Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / Tưởng Giới Thạch lãnh đạo / Tưởng Giới Thạch lãnh đạo (3)

Tưởng Giới Thạch lãnh đạo (3)

Chương 3 : Quốc dân đảng và Cộng sản đấu tranh ác liệt [1927-1928]


Tưởng Giới Thạch lãnh đạo


Hồ Bạch Thảo


Chương 3

Quốc dân đảng và Cộng sản đấu tranh ác liệt
[1927-1928]

pnt

Phùng Ngọc Tường [1882-1948]
Nguồn : zh.wikipedia.org/zh/冯玉祥

1. Chính phủ Vũ Hán gặp khó khăn


Bắc phạt thắng lợi chính nhờ sự kết hợp giữa vũ lực của cách mệnh và vận động dân chúng. Vũ lực nằm trong tay Quốc dân đảng, còn vận động quần chúng phần lớn nhờ Trung cộng. Tháng 1/1925 tại hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 4, Trung cộng đặc biệt nhấn mạnh vai trò trọng yếu của công nhân và nông dân ; đổi đoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa thành Thanh niên cộng sản chủ nghĩa. Trung cộng hoạt động tại hai tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc đã được 6 năm ; sau khi quân cách mệnh tiến đến Hồ Nam, tổ chức nông dân phát triển nhanh chóng. Tháng 11/1926 có đến 50 huyện hội được thành lập, với 132 vạn hội viên. Toàn thể nông dân hội nghị quyết định giảm tô, bớt tiền lời cho vay, phản đối thuế nặng. Tháng 1/1927 số hội viên tăng đến tăng đến 200 vạn, vào tháng 2 năm này Mao Trạch Đông khảo sát cuộc vận động của 5 huyện rồi báo cáo rằng nông dân triệt để đả đảo thổ hào, thân sĩ xấu, địa chủ chiếm đặc quyền. Hiệp hội nông dân là cơ quan duy nhất có quyền lực tại nông thôn “ thuận theo thì còn, chống lại bị tiêu diệt ”, những người giàu có lớn không có ai không bị ghép vào cường hào, thân sĩ xấu ; đến như nhà của con cháu Tăng Quốc Phiên cũng bị phá huỷ.


Riêng việc vận động công nhân, tại Vũ Hán [Wuhan, Hồ Bắc] quyết liệt nhất ; vào cuối năm 1926 hội viên công hội Hồ Bắc lên đến lên đến 35 vạn người ; với các hoạt động như khai hội, biểu tình, bãi công ; có trường hợp liên quan đến cải thiện tiền lương, cuộc sống ; có trường hợp liên quan đến chính trị, ngoại giao ; khiến không ít công xưởng, tiệm buôn phải đóng cửa, phần lớn công nhân thất nghiệp. Tháng 3/1927, riêng thành phố Hán Khẩu [Hankou], một trong những thành phố lớn của Vũ Hán, số hội viên lên tới 20 vạn người, tháng 4 tăng đến 30 vạn người. Lại do miền hạ lưu sông Trường Giang bị chính phủ Nam Kinh phong toả, hàng hoá tắc nghẽn, nhu yếu phẩm thiếu thốn, các hàng xưởng không có nguyên liệu, giá cả đắt đỏ. Chính phủ Vũ Hán lại muốn tập trung tiền bạc, phàm nạp thuế, lưu thông thị trường chỉ dùng tiền của 3 ngân hàng : Trung ương, Trung Quốc, Giao thông ; cấm chỉ ngoại tệ và các loại tiền khác xuất khẩu ; do đó giá bạc xuống nhanh, giá hàng tăng cao, thương nghiệp đình đốn, đồ thường dùng hàng ngày không có chỗ mà mua, tài nguyên khô kiệt lại là một đòn trí mệnh. So với quá khứ mỗi tháng tỉnh Hồ Bắc chỉ thu được ¼ số thuế, Hồ Nam 1/5, Giang Tây ½ ; nên Borodin không thể không thi hành chiến lược tạm lùi bước bằng cách bảo hộ tài sản ngoại quốc, thương nghiệp, cùng giai cấp tiểu tư sản ; ngăn cản bệnh ấu trĩ tả khuynh của Trung Cộng, để bảo hộ thị trường, giải quyết công nhân thất nghiệp ; nhưng vẫn không thu được hiệu quả.


Ngày 27/4 tại Hán Khẩu, Trung Cộng mở đại hội đại biểu lần thứ 5, lúc này số đảng viên toàn quốc đạt đến 57.900 người ; Trần Độc Tú vẫn tiếp tục giữ chức Tổng thư ký kiêm Chủ tịch chính trị cục ; Chu Ân Lai, Bành Thuật Chi, Cù Thu Bạch, Tô Triệu Chinh làm Uỷ viên thường vụ ; Trương Quốc Đảo làm Trưởng bộ tổ chức, Bành Thuật Chi kiêm bộ tuyên truyền, Chu Ân Lai kiêm bộ quân sự, Cù Thu Bạch kiêm bộ nông dân, Tô Triệu Chinh kiêm bộ chức công. Trong cuộc hội, đại biểu cộng sản quốc tế Manabendra Nath Roy [Lỗ Dịch] chủ trương thi hành cải cách ruộng đất để cách mệnh thâm nhập, khiến các tỉnh Lưỡng Hồ, Giang Tây được củng cố. Borodin chủ trương tạm hoà hoãn, thi hành bắc phạt trước, thu phục thế lực Hoa bắc, khiến cách mệnh khuếch đại. Borodin tuy được Trần Độc Tú ủng hộ, nhưng phe M. N. Roy thắng lợi. Đại hội nhận định rằng cách mệnh Trung Quốc hiện tại do công nhân, nông dân, kết hợp với giai cấp tiểu tư sản ; công nhân là giai cấp lãnh đạo, nông dân cần tổ chức lực lượng quân sự, chính trị ; đem toàn lực đấu tranh với thế lực phong kiến, biến thành cuộc cách mệnh ruộng đất, tịch thu ruộng đất công và ruộng đất địa chủ, xoá bỏ quyền lợi và uy thế của địa chủ cùng thân sĩ, thành lập chính phủ nông dân tự trị tại nông thôn, tổ chức lực lượng nông dân tự vệ. Lúc này nông dân hiệp hội hội viên tại tỉnh Hồ Nam ước chừng 450 vạn người, Hồ Bắc 250 vạn, khí thế bừng lên như lửa. Quan quân phần lớn có ruộng đất, gia thuộc bà con đều bị nhiễu hại, khích động họ trực tiếp hành động.


Người đầu tiên nổi lên là Sư đoàn trưởng Hạ Đấu Dần, trú đóng tại Nghi Xương [Yichang, Hồ Bắc], thượng du Vũ Hán. Hạ người gốc Hồ Bắc, đảng viên Quốc dân đảng, là tướng lãnh nắm thực lực, bắc phạt có công khắc phục Hồ Bắc nhưng không được thăng thưởng. Qua sự sách động của chính phủ Nam Kinh, thừa dịp quân Vũ Hán kéo lên tỉnh Hà Nam phía bắc, ngày 6/5/1927 Hạ mang quân xuôi phía đông, nhắm lật đổ chính phủ Vũ Hán. Ngày 19 tiến đến vùng phụ cận Vũ Xương khiến Vũ Hán chấn động, bèn động viên lực lượng tại chỗ, đánh lui ; nhưng không ngờ lại có cuộc nổi dậy khác lớn hơn tại Trường Sa [Changsha, Hồ Nam]. Nguyên Đường Sinh Trí ngoài việc ưa quyền lực, không có lập trường về chính trị ; riêng bộ hạ của Đường là Hà Kiện ghét cộng sản. Ngày 19/5 cha của Hà bị công nhân Trường Sa bắt ; ngày 21 bộ hạ của Hà là Đoàn trưởng Hứa Khắc Tường giải tán Công nhân củ sát đội, Nông dân tự vệ đội, đóng cửa Hồ Nam tổng công hội, Nông dân hiệp hội và bắt giết đảng viên cộng sản, tuyên bố ủng hộ chính phủ Nam Kinh ; biến cố này được gọi là “ Mã nhật sự biến ” 1. Ngày 23/5 bọn Hứa Khắc Tường thành lập “ Trung Quốc Quốc dân đảng Hồ Nam cứu đảng biện sự xứ ” ; ngày 28/5 lập “ Trung Quốc Quốc dân đảng Hồ Nam cứu đảng uỷ viên hội ”, đưa các tổ chức này xuống tận các huyện, thị. Mã nhật sự biến thực tế là bước đầu cho việc “ Phân cộng ” 2.


Sau khi sự biến phát sinh, Đường Sinh Tri mang quân từ Hà Nam trở về, đòi trị tội Hứa Khắc Tường lạm quyền, Hứa bèn mang quân theo chính phủ Nam Kinh của Tưởng Giới Thạch. Borodin và Trung cộng cảm thấy sự việc đến hồi nghiêm trọng, sợ toàn quân của Đường Sinh Trí phản biến, bèn dùng biện pháp pháp luật bảo hộ công xưởng, tiệm buôn ; cấm chỉ công hội bắt bớ hiếp bách những người ngoài tổ chức, không được quấy nhiễu tài sản của quân nhân và gia thuộc. Chính phủ Vũ Hán trước đó sai Borodin đến Trường Sa để điều tra liệu biện, nhưng bị Hứa Khắc Tường cự, bèn thay đổi mệnh lệnh, giao cho Đường Sinh Trí hỏi tội Hứa. Ngoài ra, ngày 29 cùng tháng, Đệ tam quân trưởng kiêm Chủ tịch tỉnh Giang Tây Chu Bồi Đức, ra lệnh cưỡng bách đảng viên Trung cộng ra khỏi tỉnh, đình chỉ hoạt động Công hội và Nông dân hiệp hội.




2. Chính phủ Vũ Hán chia tay với cộng sản



Tưởng Giới Thạch thanh đảng là một thất bại lớn về chính sách của Stalin đối với Trung Quốc; nhưng Stalin vẫn muốn Trung cộng tiếp tục hợp tác với Quốc dân đảng tả phái, biến chính phủ Vũ Hán thành chính quyền độc tài công nông, Quốc dân đảng đứng tên, nhưng cộng sản nắm thực quyền, để cho việc tương tự như Thanh đảng không thể xẩy ra. Vào ngày 18 đến ngày 30/5/1927, chính lúc Cộng sản quốc tế đang họp chấp hành uỷ viên lần thứ 8, thì Hạ Đấu Dần mang quân tiến công Vũ Hán, kế tiếp đến Mã nhật sự biến, nên ngay lúc đó hội nghị ban hành “ Trung Quốc vấn đề quyết nghị án ” huấn lệnh Trung cộng chấp hành 4 điều, nội dung muốn biến Quốc dân đảng tả phái hoàn toàn trở thành bù nhìn cho Trung cộng :


– Thứ nhất, cương quyết thi hành cách mệnh ruộng đất, do Hiệp hội nông dân đoạt lấy ruộng đất, không thông qua Quốc dân chính phủ tịch thu.


– Thứ hai, những lãnh tụ già Quốc dân đảng phần lớn dao động và dễ thoả hiệp ; cần hấp thụ nhiều lãnh tụ thuộc thành phần nông công gia nhập Quốc dân đảng trung ương, cải tổ cơ cấu mới.


– Thứ ba, nhắm trừ tận gốc những Tướng lãnh không thể tin được, động viên 2 vạn đảng viên cộng sản, cùng 5 vạn công nhân, nông dân cách mệnh tại Hồ Nam, Hồ Bắc, biên chế thành đạo quân mới.


– Thứ tư, dùng một nhân vật Quốc dân đảng có danh tiếng cho đứng đầu ; lập toà án cách mệnh, trừng trị quan quân phản động.


Điều quan trọng là thành phần cộng sản phải lưu lại trong tổ chức Quốc dân đảng, đợi thời cơ thuận lợi thiết lập chính quyền Xô viết.


Trước tình thế phản cộng của quân nhân, Borodin nhận định trong giai đoạn hiện tại cần chiều theo Quốc dân đảng tả phái, thừa nhận cuộc vận động dân chúng đi đến chỗ quá trớn ; ngoài việc bảo hộ lợi ích của công nhân, nông dân, cũng cần bảo hộ lợi ích công, thương nghiệp trung đẳng. Nhưng Cố vấn M. N. Roy chủ trương cải tạo Quốc dân đảng trung ương thành chính phủ độc tài chuyên chính công nông. Lúc đầu ý kiến của Trung Cộng chưa ngả về phía nào, sau bèn theo M. N. Roy vì y là đại biểu cho quốc tế Cộng sản ; bèn tỏ ra cường ngạnh với Quốc dân đảng tả phái, yêu cầu lập tức đánh dẹp thành phần phản động, bình định Hồ Nam, tuyên bố cho tổ chức công nông và Trung cộng được hoạt động tự do. Ngoài ra Trung cộng tuyên bố Cáo nông dân thư, đả đảo Hứa Khắc Tường, đả đảo đại địa chủ, cùng thân sĩ xấu. Ngày 5/6, Roy gửi huấn lệnh của cộng sản quốc tế cho Uông Triệu Minh, hy vọng có thể hiệp thương. Uông cho rằng đó là âm mưu tiêu diệt Quốc dân đảng, qua quyết nghị của cuộc hội nghị chính trị, bèn giải trừ chức Cố vấn của Borodin ; ngày hôm sau Uông cùng Đường Sinh Trí đến Trịnh Châu [Zhengzhou, Hà Nam] họp bàn với Phùng Ngọc Tường.


Trong tình huống chính phủ Vũ Hán và Nam Kinh thế không cùng tồn tại, cả hai phe đều muốn tranh thủ Phùng Ngọc Tường hợp tác. Trung Cộng cũng muốn giành Phùng Ngọc Tường, nhắm sử dụng một mũi tên để bắn 2 chim, mong có thể tiêu diệt cả Nam Kinh và Vũ Hán. Trong cuộc hội đàm giữa Uông Triệu Minh và Phùng Ngọc Tường từ ngày 10-11/6 tại Trịnh Châu, Uông thuyết phục Phùng cùng đánh Nam Kinh nhưng bị Phùng cự tuyệt ; Phùng chủ trương Vũ Hán, Nam Kinh hợp nhất cùng Bắc phạt. Roy gửi thư cho Phùng khuyên đánh dẹp Nam Kinh, Quảng Châu, tảo thanh phản động tại Lưỡng Hồ và Giang Tây ; những điều này không phải là sở nguyện, mà cũng ngoài khả năng của Phùng. Uông muốn bảo toàn địa vị tại Vũ Hán, quyết định rút quân, tự lo việc đông chinh ; đem phần đất đã chiếm được tại Hà Nam giao cho Phùng, để làm màn che phía bắc. Đường Sinh Trí cũng lo vùng đất Lưỡng Hồ bị Trung Cộng đoạt, rất mực tán thành ; vào ngày 13/6 bọn Uông trở về Vũ Hán, Đường Sinh Trí, Trương Phát Khuê tiếp tục rút về phương nam.


M. N. Roy cho rằng thái độ của Phùng Ngọc Tường dao động, bèn chủ trương công khai chống lại Phùng, phát động tổng bãi công tại Vũ Hán, nhưng Borodin và Trần Độc Tú phản đối. Vào ngày 15/6 Trung cộng phúc trình lên Cộng sản quốc tế rằng không thể thi hành mệnh lệnh, tịch thu đất đai cần phải đình hoãn, công nông dân chủ độc tài trong đoản kỳ không thể hoàn thành, cải tổ Quốc dân đảng tả phái và bỏ Uông Triệu Minh không dễ ; trước mắt cần duy trì quan hệ tốt với Quốc dân đảng tả phái và lãnh tụ quân sự, chỉnh sửa hành động quá khích của nông dân để làm yên tâm quan quân và chính quyền. Borodin và Roy cũng muốn tiếp tục lung lạc Uông Triệu Minh và Đường Sinh Trí, chuẩn cấp tiền cho vay, tán thành đông chinh ; nhưng Uông, Đường đều biết rằng Cộng sản quốc tế muốn dẹp bỏ Quốc dân đảng cùng quân đội, nên khó có thể tiếp tục hợp tác.


Sau cuộc hội nghị tại Trịnh Châu 9 ngày, Phùng Ngọc Tường đến Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô] hội nghị với Tưởng Giới Thạch. Tưởng chủ trương bình định Vũ Hán trước, Phùng không đồng ý ; tuy nhiên Phùng gửi điện cho Vũ Hán, trách hành động của Trung cộng, đốc thúc Borodin trở về nước ; ngoài ra Phùng và Tưởng cùng tuyên bố tiếp tục bắc phạt. Nói tổng quát Tưởng cũng thu hoạch được phần lợi, ngoài ra mỗi tháng Phùng cũng được chính phủ Nam Kinh gửi cho 200 vạn nguyên quân lương.


Sau khi quân bắc phạt khắc phục Nam Kinh, Thượng Hải ; Diêm Tích Sơn thống trị tại Sơn Tây liên lạc với Tưởng, tuy vẫn giao thiệp với phe Vũ Hán, nhưng không bằng lòng Cộng sản hoạt động tại tỉnh Sơn Tây. Vào ngày 6/6, Diêm Tích Sơn trên danh nghĩa nhận chức Tổng tư lệnh quân cách mệnh phương bắc của chính phủ Nam Kinh, nhưng không chịu nhận chức đệ tam tập đoàn Tổng tư lệnh do Vũ Hán cấp ; Diêm khuyên Trương Tác Lâm bắt tay với Tưởng. Ngày 18/6 Trương Tác Lâm tại Bắc Kinh tự phong Đại nguyên soái, xưng là bạn cũ của Tôn Trung Sơn, đối với phe Quốc dân đảng không trái ngược với Tam dân chủ nghĩa [ý chỉ Nam Kinh] thì coi như bạn, đối với kẻ cam tâm xích hoá 3 [chỉ Vũ Hán] thì hài tội đánh dẹp.


Ngày 25/6, Hà Kiện tại Vũ Hán loan truyền cáo văn chống cộng xuống bộ hạ. Ngày 26, Đường Sinh Trí cấm chỉ đoàn thể dân chúng tại Hồ Nam hoạt động. Ngày 27, Trung cộng hiệu triệu giai cấp công, nông, tiểu tư sản kết hợp, chiến đấu chống tân quân phiệt. Ngày 28, Tổng công hội Củ sát đội tỉnh Hồ Bắc bị Đường Sinh Trí giải tán. Cộng sản quốc tế ra lệnh Trung cộng tuyên chiến với Phùng Ngọc Tường, đừng tiếp tục tín nhiệm quân nhân, tự tổ chức lấy vũ lực. Lúc này Uông Triệu Minh thị ý cho 2 thành viên trong Quốc dân chính phủ gồm Bộ trưởng nông chính Đàm Bình Sơn, Bộ trưởng lao công Tô Triệu Chinh từ chức ; trước đó thành phần thân cộng, Đặng Diễn Đạt, cũng rời Vũ Hán. Ban chấp hành trung ương Trung cộng họp hội nghị, mưu cùng Uông, Đường liên hợp đông chinh, riêng Roy thì chủ trương nam chinh, ngày 3/7 trung ương Trung cộng quyết định cho viên Cố vấn này rời chức. Ngày 6/7 cuộc hội nghị tại Vũ Hán thông qua đề án thảo phạt Nam Kinh của Uông, bộ hạ của Trương Phát Khuê di chuyển xuôi dòng Trường Giang. Cộng sản quốc tế bất mãn với Trung cộng, triệu hồi Borodin, ra lệnh cải tổ Trung cộng trung ương, rút ra khỏi chính phủ Vũ Hán nhưng vẫn tạm lưu lại trong nội bộ Quốc dân đảng. Borodin chỉ định 5 người trong Trung ương cục thường vụ uỷ viên, trong đó có Trương Quốc Đảo, Chu Ân Lai, riêng Trần Độc Tú không còn giữ nhiệm vụ. Ngày 13/7 Trung cộng ra tuyên ngôn bài xích Quốc dân đảng dung dưỡng quan quân phản cách mệnh, quyết định đảng viên Cộng sản rút ra khỏi Quốc dân đảng ; nhưng vẫn căn cứ vào chính sách liên Nga, liên Cộng, và 3 chính sách lớn cho công, nông của Tôn Trung Sơn để phấn đấu cách mệnh. Cộng sản quốc tế cũng tuyên bố chính phủ Vũ Hán bị thế lực phản cách mệnh khống chế.


Uông Triệu Minh muốn thực hiện đông chinh, nên cũng không có ý quyết liệt với Trung cộng ; nhưng bộ hạ của Dường Sinh Trí đưa lời rằng không chia tay với Cộng sản không thể đông chinh, vì không muốn đông chinh cho Trung cộng. Uông bắt đầu tuyên bố rằng Cộng sản quốc tế ra huấn lệnh cho Trung cộng căn bản rất nguy hại cho Quốc dân đảng. Ngày 5/7 trung ương Quốc dân đảng tại Vũ Hán thông qua nghị quyết cấm chỉ Cộng sản, chế tài hành động trái với chính sách của Quốc dân đảng, phái đại biểu đến Mạc Tư Khoa bàn luận thiết thực vấn đề, bảo hộ cá nhân đảng viên Trung cộng được tự do ; đó là chính sách “ Hoà bình phân Cộng ” [chia tay hoà bình với Cộng sản] của Vũ Hán, khác với vũ lực “ Thanh đảng ” của Tưởng Giới Thạch, thời gian hai cuộc chính biến xảy ra chỉ cách nhau có 3 tháng.


Sau khi Uông nhận được tuyên ngôn của Trung cộng ngày 13/7, ngày 16 lại ra lệnh rằng việc cấm đảng Cộng sản là căn cứ vào lợi ích của cách mệnh, cần nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật. Ngày 19 Trung cộng, cùng đoàn thanh niên cộng sản tiếp tục đả kích Quốc dân đảng và Uông Triệu Minh. Ngày 26, Quốc dân đảng thi hành chính sách nghiêm khắc, trừ bỏ đảng viên Trung cộng tại các cơ quan. Ngày 27, Borodin rời Hán Khẩu, theo đường Hà Nam, Thiểm Tây, Mông Cổ ; thất bại trở về nước. Ngày 1/8 Trung cộng bạo động tại Nam Xương [Nanchang, Giang Tây], chính phủ Vũ Hán hạ lệnh đánh dẹp, như vậy “ hoà bình chia tay ” đã biến thành vũ lực chống cộng ; từ đó Quốc, Cộng hai đảng coi như là nước, lửa không thể dung hợp.




3. Nội bộ Quốc dân đảng xung đột không ngừng



Sau khi quân chính phủ Vũ Hán từ Trịnh Châu rút về Hồ Bắc để chuẩn bị đông chinh, chính phủ Nam Kinh cũng rút quân tinh nhuệ tại Từ Châu về trấn tại thượng du sông Trường Giang nhắm đề phòng. Ngày 24/7/1927 Trương Tông Xương, Tôn Truyền Phượng lại chiếm đoạt Từ Châu, Tưởng Giới Thạch ra sức phản công nhưng thất bại, các yếu điểm phía bắc sông Trường Giang đều mất. Phía Vũ Hán dựa vào chủ tướng Trương Phát Khuê để đông chinh, nhân Trung cộng bạo động tại Nam Xương, thực lực bị tổn thất, nên Trương suất bộ hạ trở về Quảng Đông, việc đông chinh không có khả năng thực hiện. Uông Triệu Minh triệu tập lần thứ 2 đệ tứ kỳ toàn thể trung ương chấp hành uỷ viên Quốc dân đảng [tức Tứ trung toàn hội] ; lúc bấy giờ Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy, Hà Ứng Khâm là rường cột của quân đội Nam Kinh ; Lý, Bạch muốn hoà, Hà cũng không thích đánh. Đường Sinh Trí dàn quân tại vùng Hồ Bắc, Giang Tây tuyên bố chỉ muốn đánh Tưởng ; Lý, Bạch, Hà muốn Vũ Hán, Nam Kinh thuận lợi hợp nhất bèn yêu cầu Tưởng Giới Thạch từ chức. Chủ tịch chính phủ Nam Kinh Hồ Hán Dân không bằng lòng, nên ngày 20/8 khi Tưởng ra khỏi Nam Kinh, thì Hồ Hán Dân cũng rút lui. Sau khi từ chức Tưởng về quê tảo mộ, tháng 9 sang Nhật nghiên cứu chính sách Nhật đối với Hoa, tháng 11 hội đàm với Thủ tướng Nhật Điền Trung Nghĩa Nhất, ngày 10/11 trở về nước.


Ngày 19/8, chính phủ Vũ Hán tuyên bố dời đến Nam Kinh ; cục diện đưa đẩy như vậy do bởi những lý do sau đây : thứ nhất, Từ Châu không giữ được, Lý, Bạch chống lại Tưởng ; thứ hai, Nam Xương bạo động, Trương Phát Khuê rút quân về phía nam, Đường Sinh Trí có dã tâm, nếu đông chinh thành công thì chỉ có lợi cho Đường khuyếch trương mà thôi.


Ngay lúc chính phủ Vũ Hán dời sang phía đông, bắt đầu từ ngày 25/8 Tôn Truyền Phương điều trên 5 vạn quân vượt sông Trường Giang chiếm lãnh Long Đàm, vùng đất nằm giữa Nam Kinh và Trấn Giang [Zhenjiang, Giang Tô], nhắm bức bách vùng ngoại ô đông bắc Nam Kinh. Hà Ứng Khâm, Bạch Sùng Hy, Lý Tông Nhân ra sức đề kháng, huyết chiến trong 6 ngày, quân của Tôn Truyền Phương đại bại.


Phái hội nghị Tây Sơn tuy không có quân đội và địa bàn hoạt động, nhưng vẫn có thế lực trong đảng, đặt bản doanh tại Thượng Hải. Sau khi Thanh đảng, Nam Kinh và Tây Sơn từ từ tiếp xúc; lại sau khi phân Cộng tại Vũ Hán, phái này liên lạc với Uông Triệu Minh định đem 3 phái Vũ Hán, Nam Kinh và Thượng Hải hợp làm một. Vào ngày 1/9 ba phe họp tại Thượng Hải nghị quyết tổ chức Quốc dân đảng Trung ương đặc biệt uỷ viên hội thay mặt thi hành Trung ương chấp hành uỷ viên hội chức quyền, Tưởng Giới Thạch và Hồ Hán Dân mâu thuẫn với Uông nên không dự hội, đại biểu Thượng Hải, Nam Kinh lại phản đối nghị quyết Tứ trung toàn hội, nên Uông Triệu Minh giận bỏ đi ; nhưng cuối cùng tổ chức thành Trung ương đặc biệt uỷ viên hội và Tân quốc dân chính phủ.


Có thuyết cho rằng Đường Sinh Trí thấy Tưởng Giới Thạch từ chức, bèn mưu với Tôn Truyền Phương cùng mang quân đánh Nam Kinh, ngày 20/10 Tân quốc dân chính phủ mệnh Lý Tông Nhân, Trình Tiềm thảo phạt ; trước kia có chương trình Vũ Hán đông chinh, nay ngược lại biến thành Nam Kinh tây chinh, đây là lần thứ nhất nội bộ Quốc dân đảng cùng tàn sát. Ngày 14/11 tây chinh chiếm Vũ Hán, Đường Sinh Trí chạy trốn.


Trung ương đặc biệt uỷ viên hội và Tân quốc dân chính phủ từ đầu cơ sở chưa ổn định, Uông cho là bất hợp pháp ; Tưởng Giới Thạch và Hồ Hán Dân đều không tham gia. Qua sự điều đình của Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy ; Uông, Tưởng lại trở nên hoà hảo. Cũng cần nhấn mạnh vào ngày 1/12/1927 Tưởng Giới Thạch kết hôn với Tống Mỹ Linh, từng lưu học tại trường Wellsley College, một Đại học nổi tiếng cho nữ giới tại bang Massachusetts, Mỹ quốc ; như vậy Tống Tử Văn trở thành anh vợ, Khổng Tường Hy là anh rể của Tưởng. Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy đặc biệt chi trì cho Trung ương đặc biệt uỷ viên hội, chưa giải được hiềm khích với Tưởng ; tướng Trương Phát Khuê vốn ủng hộ Uông Triệu Minh, trở về Quảng Đông có mâu thuẫn với Chủ tịch tỉnh Lý Tế Thâm. Lý Tông Nhân, Bạch Sùng Hy, Lý Tế Thâm đều là người Quảng Tây nên thuộc Quế hệ. Ngày 17/11 Trương Phát Khuê làm chính biến, chiếm lãnh Quảng Châu, Quế hệ cho rằng đó là âm mưu của Uông. Ngày 22/11 phái ủng hộ Tưởng tại Nam Kinh công khai phản đối Đặc biệt uỷ viên hội, cùng quân cảnh xung đột, chết 3 người, bị thương 10 ; căn cứ ngày tháng xảy ra, được đặt tên là “ Nhất nhất nhị nhị thảm án ”. Uông cho rằng do phái Tây Sơn và Quế hệ gây nên, riêng Tưởng thì chỉ đích danh phái Tây Sơn.


Ngày 3/12 Uông, Tưởng tại Thượng Hải triệu tập hội nghị trù bị cho Tứ trung toàn hội ; Quế hệ đòi điều tra Uông về biến cố tại Quảng Châu ; Uông biết rằng khó mà xuất hiện lần này, nên đề nghị Tưởng tiếp tục giữ chức Tổng tư lệnh quân Quốc dân cách mệnh, cùng yêu cầu trù biện Tứ trung toàn hội. Ngày 21/12 Trung cộng lại bạo động tại Quảng Châu, Uông trở thành cái đích cho mọi phe đả kích, bèn rời Thượng Hải xuất ngoại. Trương Phát Khuê tuy bình định được Trung cộng bạo động, cuối cùng không được Quế hệ bao dung, bèn đem bộ hạ qua Giang Tây, chịu dưới quyền tiết chế của Tưởng.


Tháng 1/1928, Tưởng chính thức nhận chức, tháng 2, Tứ trung toàn hội suy cử lên chức Chủ tịch chính trị uỷ viên hội Trung ương thường vụ uỷ viên. Uông không thu hoạch được gì, nên dần dần hướng theo con đường phản Tưởng. Phái Tây Sơn nhân bị Tưởng bài xích, bèn hợp tác với Uông, Quốc dân đảng muốn hợp nhưng không hợp được, vẫn tiếp tục ở trạng thái phân liệt.




4. Trung cộng đấu tranh vũ trang



Đầu tháng 6/1927 Cố vấn Nga xô M. N. Roy [Lỗ Dịch] có ý muốn để Trung cộng bạo động ngay, nhưng các đại biểu mới Cộng sản quốc tế như B. Lominadze [La Minh Nạp Tư], H. Neumann [Nữu Man], cùng Borodin, Trần Độc Tú phản đối. Đến lúc Roy, Borodin trở về nước; do Chu Ân Lai, Lý Lập Tam, Hồn Đại Anh, Đàm Bình Sơn tổ chức Tiền địch uỷ viên hội, Trung cộng lợi dụng bộ hạ của Trương Phát Khuê nổi dậy tại Cửu Giang [Jiujiang, Giang Tây], Nam Xương [Nanchang, Giang Tây]. Ngày 1/8 bộ hạ của Trương gồm Sư trưởng Diệp Đình 4, Quân trưởng Hạ Long 5, cùng bộ hạ của Chu Bồi Đức, Giáo đạo Chu Đức 6, tổng số khoảng 2 vạn quân khởi sự tại Nam Xương, vẫn trương cờ Quốc dân đảng, tổ chức Quốc dân đảng Cách mệnh uỷ viên hội. Nhân bị quân Trương Phát Khuê, Chu Bồi Đức bao vây ; vào ngày 5/8 quân của Diệp, Hạ, hướng xuống Quảng Đông, trên đường quân lính đào ngũ, bệnh chết, đến phía nam Giang Tây bị quân Quốc dân đảng ngăn đánh, chỉ còn khoảng 8.000. Rồi chuyển đường sang phía tây Phúc Kiến, đến phía đông tỉnh Quảng Đông ; vào ngày 24/9 chiếm lãnh Triều Châu [Chaozhou, Quảng Đông], Sán Đầu [Shantou, Quảng Đông] hy vọng có thể được tiếp tế từ biển ; rồi hợp với tổ chức dân quân tại Hải Phong [Haifeng, Quảng Đông], Lục Phong [Lufeng, Quảng Đông] tiến đánh Quảng Châu. Sau đó 6 ngày bị quân Quảng Đông, Quảng Tây đánh bại, toàn quân tan rã ; Diệp, Hạ, cùng Chu Ân Lai chạy trốn đến Hương Cảng. Riêng Chu Đức mang hơn 1.000 quân theo phía nam Giang Tây đến phía bắc Quảng Đông theo đám quân Vân Nam tại Thiều Quan [Shaoguan, Quảng Đông].


Sau khi B. Lominadze [La Minh Nạp Tư] và H. Neumann [Nữu Man] thay Stalin nhận sai lầm, để tránh sự đả kích của Trotsky ; Stalin vạch kế hoạch cải tổ căn bản trung ương đảng Trung cộng. Mệnh Trung cộng vào ngày 7/8 tổ chức hội nghị khẩn cấp tại Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc], đem tất cả quá khứ sai lầm đổ cho Trần Độc Tú với tội thoả hiệp hữu khuynh cơ hội chủ nghĩa. Từ nay trở về sau quyết lấy quần chúng làm lực lượng, triệt để thực hành cách mệnh ruộng đất, thành lập chính quyền Xô Viết ; định vào vụ lúa mùa thu, tổ chức bạo động tại Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Đông. Cù Thu Bạch chủ trì cục trung ương, tuyên bố mở đầu cho “ Bố Nhĩ Thập Duy Khắc ” [布尔什维克化, Bolshevik] của Lenin, sau này bị coi là tả khuynh mạo hiểm chủ nghĩa, căn cứ theo ngày tháng cuộc hội này được gọi là “ Bát thất hội nghị ”. Trung cộng bảo rằng “ Hội nghị lần này chấn chỉnh và kết thúc chủ nghĩa đầu hàng của Trần Độc Tú, xác định cách mệnh ruộng đất, cùng vũ trang phản đối phái Quốc dân đảng phản động với chính sách chém giết ; hiệu triệu đảng và nhân dân tiếp tục chiến đấu ”. Trong hội nghị Mao Trạch Đông tuyên bố quan điểm “ khẩu súng đẻ ra chính quyền ” và được cử làm Uỷ viên trừ bị lâm thời trung ương chính trị cục. Ngày 27/9, Stalin tuyên bố với quốc tế cộng sản Trung cộng lãnh đạo Trung quốc Xô viết, không tái tục liên hiệp với Quốc dân đảng.


Sau Bát thất hội nghị, kế đến bạo động tại kỳ thu hoạch mùa thu, rất kỳ vọng ở tỉnh Hồ Nam. Ngày 8/9, Mao Trạch Đông thu thập lực lượng, gồm nông dân tại miền đông bắc Hồ Nam, tây bắc Giang Tây ; công nhân và cảnh vệ đến từ Vũ Hán ; thành lập Sư đoàn thứ nhất Công nông cách mệnh quân, ước chừng 2.000, chia đường tấn công, nhưng đều gặp thất bại. Mao bị bắt rồi trốn thoát, đem tàn quân đến đóng tại vùng Vĩnh Tân [Yongxin, Giang Tây], Tam Loan [Sanwanxiang, Giang Tây], biên chế thành 1 đoàn, chưa đến 1000 người ; nhưng tổ chức nghiêm mật, xác định quyền lãnh đạo của đảng với khẩu hiệu “ đảng chỉ huy súng ”, đầu tháng 10 tiến vào lập căn cứ tại vùng núi Ninh Khu [Ninggang, Giang Tây]. Tại Quảng Đông, Hải Phong Lục Phong là những vùng trọng yếu xẩy ra bạo động ; sau khi tàn quân của Diệp Đình, Hạ Long gia nhập, ngày 17/11 thành lập chính quyền Xô viết do Bành Bái lãnh đạo, sau đó 3 tháng bị quân Quảng Đông tiêu diệt.


Cuộc bạo động tại Quảng Châu được xem là quan trọng nhất, không thua gì cuộc nổi dậy tại Nam Xương. Sau 2 ngày Trương Phát Khuê làm cuộc chính biến tại Quảng Châu [18/11], Trương Đại Lôi phe Trung cộng, quyết thừa cơ phát động. Bộ hạ của Trương Phát Khuê phải chế ngự quân Quảng Đông của Lý Tế Thâm, quân Quảng Tây cùa Hoàng Thiệu Hoằng nên phải đem quân chủ lực điều đến Tây Giang, Đông Giang. Ngày 11/12 Giáo đạo đoàn phòng thủ Quảng Châu do Diệp Kiếm Anh chỉ huy cùng Cảnh bị đoàn hơn 2.000 quân, và mấy ngàn quân Công nông liên hiệp nổi dậy, chiếm toàn thành, thiết lập chính phủ Xô viết, Trương Đại Lôi làm Chủ tịch. Bộ hạ của Trương Phát Khuê phản công ; chiến hạm Anh, Pháp, Nhật pháo kích, Công nhân cơ khí phản cộng trợ chiến, Trương Đại Lôi tử trận ; ngày 13 quân Trương Phát Khuê chiếm lại Quảng Châu. Trong vòng 3 ngày dân chúng chết hơn 1.000 người, đảng viên Trung cộng cùng những người tham gia chết hơn 5.000 người, tàn quân của công nông Hồng quân hơn 2.000 rút về Hải Phong ; Stalin khen rằng đây là cuộc rút quân anh hùng.


Cuộc bạo động tại Quảng Châu thực do Cộng sản quốc tế H. Neumann Gerhart Eisler tại lãnh sự quán Nga Xô sách động, Cộng sản Nga cung cấp hơn 200 vạn Mỹ kim. Sau khi Trương Phát Khuê chiếm được Quảng Châu, bọn H. Neumann trốn thoát ; Phó lãnh sự A. I. Hassis cùng 5 người bị giết. Ngày 14/12 Quốc dân chính phủ tuyệt giao với Nga Xô, không thừa nhận lãnh sự quán Nga Xô tại các nơi, đóng cửa các cơ quan quốc doanh của Nga Xô, đòi các kiều dân Nga Xô trở về nước. Nga Xô thanh minh rằng từ trước tới nay chưa từng công nhận Quốc dân chính phủ, lãnh sự quán Nga Xô quan hệ với chính phủ Bắc Kinh, Quốc dân chính phủ không có quyền triệt tiêu thừa nhận. Nhưng rồi các lãnh sự tại Thượng Hải, Hán Khẩu, Trường Sa đều hạ cờ trở về nước ; trải qua 4 năm Quốc dân đảng với chính sách liên Nga, bị Thanh đảng, Phân cộng kết thúc, mọi quan hệ với Nga Xô đình chỉ. Đại biện Nga Xô tại Bắc Kinh, sau khi Trương Tác Lâm sưu tra đại sứ quán bèn lìa bỏ, thực tế Bắc Kinh không có quan hệ ngoại giao với Nga Xô.



Hồ Bạch Thảo








1 Vào thời Trung Quốc mới dùng điện báo, mỗi chữ đánh đi phải trả tiền nhiều, nên bưu điện nghỉ ra cách dùng chữ có vần gần giống, đơn giản để thay cho con số. Như ngày 21 tức “ nhị thập nhất nhật ” đổi thành “ mã nhật ”, từ 4 chữ tiết kiệm lại chỉ còn 2 chữ, nên trả tiền ít hơn. Do đó sự biến ngày 21/5 gọi là “ Mã nhật sự biến ”.

2 Phân cộng : chính sách chia tay với công sản của Quốc dân chính phủ tại Vũ Hán, sẽ đề cập ở phần sau.

3 Xích hoá : hoá thành đỏ, ý chỉ theo Cộng sản.

4 Diệp Đình : người Quảng Đông, xuất thân từ quân Quảng Đông. Năm 1925 đến Mạc Tư Khoa, thời bắc phạt giữ chức Đoàn trưởng đơn vị độc lập thuộc Đệ tứ quân, sau thăng chức Sư trưởng.

5 Hạ Long : người tỉnh Hồ Nam, xuất thân từ chốn thảo dã, từng được quân phiệt Hồ Nam, Tứ Xuyên chiêu phủ ; năm 1926 tham gia bắc phạt.

6 Chu Đức : người tỉnh Tứ Xuyên, tốt nghiệp Vân Nam giảng vũ đường, theo Hộ quốc quân của Thái Ngạc vào Tứ Xuyên, lên đến chức Sư trưởng. Năm 1922 sau khi Cố Phẩm Trân bại chết, Chu Đức đến Thượng Hải, từng gặp Tôn Trung Sơn, Trần Độc Tú, rồi sang Đức, gia nhập Cộng sản. Năm 1926 trở về nước, nhậm chức tại quân Tứ Xuyên. Năm 1927 Chủ tịch tỉnh Giang Tây Chu Bồi Đức giao chức Cục trưởng công an Nam Xương, Đoàn trưởng giáo đạo.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss