chỉ huy, cùng đạo quân đệ tam do Tôn Nhạc chỉ huy đánh lấy Trực Lệ, Sơn Đông ; riêng đạo quân thứ nhất do Phùng trực tiếp chỉ huy, khống chế toàn cõi. Đệ nhị quân của Quốc dân quân dàn thành một lộ tiến vào Sơn Đông ; lộ thứ hai hợp với đệ tam quân đánh vào tỉnh Trực Lệ, sau trung tuần tháng 11 chiếm Bảo Định [Baoding, Hà Bắc] và gần thành phố Tế Nam [Jian, Sơn Đông]. Phó đoàn trưởng đệ tam quân đoàn Phụng hệ, Quách Tung Linh, tuy công cao nhưng ít được thưởng nên sinh oán, bèn ngầm liên kết với Phùng Ngọc Tường, ngày 24/11 cử binh tại Loan Châu [Luanxian, Hà Bắc] yêu cầu Trương Tác Lâm xuống chức ; cầm quân dưới quyền 6 vạn, tiến ra Sơn Hải Quan [Shanhaiguan, Hà Bắc]. Trương chuẩn bị rút lui, nhân được quân Nhật yểm trợ, quyết kế chống cự. Quân Nhật cảnh cáo hai bên không được xâm nhập vào gần vùng Nam Mãn thiết lộ, cùng khu vực quân Nhật cảnh bị. Khi quân của Quách tiến đến Doanh Khẩu [Yingkou, Liêu Ninh] bị bức bách phải rút lui, tướng sĩ dưới quyền liên lạc với Lãnh sự Nhật, và Trương Học Lương nên không chịu đánh. Riêng về phía Nga Xô thì Uỷ viên đại lý nhân dân ngoại giao Leo Karakhan xin chính phủ Mạc Tư Khoa mang quân đến Bắc Mãn, nhưng chính phủ nước này sợ trực tiếp xung đột với Nhật Bản, bèn đổi phương sách cho Cục trưởng Trung đông thiết lộ của Nga Xô tuyên bố quân Trung Quốc chuyển vận trên xe lửa phải nạp tiền vận chuyển, để làm khó Phụng quân. Ngày 23/12 Quách Tung Linh bị kỵ binh Hắc Long Giang tập kích, lại bị quân Nhật oanh kích bằng pháo binh, quân bị thua, Quách tử trận ; nên Trương Tác Lâm qua được bước sinh tử hiểm nghèo.


Đốc biện Trực Lệ Lý Cảnh Lâm vốn quen biết với Quách Tung Linh, tuyên bố thoát ly quan hệ với Trương Tác Lâm ; Phùng Ngọc Tường muốn có cửa biển, bèn cưỡng ép nhường Thiên Tân [Tianjin, Hà Bắc]. Lý qua sự vận động của Nhật, liên kết với Trương Tông Xương làm thành liên quân Trực Lệ, Sơn Đông, cùng đánh lại Quốc dân quân, chỉ trích Phùng bị Nga Xô nhuộm đỏ. Ngày 24/12 đệ nhất quân của Quốc dân quân đánh chiếm được Thiên Tân, riêng đệ nhị quân vây đánh Tế Nam, bị Trương Tông Xương đánh bại.


Sau khi Ngô Bội Phu tái khởi sự, lực lượng so với trước kia thua xa, cái gọi là Tư lệnh 14 tỉnh chỉ là tên suông ; lúc đầu muốn mang quân lên phía bắc, nhưng Đệ nhị quân thuộc Quốc dân quân cai quản tỉnh Hà Nam, không cho mượn đường, nên đành phải ngồi lỳ tại Hán Khẩu, không thi thố gì được. Kẻ thù Ngô muốn đánh nguyên là Trương Tác Lâm, nhưng cũng không quên người có mối oán sâu là Phùng Ngọc Tường. Tuy nhiên hai nước Anh, Nhật khuyên Ngô giao hảo với Trương Tác Lâm ; nên ngày 31/12 Ngô tuyên bố kết thúc chiến tranh với Phụng quân, Trương Tác Lâm cũng biểu thị hoà giải. Phùng Ngọc Tường ở vị thế cô lập, nguyên do sau khi đánh được Thiên Tân, đệ nhất, đệ nhị, đệ tam quân thuộc Quốc dân quân tranh nhau chiếm đoạt tỉnh Trực Lệ ; Phùng Ngọc Tường không đối phó được với tình thế lo bên ngoài, tranh chấp bên trong ; bèn tuyên bố từ chức, vào tháng 5/1926 theo đường Khố Luân [Hure, Nội Mông] đến Mạc Tư Khoa khảo sát, vào tháng 8 trở về nước.


Đầu năm 1926, Ngô Bội Phu cùng thủ hạ chia đường từ Hồ Bắc, Sơn Đông tấn công tỉnh Hà Nam. Dân Hà Nam vốn không chịu nổi Đệ nhị quân của Quốc dân quân dày xéo, nên tổ chức Hồng thương hội 3 tại tỉnh này phản kháng ; Đệ nhị quân hầu như bị tiêu diệt. Đồng thời Phụng quân và đạo quân Sơn Đông theo đường sắt Kinh-Phụng [Bắc Kinh, Phụng Thiên], Tân-Phố [Thiên Tân, Phố khẩu] tiến đánh Thiên Tân, rồi do đường biển tập kích Đại Cô [Dadu, Thiên Tân], nhưng bị Quốc dân quân phong bế cửa khẩu. Ngày 12/3, hai khu trục hạm Nhật Bản cưỡng bức đi qua Đại Cô, hai bên oanh kích. Quân Anh sớm điều binh tới Thiên Tân, giao chiến với Quốc dân quân. Ngày 16, Công sứ tám nước gồm : Anh, Mỹ, Pháp, Nhật, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Tỷ Lợi Thì đưa thông điệp tối hậu yêu cầu đình chỉ chiến tranh từ Đại Cô đến Thiên Tân, cho phép thuyền ngoại quốc tự do ra vào, hẹn trong 44 giờ phải trả lời, nếu không sẽ ra tay.


Quốc dân đảng và Quốc dân quân của Phùng Ngọc Tường cùng chung trận tuyến, tháng 7/1925 đã chỉ rõ Trương Tác Lâm là công cụ của đế quốc Anh, Nhật ; còn Đoàn Kỳ Thuỵ là công cụ của Trương Tác Lâm. Quốc dân đảng dấy lên cuộc chiến chống Phụng hệ, cùng Trung Cộng các bên ra tuyên ngôn, cổ võ đả đảo quân phiệt cùng thế lực đế quốc chủ nghĩa cấu kết, thành lập chính phủ thống nhất. Giáo sư đại học Bắc Kinh, học sinh, công nhân liên tục thị uy, yêu cầu Đoàn Kỳ Thuỵ từ chức, hành động khích ngang. Ngày 18/3/1926 cử hành Quốc dân đại hội, phản đối thông điệp của 8 nước, đòi xua đuổi Sứ thần 8 nước, tuyên bố điều ước Tân Sửu [1901] vô hiệu, khuyến khích Quốc dân quân chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc, rồi đến Quốc vụ viện thỉnh nguyên, học sinh cùng thị dân bị vệ binh của Đoàn Kỳ Thuỵ bắn chết 47 người, bị thương 155 người, đó là “ Tam nhất bát [18/3] thảm án ”.


Nga Xô muốn cứu mối nguy cho Quốc dân quân, bèn ra lệnh cho Leo Karakhan khuyên Ngô Bội Phu hoà giải với Phùng Ngọc Tường, Cố vấn Nga Xô cũng khuyên Phùng lật đổ Đoàn Kỳ Thuỵ. Tháng 3/1926 quân Phùng bị Trương Tác Lâm, Ngô Bội Phu áp lực, bèn rút về Bắc Kinh. Leo Karakhan gửi thư cho Ngô Bội Phu, bảo rằng không thể tin cậy Trương Tác Lâm, nếu như cùng Phùng Ngọc Tường hợp tác, Nga Xô sẽ viện trợ, Trung Quốc có thể không bị đế quốc xâm lược. Bộ hạ của Phùng cũng hướng Ngô Bội Phu cầu hoà, và đuổi Đoàn Kỳ Thuỵ ra khỏi Bắc Kinh vào ngày 9/4. Leo Karakhan lại khuyên Ngô Bội Phu bắt tay với phái của Phùng, Ngô trước sau cự tuyệt. Anh, Mỹ, Nhật càng không muốn cho Phùng quân tồn tại ; ngày 15/4 quân Phùng từ Bắc Kinh rút lên phía tây bắc, giữ Nam Khẩu [Nankouzhen, Hà Bắc], sau tháng 4 rút đến Tuy Viễn [Nội Mông]. Lúc bấy giờ quân bắc phạt từ Quảng Đông đã chiếm Hồ Nam, đang tiến lên Hồ Bắc ; Ngô Bội Phu lo mất đường về kinh hoảng rút mau xuống phía nam, Bắc Kinh trở thành đất của Trương Tác Lâm.


Hồ Bạch Thảo



(Tham khảo từ : Cận Đại Trung Quốc Sử Cương, Quách Đình Dĩ ; Xô Nga Tại Trung Quốc, Tưởng Trung Chính ; Wikipedia Anh văn, Trung văn ; Bản đồ Google)




1  Đường Đức Cương, Trương Học Lương Khẩu Thuật Lịch Sử, phần thứ 5.


2  Sa Diện [Shamin Island, Quảng Đông] : là đảo nhỏ trên sông Châu Giang, Quảng Châu ; một thời là tô giới của Anh, Pháp, diện tích 0.3 km2. Liệt sĩ Phạm Hồng Thái nước ta mưu ám sát Toàn quyền Merlin trong một khách sạn tại nơi này, sau đó bị truy lùng bèn nhảy xuống sông Châu Giang tự tự. Chính phủ Dân quốc cho xây mộ tại Hoàng Hoa Cương, cùng với 72 liệt sĩ Trung Quốc trong cuộc cách mệnh Tân Hợi.


3  Hồng Thương hội là tổ chức nông dân vũ trang tại tỉnh Hà Nam, đầu súng có quấn dải tua màu hồng.


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss