Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Trung Quốc : Tình thế trong và ngoài nước trước khi nhà Thanh sụp đổ (4 và hết)

Trung Quốc : Tình thế trong và ngoài nước trước khi nhà Thanh sụp đổ (4 và hết)

Chương IV : Cuộc phấn đấu cuối cùng của nhà Thanh [1906-1911]



Tình thế trong và ngoài nước
trước khi nhà Thanh sụp đổ


Hồ Bạch Thảo


Chương bốn

Cuộc phấn đấu cuối cùng
của nhà Thanh

[1906-1911]

longdu

Long dụ Thái hậu [1868-1913]


1. Bài Hán cùng tập quyền


Qua cuộc biến pháp năm Mậu Tuất [1898] càng tăng thêm mối cừu hận của người Mãn đối với Hán ; rồi loạn Nghĩa hoà đoàn năm Canh Tý [1900] lại tăng thêm mối ngờ vực. Từ Hy và người Mãn dưới quyền hận phái Bảo hoàng cùng phái cách mệnh ; riêng ngờ vực quan lại tại địa phương. Tổng đốc Lưỡng Giang Lưu Khôn Nhất công nhiên phản đối phế lập, các tỉnh phía nam giữ trung lập trong khi liên quân ngoại quốc tấn công Bắc Kinh, đã cứu được nửa giang san cho Trung Quốc ; đồng thời cũng chứng tỏ rằng Tổng đốc, Tuần phủ không tuân lệnh triều đình, liên lạc với kẻ địch. Vì thời thế bắt buộc, đối với những người có địa vị chắc, lại được ngoại quốc ủng hộ như Lưu Khôn Nhất, Trương Chi Đổng không thể không dựa và ; đối với người có binh lực như Viên Thế Khải không thể không trao địa vị trấn nhậm nơi kinh kỳ. Tuy nhiên trong 2 năm giữ chức Tổng đốc Trực Lệ, Viên liên tục bị đàn hặc ; lần đầu chỉ trích Viên điều lương luyện binh, tự ý không hạn chế ; sau đó cho rằng Viên quyền thế quá trọng, nguồn gốc của hoạ loạn. Người bảo hộ cho Viên Thế Khải là Khánh thân vương Dịch Khuông cũng bị Ngự sử đàn hặc là tham lam. Tại trung ương Dịch Khuông bị Quân cơ đại thần cùng Thượng thư ngoại vụ Cù Hồng Cơ và Thượng thư bộ binh Thiết Lương chống đối ; tại địa phương Viên Thế Khải bị Tổng đốc Lưỡng Quảng Sầm Xuân Huyên chống lại.


Dịch Khuông, Viên Thế Khải biết rằng họ bị đàn hặc có liên quan đến Cù Hồng Cơ và Sầm Xuân Huyên. Năm 1906 Sầm bị điều chức, nhưng trong hạt của Viên có 6 trấn tân quân, thì bị điều về bộ lục quân 4 trấn ; hai phe tranh chấp trở nên công khai. Năm sau Cù, Sầm mất chức vì bị vu có liên lạc với Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, người mà Từ Hy vốn ghét giận ; riêng Viên Thế Khải và Trương Chi Đổng bị điều về triều, Viên giữ chức Thượng thư ngoại vụ, Trương giữ bộ học. Rõ ràng Từ Hy đã lợi dụng tranh chấp chính trị để đoạt thực quyền của người Hán. Sau đó Viên Thế Khải tiếp tục bị đàn hặc, những người cùng phe đảng như Tổng đốc Đông Tam Tỉnh Từ Thế Xương, Tổng đốc Trực Lệ Dương Sĩ Tương, Tổng đốc Tứ Xuyên Trần Quì Long đều bị chỉ trích ; chỉ riêng Tổng đốc Lưỡng Giang Đoan Phương được yên, chỉ vì Đoan là người Mãn.


Cả một đời vua Quang Tự bị Từ Hy làm điên đảo khốn đốn, sau chính biến năm Mậu Tuất [1898] thì hầu như bị tù cấm, buồn và bệnh liên miên, đến năm 1908 lại nặng thêm. Lúc bấy giờ Từ Hy cũng bị bệnh, có kẻ sàm tâu rằng nghe tin Thái hậu bệnh, sắc mặt vua có vẻ vui ; Thái hậu giận nói rằng “ Tao không thể chết trước mày ”. Đầu tháng 11, Quang Tự và Từ Hy bệnh đến hồi nặng ; vào ngày 13 Từ Hy mệnh đem con của Thuần thân vương Tái Phong mới 3 tuổi tên là Phổ Nghi vào trong cung, giao cho Thuần thân vương làm nhiếp chính. Lúc 4 giờ sáng ngày 14, Quang Tự mất năm 38 tuổi, Phổ Nghi lên kế vị, Tái Phong làm Giám quốc. Chiều ngày hôm sau Từ Hy mất thọ 74 tuổi, cách thời gian Quang Tự chết không quá 20 giờ. Có thuyết cho rằng Quang Tự bị Từ Hy mưu sát, có thuyết cho rằng bị Viên Thế Khải đầu độc.


Niên hiệu của Phổ Nghi là Tuyên Thống, tôn Hoàng hậu của Quang Tự là Long Dụ Hoàng thái hậu, việc chính trị do Tái Phong quyết định. Tháng 12 lập Cấm vệ quân, do Tái Phong thống lãnh ; phái Cụ lặc Tái Đào, Dục Lãng làm Đại thần huấn luyện. Hai tuần lễ sau, tức vào ngày 2/1/1909 Viên Thế Khải xin nghỉ, ra khỏi kinh đô, trở về Chương Đức [Zhangde], tỉnh Hà Nam. Trước đó Tái Phong muốn giết, nhưng Trương Chi Đổng phân trần, sợ quân miền đông bắc không để yên, nên không thi hành. Có thuyết cho rằng Quang Tự hận Viên Thế Khải tận xương tuỷ, đến lúc bệnh không dậy được, từng nói rằng “ Mười năm bị khốn nhục đều do Viên Thế Khải gây ra ” ; Long Dụ Thái hậu vì tình vợ chồng với Quang Tự, bèn cùng Tái Phong và Hoàng thân Tái Trạch (vợ là chị em ruột với Long Dụ), Tái Đào, Tái Tuân, cùng bọn Dục Lãng, Thiện Kỳ, Thiết Lương mưu giết Viên Thế Khải. Phái bảo hoàng cũng ngầm vận động ; sau khi Từ Hy mất, Lương Khải Siêu gửi thư cho Tái Phong, cùng thông điện cho Khang Hữu Vi, rằng “ Mối hoạ cho hai cung (Từ Hy, Quang Tự), Viên Thế Khải thực đứng đầu, xin giết tên tặc thần này.” ; sau đó hơn 40 ngày, Viên Thế Khải bị đuổi ra khỏi chức. Chẳng bao lâu tâm phúc của Viên như Từ Thế Xương, Đường Thiệu Nghi bị gọi về kinh ; riêng Thị lang Triệu Bỉnh Quân hưu trí.


Phái Khang, Lương đối với việc Viên Thế Khải bị bài xích, dĩ nhiên rất thống khoái, tỏ vẻ bội phục “ Giám quốc quyết đoán anh minh ”. Lương gửi thư cho Thiện Kỳ yêu cầu công khai tội trạng của Viên, tuyên bố triều đình đem hết sức lo việc trị quốc, bắt đầu cùng dân cải cách, người đảng cách mệnh sẽ quay trở về. Lương xin định kỳ hạn xá miễn chính trị phạm, bỏ việc cấm đoán hội đảng. Tái Trạch quyết liệt ngăn trở, Long Dụ Thái Hậu cũng cho rằng cuối đời vua Quang Tự bị khổ cực cũng do Khang, Lương gây ra.


Điều Hoàng gia quý tộc không quên là làm sao tập quyền vào người Mãn, càng chú ý nắm quân quyền. Sau khi thiết lập Cấm vệ quân, tuyên bố Hoàng đế là Nguyên soái quân thuỷ lục, hiện tại do Nhiếp chính vương chỉ huy thay. Giao cho Dục Lãng, Tái Đào quản lý Quân tư phủ tức Tham mưu bản bộ ; Tái Tuân, Tát Trấn Băng sung Hải quân đại thần. Thăng chức Lương Bật, từng du học Nhật Bản và triệt để chống người Hán, làm Đệ nhất hiệp thống cấm vệ quân. Tháng 9/1909 cử Thượng thư lục quân Ấm Xương kiêm Đại thần huấn luyện 6 trấn lục quân gần kinh kỳ ; tháng 12 lập bộ hải quân, dùng Tái Tuân làm Đại thần thống lãnh ; từ đó lục, hải quân đều vào tay anh em Tái Tuân, Tái Đào quản lãnh.


Quân cơ xử vẫn là đầu não hành chánh trung ương, trước đây có 6 thành viên, nửa Mãn nửa Hán ; sau khi Viên Thế Khải bị bãi, người thay thế là Na Đồng. Vào tháng 9/1909 Trương Chi Đổng mất, địa vị của Đại thần người Hán càng giảm khinh. Tháng 7/1910 Lộc Truyền Lâm mất, Quân cơ đại thần chỉ còn 4 người : Dịch Khuông, Na Đồng, Dục Lãng, Từ Thế Xương ; trong đó chỉ có một mình Thế Xương là người Hán. Năm 1910, Dịch Khuông bị Ngự sử đàn hặc, dụ phán rằng “ Thân quý đại thần, không được tự ý vu cáo ”, Ngự sử đàn hặc bị mất chức, dẫn đến Đô sát viện công phẫn, liên danh phản đối nhưng vô hiệu.


Lúc bấy giờ Hiến chính dự bị hội tại Quý Châu, tuy bị cấm nhưng vẫn hoạt động ngầm. Tháng 10/1909 Tư nghị cục thành lập tại các tỉnh, các Nghị viên đều thuộc khoa mục, hoặc lưu học sinh tại Nhật Bản ; phái lập hiến thanh thế tăng, Thượng Hải, Bắc Kinh và các đô thị lớn đều có cơ quan tuyên truyền. Qua sách động của Trương Tái, có 3 lần thỉnh nguyện của Tư nghị cục ; Trương Tái là người có tiếng đương thời, phần lớn Tổng đốc, Tuần phủ nổi tiếng đều quen biết. Sau khi Trương giữ chức Nghị trưởng Giang Tô Tư nghị cục, bèn mời 16 Tư nghị cục họp tại Thượng Hải, tổ chức Tư nghị cục liên hợp hội, yêu cầu thành lập quốc hội. Vào tháng 1/1910 đoàn thỉnh nguyện đến Bắc Kinh, ngoài việc dâng thư còn yết kiến các Vương, Công, Đại thần, yêu cầu trong 1 năm lập quốc hội. Được phúc đáp rằng trình độ trí thức của người trong nước không đều, hãy đợi hoàn thành xong 9 năm dự bị, giáo dục quốc dân phổ cập, tái định ngày triệu tập. Đại biểu bất mãn, chuẩn bị khuếch trương tổ chức, thỉnh nguyện tiếp, trước sau thành lập “ Thỉnh nguyện lập tức mở quốc hội đồng chí hội ” và “ Quốc hội tốc khai kỳ thành hội ”. Vào tháng 5, lại làm thỉnh nguyện lần thứ hai ; lần này ngoài Tư nghị cục, còn có thương hội, chính trị hội xã, đại biểu ngoại kiều, biểu thị cấp tốc mở quốc hội là ý kiến chung ; triều Thanh vẫn phúc đáp như cũ ; các đại biểu định vào tháng 2 năm sau làm thỉnh nguyện thứ ba. Lúc bấy giờ Nga, Nhật thành lập hiệp định và mật ước lần thứ hai, nước Anh kháng nghị Trung Quốc phái binh vào Tây Tạng, Nhật, Hàn đính lập Hợp bang điều ước ; tình hình trở nên cấp bách, đại biểu thỉnh nguyện định sớm hơn dự định, vào tháng 8/1910 sẽ tập hội tại Bắc Kinh.



2. Phái lập hiến thỉnh nguyện


Lần thỉnh nguyện thứ ba không chỉ yêu cầu mở quốc hội gấp, còn đòi hỏi lập trách nhiệm nội các, thành phần tham dự so với lần thứ hai mở rộng hơn ; học sinh tại Bắc Kinh, Thiên Tân, Bảo Định [Baoding, Hà Bắc], Phụng Thiên [Fengtian, Liêu Ninh] bãi khoá hưởng ứng. Tháng 10/1910 Tổng đốc, Tuần phủ 16 tỉnh liên danh yêu cầu tổ chức nội các, năm sau lập quốc hội. Cùng tháng, Tư chính viện khai mạc, có 200 nghị viên, triều đình tuyển và dân tuyển mỗi bên một nửa ; không chỉ Nghị viên dân tuyển ủng hộ chủ trương của đại biểu thỉnh nguyện, mà số đông Nghị viên do triều đình tuyển cũng đồng ý. Đại thần trong triều lo sợ, tìm cách sửa đổi ; vào ngày 4/11 tuyên bố 9 năm dự định lập hiến rút ngắn lại còn 6 năm, năm 1913 thiết lập nghị viện, sắp sửa đổi chế độ quan lại, dự bị thi hành nội các chế, biên soạn hiến pháp ; các đại biểu cần trở về tỉnh gấp trong ngày. Phần đông các đại biểu đều phản đối. Dư luận chỉ trích triều đình “ Miệt thị đại biểu tức miệt thị 400 vạn dân… Đảng cách mệnh sẽ lợi dụng thời cơ, tuyên truyền nổi dậy… lật đổ chính phủ ” ; lại đòi đại biểu ở lại kinh đô không đi, cùng bài bác chính phủ, đả kích các trọng thần. Ngày 18/12 Tư chính viện đàn hặc Quân cơ đại thần không làm được gì, cần cấp tốc thành lập nội các ; Nhiếp chính vương không chấp nhận. Tư chính viện lại tiếp tục đàn hặc, Nhiếp chính vương không trả lời, lại đổ oán cho đại biểu thỉnh nguyện. Ngày 24/12 bèn áp giải đại biểu Đông Tam Tỉnh 1 trở về nguyên quán, những đại biểu khác giao cho Tổng đốc, Tuần phủ cưỡng bách, nếu chống lại sẽ bắt trừng trị. Tháng 1/1911 Hội trưởng Toàn quốc học giới đồng chí, Ôn Thế Lâm, bị đày Tân Cương làm lính.

Thỉnh nguyện thư không được chấp thuận, phái lập hiến không còn kiên nhẫn nữa. Việc đàn áp như lửa chế thêm dầu, họ mật bàn nhau tuỳ cơ mà phản kháng ; nếu có nổi dậy, thì ra sức ủng hộ, giành lại độc lập. Về mặt công khai cũng tuyên bố rằng thế nước nguy nan, bên ngoài ngoại quốc bao vây dòm ngó, trong nội bộ thì lão thần nắm giữ, hoạ mất nước đang đến ; từ nay trở về sau “ Một tờ thỉnh nguyện không đủ tranh biện, một thiểu số người hô hào không đủ để thỉnh cầu, duy các phụ lão thấy điều gì lợi thì làm ” ; ý chỉ yêu cầu hoà bình đã tuyệt vọng, chỉ còn cách chọn con đường khác. Lương Khải Siêu cũng báo động “ Chính phủ ngày nay không sửa đổi, không đến 3 năm, nước tất đại loạn ; chờ đến năm Tuyên Thống thứ 8 [1916] sẽ triệu tập quốc hội, lịch sử trong tương lai sẽ không có ngày đó ! 


Đầu năm 1911, đối ngoại có vụ kháng nghị giữa Nhật, Nga về đường sắt Cẩm Châu [Jinzhou, Liêu Ninh] - Viên Hồn [Heihe, Hắc Long Giang], người Nga lợi dụng việc giao thông đường bộ gặp khó khăn nên đòi hỏi vô lý ; quân Anh tại Miến Điện cưỡng chiếm Phiến Mã [Pianma] thuộc Vân Nam ; tại tô giới Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc], lính Anh đi tuần giết người Hoa. Đối nội Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông] Tướng quân bị giết ; tháng 4 cách mệnh khởi nghĩa tại Quảng Châu, càng làm cho Thanh đình khiếp sợ. Ngày 8/5 ban bố nội các quan chế, thiết lập trách nhiệm nội các, triệt bỏ nội các cũ cùng Quân cơ xứ, để chứng tỏ thi hành lời hứa vào tháng 11 năm trước. Nội các mới có 1 Tổng lý đại thần, 2 Hiệp lý, 10 Đại thần cho các bộ ; trong đó có 8 người Mãn, 4 Hán, 1 Mông Cổ ; số người Mãn thì có 5 người trong Hoàng tộc, nên được coi là nội các Hoàng tộc. Trong đó thì Dịch Khuông thanh danh đã thui chột, những người khác thì thiếu hiểu biết, Nhiếp chính vương Tái Phong lại nhu nhược, nên không quá nửa năm chính phủ nhà Thanh bị tan vỡ.




3. Quân cách mệnh càng bị đánh càng kiên cường



Từ năm 1907-1908, ít nhất quân cách mệnh khởi nghĩa 8 lần nhưng đều bị thất bại ; tuy nhiên “ trải qua một lần thất bại, thì lần sau lại tiến bộ hơn ”. Kiểm thảo những ưu khuyết điểm trong quá khứ, không muốn tiếp tục những hành động nhỏ không đủ sức đánh vào tử mệnh của triều đình Mãn Thanh. Hơn nữa quân Thanh sưu tra bắt bớ nghiêm nhặt, đảng viên lưu vong tại hải ngoại sinh hoạt gian nan, một phần bị nhóm vận động lập hiến mê hoặc ; ngoài ra Nhật Bản, Việt Nam, Hương Cảng không chấp thuận cho Tôn Trung Sơn lưu trú. Nội bộ Đồng minh hội có sự chia rẽ, bọn Chương Bỉnh Lân, Đào Thành Chương tách ra, lập Quang Phục Hội chống lại Tôn Trung Sơn, khiến thế lực cách mệnh trong năm 1909 bị tiêu trầm. Lương Khải Siêu từng hoan hỷ cho rằng “ Trong mấy năm gần đây thuyết cách mệnh phổ biến khắp thiên hạ, từ khi chiếu Dự bị lập hiến ban ra, tình trạng giống như nước nóng gặp tuyết. Chiếu thư có sự kỳ diệu như vậy ư ? Chỉ do nhân tâm có chỗ dựa, khiến lòng dân không yên, trở thành yên ”. Uông Triệu Minh trong lòng phẫn khích, cho rằng nếu không có hành động kịch liệt, không đủ để dẹp nguỵ lập hiến, rửa sạch sự vu khống đảng và làm phấn chấn nhân tâm ; bèn chọn giải pháp ám sát, đối tượng là Nhiếp chính vương Tái Phong, để người trong nước biết rằng nguỵ lập hiến không làm lung lay tinh thần cách mệnh. Sự việc bị tiết lộ, tháng 4/1910 Uông bị bắt, triều đình nhà Thanh không muốn phe cách mệnh tăng cừu hận, nên xử Uông Triệu Minh vĩnh viễn tù cấm cố.


Mùa xuân năm 1909, Tôn Trung Sơn không được Tiêm La, Singapore dung nạp, bèn đến Mỹ vận động tài chánh. Hoàng Hưng, Hồ Hán Dân lưu lại Hương Cảng, chủ trì kế hoạch trong nước. Thời cuối Thanh, phái cải cách trong triều chủ trương mở thêm trường học, luyện tân quân; kết quả không ít học sinh và tân quân bị cách mệnh tranh thủ, trở nên đồng tình tham gia. Đồng minh hội và tân quân sớm có quan hệ, tân quân có hành động cách mệnh sớm nhất là Hùng Thành Cơ, cử sự tại An Khánh. Kế tiếp Triệu Thanh, Nghê Ánh Điển bị lộ tại Giang Nam, bèn xuống Quảng Châu cùng Hoàng Hưng tích cực liên lạc tân quân. Ngày 12/2/1910 cử sự tại Quảng Châu, bị thất bại trong ngày, bọn Nghê Ánh Điển chết hơn 100 người ; qua một năm trù hoạch đành trôi theo biển đông.


Tôn Trung Sơn tại Mỹ hay tin thất bại, bèn gấp trở về Penang [Mã Lai], hẹn với Hoàng Hưng, Hồ Hán Dân, Triệu Thanh hội họp ; mộ tiền Hoa Kiều được khoảng 19 vạn, quyết xoay vần thế cuộc. Kế hoạch tổng quát chiếm lãnh Quảng Châu, sau khi chiếm xong Hoàng Hưng cầm một cánh quân tiến đến Hồ Nam, hướng đến Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc] ; Triệu Thanh cầm một cánh quân, ra Giang Tây, tiến chiếm Nam Kinh. Nhân vì Hoàng tại Lưỡng Hồ, Triệu tại Giang Nam đều có sẵn lực lượng. Tại Vũ Hán, Trường Sa có Tống Giáo Nhân, Cư Chính, Tôn Vũ, Đàm Nhân Phong, Tiêu Đạt Phong chủ trì ; tại Thượng Hải có Trần Kỳ Mỹ. Ngoài ra phần lớn tại các tỉnh, đảng cách mệnh đều có mối liên lạc với tân quân.


Tôn Trung Sơn cho rằng không thể lưu trú lâu tại Nam Dương, lại đến các nước Âu, Mỹ ; giao cho Hoàng Hưng lập cơ sở trù tính tổng quát tại Hương Cảng, cùng chia đặt các cơ quan tại Quảng Châu ; thanh niên, phụ nữ tham gia rất đông. Lực lượng đảm nhiệm “ Tiên phong ” có mấy trăm, từ các tỉnh đến, cùng thanh niên hải ngoại trở về, phần lớn gốc tại Quảng Đông, Phúc Kiến ; thuộc các thành phần học sinh, giáo viên, ký giả, quân nhân, công nhân, nông dân, thương nhân ; họ đều ôm lòng quyết tử. Những di thư của Lâm Giác Dân, Phương Thanh Đổng để lại, mỗi chữ là mỗi dòng nước mắt.


Chuẩn bị đã đến lúc gần hoàn thành, nhưng vào ngày 8/4/1911 một thanh niên Hoa kiều đơn độc giết viên Quảng Châu Tướng quân Phu Kỳ ; Quảng Châu khẩn cấp giới nghiêm, khiến kế hoạch khởi nghĩa phải thay đổi. Cuối cùng định vào ngày 27/4, bốn lộ phát động. Hoàng Hưng đích thân đôn đốc hơn 170 người, tiến công nha môn Tổng đốc Lưỡng Quảng ; mặc dù viên Tổng đốc Trương Minh Kỳ bỏ trốn, lực lượng hải quân của Đề đốc Lý Chuẩn tiếp cứu. Hoàng Hưng gian khổ giao tranh một ngày đêm, hơn một nửa bị hy sinh ; ngày hôm sau 200 quân của Hồ Hán Dân, Triệu Thanh đến tiếp cứu, nhưng không kịp. Chiến dịch này quân cách mệnh bị hại 86 người, là những nghĩa sĩ ưu tú ; trong đó 72 di thể được chôn tại Hoàng Hoa Cương. Hoàng Hưng đau buồn không muốn sống, Triệu Thanh chẳng bao lâu bị bệnh mất. Tuy nhiên những người còn ngủ mê, nhờ sự hy sinh cao cả, trở nên hưng phấn. Tôn Trung Sơn trong bài tự “ Hoàng Hoa Cương liệt sĩ sự lược ” đánh giá cao cuộc khởi nghĩa như sau : “ …Chiến dịch này máu đỏ nhuộm đầy, khí hạo nhiên tràn lan bốn cõi ; cỏ cây cùng đau buồn, gió mây đều biến sắc. Cả nước mê ngủ từ lâu, nhờ đó mà hưng phấn ; mối oán tích tụ từ lâu, như ngọn ba đào phẫn nộ tràn dâng, rồi trong nửa năm đại cách mệnh Vũ Xương thành công. Giá trị của chiến dịch này, khiến kinh động trời đất, quỷ khốc thần sầu, cùng cuộc cách mệnh Vũ Xương sống mãi.”




4. Cầu sống cùng chống quyên đoạt lương



Vào cuối triều Thanh tiền bạc thu vào không đủ tiêu, sau bồi khoản lớn cho liên quân vào năm Tân Sửu [1901] thì tình trạng lại càng bi đát thêm ; chính phủ chỉ có cách là thêm thuế và quyên góp, mệnh lệnh tới tấp xuống, đòi hỏi phải giải nạp. Lúc bấy giờ uy tín của chính phủ bị vùi xuống đất, dân không đủ sống, phản đối dấy lên, gây nên biến động. Trong năm 1902, tại các tỉnh có nhiều cuộc tụ tập, chống bồi thường cho ngoại quốc. Từ năm 1903-1905 xẩy ra những vụ phản đối tân chính bắt quyên góp ; hoặc đả đảo việc bãi và cử chức quan mới. Năm 1906-1907 dân đói, nhiều vụ cướp gạo, thực phẩm xẩy ra ; ngay những tỉnh giàu có nhất như Chiết Giang, Giang Tô có đến trên 300 vụ, tệ trạng kéo dài đến năm 1909 chưa chấm dứt. Đồng thời trường học, bưu điện, đường sắt thường bị phá huỷ, thuyền máy chạy trên sông bị cướp.


Từ năm 1909-1910 do vấn đề tài chánh, dân biến lan đến tầm mức quốc gia. Lúc bấy giờ xuất siêu so với nhập, chênh lệch vào khoảng 8.000 vạn lượng, trong đó tiền bồi thường ngoại quốc chiếm đến 6 000 vạn lượng. Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1909, lục tục ban hành “ Thanh lý tài chánh chương trình ”, “ Thanh tra tài chính xử chương trình ” đặt quan giám sát tài chính tại tỉnh ; lúa gạo thu không đủ, tại miền Hoa đông lại thêm nặng. Mùa thu năm 1910, tại Thượng Hải các tiền xã 2 như Chính Nguyên, Triệu Khang, Khiêm Dư, và Nguyên Phong ngân hàng, bị đóng cửa, cũng gây ảnh hưởng. Trong vòng 2 năm, tại các tỉnh Chiết Giang, Giang Tô, An Huy, có mấy trăm vụ biến động xẩy ra khắp nơi.


Dân biến kịch liệt xẩy ra tại Giang Tây vào năm 1909, tại Hồ Bắc, Hồ Nam vào năm 1910 ; trong đó sự kiện tại Trường Sa [Changsha, Hồ Nam] làm chấn động trong và ngoài nước. Lúc bấy giờ tỉnh Hồ Nam bị thiên tại nặng, giá gạo lên cao, vào tháng 4 dân đói đến tỉnh đòi giảm giá gạo bán ra, náo động các nha môn, cướp bóc các tiệm gạo ; cảnh sát bèn dùng vũ lực đàn áp. Dân đói bèn nổi lửa đốt các nha môn, thuế cục, quan tiền cục, Đại Thanh ngân hàng ; rồi lan đến Dương hàng, giáo đường, lãnh sự ; cảnh sát bèn nổ súng, khiến mấy chục người chết. Chiếu ban cách chức Tuần phủ Sầm Xuân Mạc để tra xét, còn trừng trị những viên chức liên quan, thương gia đầu cơ và các thân sĩ sách động. Nhưng mối loạn không dừng, “ Thần quyền đảng ” tại Tương Đàm [Xiangtan, Hồ Nam] công nhiên chống lại quan binh. Tư nghị cục tỉnh Hồ Nam, Nghị trưởng Đàm Đình Khải cho rằng Tổng đốc Lưỡng Hồ che chở cho Sầm Xuân Mạc, nên yêu cầu điều tra ; bị chiếu chỉ trách là không yên bổn phận, cảnh cáo nếu còn mượn danh ngăn trở quan địa phương, sẽ bị triệt chức, nghiêm khắc xử lý, khiến lòng dân càng thêm bất bình. Cùng năm, dân An Huy tại phía bắc sông Trường Giang bị đói, cũng nổi lên.


Từ năm 1909-1910, dân tỉnh Trực Lệ phản đối quyên góp hà khắc, tụ tập dân đến hàng vạn. Năm 1910, tại tỉnh Hà Nam không ít huyện đường bị dân phá huỷ, dân chúng tập trung đến 2 vạn người. Dân tỉnh Sơn Tây chống cự quan binh, tử thương đến hàng trăm. Sự kiện tại Lai Dương [Laiyang], tỉnh Sơn Đông tối trầm trọng : vào tháng 5, dân 4 xã tại Lai Dương yêu cầu điều tra việc đầu cơ lúa gạo lúc mất mùa, đình chỉ sự quyên góp, nhưng không được chiếu cố, người lãnh đạo bị bắt. Tháng 6, dân phẫn nộ đốt nhà Hương trưởng và bao vây huyện đường. Tháng 7 quan binh khủng bố, dân chúng bao vây kín huyện đường ; quan binh dùng pháo oanh kích, chết cả ngàn người. Năm 1911, phía đông tỉnh Hà Nam bị đói, số người chết đến hơn 10 vạn ; số dân đói tại phía nam tỉnh Hà Nam quấy nhiễu đến phía bắc tỉnh Hồ Bắc.


Năm 1910, dân tỉnh Quảng Đông phản đối việc điều tra hộ khẩu, dân chúng tụ tập náo động, suốt tháng không ngừng ; ngay cả thành trì của châu cũng bị chiếm. Tại Tứ Xuyên, Vân Nam, một số huyện thành bị chiếm hoặc bị vây. Số đơn kháng kiện quan binh tại Quí Châu lên đến trên 70 vụ. Phụng Thiên, Tân Cương, Quảng Tây cũng đều có sự việc tương tự xẩy ra.


Nói một cách tóm tắt, từ năm 1909-1910 dân biến trở thành phổ biến, hoặc chống quyên góp, hoặc cướp lương ; tuy tự phát không nằm trong tổ chức nào, nhưng cùng chung lòng cừu hận chính quyền Mãn Thanh ; đối với cách mệnh tình thế trở nên thuận lợi.




5. Bảo hộ quyền lợi



Sau biến cố tại kinh kỳ vào năm Canh Tý [1900], lòng yêu nước và ý thức dân tộc của người Trung Quốc dâng cao ; đối nội muốn cải tạo hoặc cải lương chính trị, đối ngoại giành quyền lợi bị mất. Vào năm 1907 trở về sau, Nhật, Nga từng bước xâm lược, các nước cấu kết dành phần thêm mãnh liệt. Năm 1908, tàu Nhật “ Đệ Nhị Thần Hoàn ” ngầm chở vũ khí, bị bắt tại vùng lãnh hải tỉnh Quảng Đông ; triều đình nhà Thanh bèn xin lỗi, bồi thường, và trừng trị quan. Trước đó một năm, tại Quảng Đông đã thành lập “ Quốc quyền vãn cứu hội ”, nay hội này tổ chức chống lại Nhật Bản tại Thượng Hải, Quảng Châu bằng cách tẩy chay hàng Nhật trong vòng gần một năm, lại cử hành Quốc sỉ kỷ niệm. Năm 1909, Bồ Đào Nha yêu cầu mở mang biên giới tại Áo Môn, người dân tại Áo Môn phản đối ; tại Thượng Hải cũng có việc chống người Anh mở mang biên giới.


Từ năm 1905 trở về sau, đối với việc các nước yêu cầu khai mỏ khoáng, thì không những dân chúng phản đối, mà chính phủ cũng không khinh suất nhượng bộ. Tỉnh Sơn Tây tự lập công ty khoáng vụ ; thân sĩ thương nhân kiên trì đòi hỏi huỷ hợp đồng mỏ khoáng với Phúc công ty nước Anh. Vào năm 1908, hợp đồng mỏ khoáng với Pháp tại tỉnh Phúc Kiến đã mãn, bèn thu hồi tự lo lấy. Vào năm 1909 thân sĩ và thương gia tỉnh Hà Nam tổ chức Trung nguyên công ty để chống lại Phúc công ty, kết quả hai bên trở thành song phương hợp doanh. Các giới tại tỉnh An Huy yêu cầu thủ tiêu hợp đồng mỏ khoáng tại núi Đồng Sơn tại gần bờ phía nam sông Trường Giang, năm 1910 chuộc lại được. Năm 1919 Sơn Đông bảo khoáng hội thu hồi khoáng quyền của Đức tại 5 chỗ. Năm 1909 thu hồi mỏ khoáng tại Giang Bắc sảnh tỉnh Tứ Xuyên do người Anh liệu biện ; năm 1911 thu hồi khoáng quyền của người Pháp tại tỉnh Vân Nam. Riêng mỏ khoáng Khai bình do người Anh nắm giữ chưa được thu hồi hoàn toàn, năm 1912 Loan châu khoáng vụ công ty tại tỉnh Hà Bắc liên hợp liệu biện.


Vấn đề tranh quyền về đường sắt cũng khẩn cấp, nhưng từ đối ngoại biến thành đối nội, dân tranh đấu với chính quyền. Từ khi thu hồi thiết lộ Việt Hán [Quảng Đông - Hán Khẩu], các tỉnh rầm rộ thiết lập công ty, tự đảm đương thiết lộ cho tỉnh nhà. Tháng 7/1907 công ty Tô Chiết thiết lộ yêu cầu phế bỏ hợp đồng mượn tiền của Anh xây thiết lộ Tô-Hàng-Ninh Ba, tổ chức “ Quốc dân cự khoản hội ” có lưu học sinh tại Đông Kinh, cùng sĩ thân, học sinh tại Thượng Hải, Tô Châu, Hàng Châu tham gia. Công sứ Anh phản đối, triều đình ra lệnh “ Nghiêm phòng loạn đảng phiến hoặc từ bên trong ”. Ngoài ra thiết lộ do thương biện khó có thể trù hoạch được số tiền lớn, đương cục chính phủ nghĩ đến việc mượn tiền để hưởng lợi, bắt các tỉnh phải làm xong thiết lộ đúng kỳ hạn, nếu không sẽ giao cho bộ bưu truyền quản lý ; chú ý nhất là các thiết lộ Việt Hán, Xuyên Hán [Tứ Xuyên - Hán Khẩu]. Vào năm 1908 phái Trương Chi Đổng đốc biện thiết lộ Việt Hán và Xuyên Hán. Năm sau cùng với ngân hàng 3 nước Anh, Pháp, Đức đính lập hợp đồng mượn tiền cho Hồ Quảng thiết lộ (bao quát phần thiết lộ Việt Hán, Xuyên Hán trong 2 tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc). Các cổ đông công ty thiết lộ Quảng Đông kiên trì tự liệu biện, Trương Chi Đổng trách công ty đã cản trở, quyết định tự lo liệu lấy ; việc này biểu hiện chính sách cưỡng chế của chính phủ. Sau khi Trương mất, hai thiết lộ này đều giao cho bộ bưu truyền liệu biện ; Hồ Nam thiết lộ công ty cùng Tư nghị cục tiếp tục phản đối việc mượn tiền, lúc này Hồ Bắc thành lập Thương biện thiết lộ hiệp hội. Năm 1910 Anh, Pháp, Đức kháng nghị, cùng với Mỹ tổ chức ngân hàng đoàn 4 nước, nhất trí yêu cầu thi hành hợp đồng đã ký ; các công ty tại Hồ Bắc, Hồ Nam chống lại không chấp thuận. Đồng thời tại tỉnh Hà Nam cũng phản đối việc mượn ngân khoản xây đường sắt từ Khai Phong [Kaifeng, Hà Nam] đến Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô], cuộc vận động chống mượn tiền tại Giang Tô, Chiết Giang lại dấy lên ; cực lực công kích Thịnh Tuyên Hoài.


Thịnh Tuyên Hoài được Lý Hồng Chương biết sớm, từng liệu biện Luân thuyền [thuyền máy] chiêu thương cục, Điện báo cục, Chức bố [dệt vải] cục ; rồi nhờ Trương Chi Đổng, coi sóc công ty khai thác sắt Hán Trị Bình 3, giữ chức Đốc biện Thiết lộ tổng công ty. Năm 1903, phần lớn quyền của Thịnh bị Viên Thế Khải tước đoạt. Năm 1906, Thiết lộ tổng công ty bị Đường Thiệu Nghi thay thế, Thịnh rất lấy làm phật ý. Thời Giang Tô, Chiết Giang đòi tự xây đường sắt dấy lên, Thịnh Tuyên Hoài lại xuất hiện, chủ trương mượn tài khoản ngoại quốc. Năm 1908 triều đình nhà Thanh làm hợp đồng mượn ngân khoản của Anh để xây đường sắt Thượng Hải - Hàng Châu - Ninh Ba ; dùng Thịnh Tuyên Hoài làm Thị lang bộ bưu truyền, nhưng vì dư luận phản đối nên không nhậm chức. Khi Tái Phong làm Giám quốc, dùng người thân quý Hoàng gia, rất muốn mượn ngân khoản để lợi dụng bòn rút, lại muốn dùng Thịnh để chống lại hệ phái Viên Thế Khải. Thịnh được Thượng thư bộ độ chi Tái Trạch bang trợ, tháng 8/1910 trở lại chức Thị lang bộ bưu truyền, kiêm bang biện bộ độ chi về vấn đề tiền tệ, để chuẩn bị đàm phán với ngân hàng 4 nước. Tổng lý Chiết Giang thiết lộ công ty Thang Thọ Tiềm bài xích Thịnh Tuyên Hoài là kẻ đứng đầu tội về thiết lộ tại Giang Tô, Chiết Giang, không đáng quay lại nhậm chức. Thịnh được ân sủng nhiều, càng kết thân với Hoàng gia thân quý. Tháng 1/1911 thay Đường Thiệu Nghi làm Thượng thư bộ bưu truyền, tháng 3 đính lập Thiết lộ công trái tá khoản với Chính kim ngân hàng của Nhật mượn 1 000 vạn nguyên ; tháng 4 Tái Trạch cùng ngân hàng 4 nước đính lập chương trình chỉnh đốn tiền tệ, hưng biện thực nghiệp, mở rộng thiết lộ, mượn ngân khoản 5 000 vạn nguyên. Ngày 5/5 Cấp sự trung Thạch Trương Tín dâng sớ trình bày thương biện thiết lộ tệ hại, chủ trương tuyến đường chính [can lộ] do nhà nước phụ trách, đường nhánh [chi lộ] do dân kinh doanh. Vào tháng 8, nội các mới của Dịch Khuông thành lập, Thịnh Tuyên Hoài vẫn giữ chức đứng đầu bộ bưu truyền, quyết định quốc hữu thiết lộ chính. Tháng 9 dụ triều đình tuyên bố các tỉnh thương biện can lộ [lộ chính] do quốc gia thu hồi “ Nếu như không chiếu cố đến đại cuộc, cố ý nhiễu loạn thiết lộ, phiến hoặc chống đối, thì sẽ xử theo điều vi phạm chính sách ” ; biết rằng sẽ dẫn đến chống đối, nên chọn biện pháp đàn áp. Hành động này không xét đến dân tình đang sôi sục, uy tín của chính phủ đã xuống đến tận đáy, nên sự động loạn sẽ tiếp tục bạo phát.


Can lộ [đường chính] chia làm 4 tuyến : đông, tây, nam, bắc; Xuyên Hán lộ là tây can, Việt Hán là nam can, thực tế phải thu vào quốc hữu, phái Đoan Phương làm Đốc biện đại thần. Ngày 20/5/1911 Thịnh Tuyên Hoài cùng 4 nước thành lập Hồ Quảng thiết lộ tá khoản, kiến trúc tuyến đường sắt Việt-Hán trong 2 tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, cùng tuyến đường Tứ Xuyên - Hán Khẩu. Cho đến lúc bấy giờ tại địa phương cổ phần Quảng Đông thu thập được khoảng 1 400 vạn lượng, tương đương với một nửa số tiền xây đường sắt Việt Hán trong tỉnh Quảng Đông ; Hồ Nam thu thập được 500 vạn lượng, tương đương 1/5 tiền xây đường Việt Hán trong tỉnh này ; Tứ Xuyên thu được 1 600 vạn lượng, tương đương với 1/6 tiền xây đường sắt Xuyên Hán trong tỉnh ; Hồ Bắc thu được càng ít, khoảng 100 vạn lượng. Với tình trạng như vậy, nếu như để cho công ty tại các tỉnh làm, thi không biết năm nào mới xong. Do vậy chính sách quốc hữu thiết lộ không sai lầm nhiều, tuy nhiên đương thời nhân dân không ủng hộ vì những lý do sau đây :


- Ngoại quốc đầu tư vào thiết lộ, biểu hiện hành vi xâm lược, nên dân ghét.

- Dân đối với chính quyền Mãn Thanh không tin tưởng chút nào.

- Chạm đến quyền lợi của thương gia, thân sĩ nên phái này cổ động phản đối.

- Phái cách mệnh, cùng phái lập hiến chọn cơ hội này để tăng cường đấu tranh. Do đó phản đối nương theo sự hô hào mà dấy lên.


Dân phản đối tại 4 tỉnh : Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, đều nhắm Thịnh Tuyên Hoài mà chỉ trích. Phái lập hiến nắm Tư nghị cục cùng Thiết lộ công ty, bước đầu đòi hỏi bằng phương sách hoà bình, nhưng việc quốc hữu đường sắt đã trở thành mệnh lệnh. Nhà đương cục địa phương tại các tỉnh Hồ Bắc, Tứ Xuyên cũng cho rằng dân có thể tự lo được, không muốn mượn tiền, xin tạm hoãn quốc hữu. Chiếu chỉ nghiêm khắc thân sức “ Nếu như có bọn phỉ mê hoặc, nhiễu hại trị an, giết ngay tại chỗ không xử ”. Trương Tái, một nhân vật ôn hoà trong phái lập hiến gặp mặt Tái Phong, Tái Trạch, Thịnh Tuyên Hoài yêu cầu đừng thi hành quá gấp ; nhưng không nghe lời, cho rằng phải dùng binh lực để trấn phục. Vào ngày 15/6/1911 nhân người tỉnh Quảng Đông không chịu dùng tiền giấy, chỉ trao đổi bằng vàng, bạc thiệt, làm thiệt hại Đại Thanh ngân hàng, đòi chính phủ nhượng bộ ; Tái Phong ra lệnh cho Tổng đốc, Tuần phủ dùng quân đàn áp, cũng doạ rằng “ Nếu dám họp dân làm loạn, thì giết ngay tại chỗ không xử ”. Phái phản đối dùng lại từ ngữ “ giết ngay tại chỗ không xử ” ; như Hoa kiều gốc Quảng Đông tại Mỹ, cũng kêu bèn gọi “ Kẻ nào đoạt lấy thiết lộ, giết ngay tại chỗ không xử ”; lưu học sinh tại Nhật xưng rằng “ thiết lộ còn thì còn, thiết lộ mất cùng mất ”.


Lãnh tụ phái lập hiến tại Tứ Xuyên, bọn Bồ Điện Tuấn, một lòng chủ trương tự liệu biện thiết lộ; thực tế khống chế ban chấp hành thiết lộ tỉnh. Sau khi thỉnh nguyện về lập hiến bị cự, họ vẫn hăng hái tiếp tục, đối với việc quốc hữu thiết lộ phản đối triệt để. Biện pháp của bộ bưu truyền thu hồi thiết lộ 4 tỉnh càng làm cho bọn họ bất bình. Triều đình nhà Thanh quyết tâm dùng vũ lục để đối phó với dân Tứ Xuyên, ra lệnh cho Tổng đốc Triệu Nhĩ Phong, mới đến trấn nhậm, bắt kẻ chủ mưu. Tình hình trở nên căng thẳng, tháng 8 tấu xin triệt chức viên Tham nghị bộ bưu truyền phụ trách Xuyên Hán thiết lộ, Lý Tắc Luân, nhưng bị triều đình bác.


Dân Tứ Xuyên không còn nhịn được nữa, ngày 24/8 tại Thành Đô cử hành đại hội bảo vệ thiết lộ, nghị quyết bãi thị, bãi khoá, đình nạp thuế quyên ; cách mệnh và Ca Lão hội lãnh đạo các châu huyện hưởng ứng. Triệu Nhĩ Phong liên tục điện cáo cấp, bảo rằng tình hình dân chúng ngờ giận, nếu không chuẩn theo lời xin, biến sẽ sinh trong khoảng khắc, cả nước sẽ bị khiên chế. Vào ngày 1/9, cả tỉnh thực hành kháng quyên kháng nạp lương. Ngày 2/9 Thanh đình ra lệnh Đoan Phương mang quân đến. Ngày 5, tại Thành Đô phát tán truyền đơn “ Xuyên nhân tự bảo thương quyền thư ” (Thư tuyên bố dân Tứ Xuyên tự bảo vệ quyền kinh doanh), Triệu Nhĩ Phong cũng thừa nhận rằng “ Tình thế phải tiễu trừ ”. Ngày 7, dụ đến họp, rồi bắt Nghị trưởng Tư nghị cục Bồ Điện Tuấn, Hội trưởng Bảo lộ hội, Hội trưởng hội cổ đông, và hơn 10 người trong ban chấp hành Công ty thiết lộ. Ca Lão hội tổ chức thành “ Đồng chí quân ” có đến mấy vạn bao vây Thành Đô [Chengdu, Tứ Xuyên], tướng sĩ tân quân cũng có người tham gia ; như vậy dân Tứ Xuyên từ việc hoà bình tranh chấp đường sắt, biến thành vũ trang phản kháng. Chiếu mệnh đem những người đứng đầu ra xử tử, phái thêm thuỷ, lục quân vào Tứ Xuyên ; dùng lại cựu Tổng đốc Sầm Xuân Huyên để cùng Đoan Phương lo việc chiêu phủ. Trải qua hơn 10 ngày đánh dẹp đốt giết, Triệu Nhĩ Phong báo cáo cục diện lược định, ý muốn Sầm Xuân Huyên và Đoan Phương đừng vào Tứ Xuyên ; nhưng thực tế thì “ Các huyện thuộc phủ Thành Đô không có nơi nào mà không có phỉ ; các châu, huyện rầm rộ cấp báo ” ; quan quân mấy lần bại, quân phòng thủ phản lại, sinh biến. Đầu tháng 10, huyện Quán [Dujiangyan, Tứ Xuyên], cách Thành Đô vài chục lý về phía tây bắc, bị Đồng chí quân chiếm lãnh ; rồi chỉ trong mấy ngày sau quân cách mệnh Vũ Xương [Wugang, Hồ Bắc] tiếp tục khởi sự.



Hồ Bạch Thảo






1 Đông Tam Tỉnh : ba tỉnh phía đông bắc, tức Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh.

2 Tiền xã : một loại ngân hàng lưu hành nội địa.

3 Hán Trị Bình công ty : công ty chế sắt tổng hợp 3 mỏ lớn: Hán Dương [Hanyang, Hồ Bắc], Đại Trị [Daye, Hồ Bắc], Bình Hương [Pingxiang, Giang Tây].

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss