Bạn đang ở: Trang chủ / Biên khảo / VIÊN THẾ KHẢI CAI TRỊ ĐỘC TÀI / Viên Thế Khải cai trị độc tài (3 và hết)

Viên Thế Khải cai trị độc tài (3 và hết)

Chương 3 : Viên Thế Khải mưu lên ngôi vua [1911-1916]



Viên Thế Khải cai trị độc tài


Hồ Bạch Thảo


Chương 3

Viên Thế Khải mưu lên ngôi vua
[1911-1916]



co

Cờ đế quốc Trung Hoa niên hiệu Hồng Hiến

Nguồn : Wikipedia

 

1. Nguỵ tạo dân ý


Những năm đầu thế kỷ 20, Viên Thế Khải giữ chức Tổng đốc Trực Lệ, quyền lực và dã tâm mỗi ngày một tăng ; đã có người nói rằng Viên mưu đồ xưng đế. Nhân cuộc cách mệnh Tân Hợi, tháng 10/1911 Viên trở lại chính trường, thì hiện tượng không chịu làm bầy tôi đã thấy rõ. Ngày 4/11 con trai, Viên Khắc Định, nói với Công sứ Anh John Jordan rằng trong tương lai cách mệnh sẽ đưa thân phụ y làm Hoàng đế, chế độ cộng hoà chỉ là giai đoạn quá độ ; Dương Độ cũng nói rằng Viên sẽ là một Napoléon Trung Quốc. Viên từng nói với bọn Đoàn Chi Quí rằng “ Làm việc cần xem gió để cho thuyền đi, bây giờ lòng người bồng bột nên tạm thời giữ chức Tổng thống ; sau này có cơ hội không nên làm Tổng thống thì làm Hoàng đế ; nếu câu chấp nhất thời thì thân bại danh liệt ”. Qua hai lần cách mệnh không ai làm gì được Viên, nên tự ý mưu đồ. Đợi đến lúc Nhật Bản tiến vào Sơn Đông, đưa ra 21 điều yêu cầu ; bọn Dương Độ, Viên Khắc Định công nhiên đem việc thay đổi chế độ ra thăm dò Lương Khải Siêu.


Cớ sao trong buổi nguy cấp về ngoại giao, Viên Thế Khải lại mưu đồ đế chế ; nhận định của y như thế nào ? Đứng về mặt quốc tế mà bàn, nước Anh từ trước tới nay vẫn chi trì Viên, trước mắt không có điều gì làm khó. Mỹ, nước lớn duy nhất chưa xông vào Thế chiến thứ nhất, mong Trung Quốc là nước ổn định vững mạnh, duy trì quyền lợi Mỹ tại Trung Quốc ; dưới mắt họ Viên Thế Khải là người có khả năng nhất. Bởi vậy trước sau không cho việc Quốc dân đảng chống Viên là đúng, coi Tôn Trung Sơn là người không gần với thực tế. Lúc Viên được cử làm Tổng thống chính thức, Tổng thống Mỹ W. Wilson gửi điện chúc mừng. Quốc vụ khanh W. J. Bryan, Công sứ P. S. Reinsch đối với việc thủ tiêu tư cách Nghị viên quốc hội của đảng viên Quốc dân đảng, cho rằng điều đó thi thố để bảo trì thống nhất. W. Wilson chuẩn bị sai người đến giúp Viên luyện binh ; đồng ý ngăn ngừa Quốc dân đảng đặt mua vũ khí tại Mỹ. Đối với dã tâm Nhật Bản, Viên không phải không biết ; tuy nhiên với lần đánh nặng nề bên hông kỳ này, Nhật biểu lộ tán đồng đế chế ; bởi vậy nếu Viên hứa chấp nhận điều kiện, nước này sẽ không ngăn trở.


Còn đối với thế lực Quốc dân đảng trong nước thì đã quét sạch, không có chỗ đứng vững, ý chí tiêu trầm ; thậm chí có người còn cho cách mệnh là có tội. Hoàng Hưng, Lý Liệt Quân muốn Viên đem toàn lực chống lại Nhật Bản, gửi điện phủ nhận việc mượn sức ngoại quốc tái khởi sự. Viên nhận định cách mệnh không có khả năng gây khó khăn. Huống gì quân Bắc dương trú khắp miền nam bắc ; chỉ còn các vùng xa xôi khô cằn nghèo nàn như Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây không thuộc phe Viên, nên cũng không đáng lo.


Hiệp ước “ Trung Nhật tân ước ” mới ký xong được 6 ngày, cuộc vận động đế chế trở nên gấp rút. Trong ngày Viên đề cao Dương Độ, một bộ hạ thân tín chủ trương quân chủ, tặng Dương tấm biển “ Khoáng đại dật tài 旷代 逸才ý khen tài năng xuất chúng. Dương là tác giả Quân hiến cứu quốc luận trong đó có đoạn viết “ Không dùng lập hiến không đủ để cứu quốc, không dùng quân chủ không thể thành lập hiến ; nhờ lập hiến có một pháp chế nhất định, nhờ quân chủ có một lãnh tụ nhất định ”. Tháng 6, Viên công bố Điều lệ trừng trị quốc tặc, nhắm đàn áp những người phản đối. Đối với việc báo chí Nhật Bản đăng tải rằng Viên sắp lên làm vua, tuy ngoài mặt cải chính, nhưng nội bộ thì tiến hành gấp rút. Hai tháng trước đó Lương Khải Siêu biết Viên sắp làm chuyện động trời phá bỏ nền dân chủ, nên khuyên Viên đừng đi vào con đường cùng, dao động đất nước. Nhân Giang Tô Tướng quân Phùng Quốc Chương đến kinh đô, bèn đem sự việc hỏi, Viên bảo rằng đó là lời đồn, quyền lực Tổng thống không đủ hay sao, việc gì phải lên làm vua ; nếu bảo rằng để cho con cháu thì lại càng không phải là kế hay. Nếu như bị bức bách, sẽ tránh ra sống tại nước ngoài.


Viên không muốn tự lên ngôi vua, hy vọng về hình thức được suy tôn lên, muốn được vậy trước tiên hãy tạo dư luận. Viên ngỏ ý với viên Cố vấn hiến pháp người Mỹ, Frank J. Goodnow, phát biểu một thiên nghị luận về chính thể Luận về cộng hoà và dân chủ kết luận rằng nếu nhân dân Trung Quốc và ngoại quốc không phản đối, nếu sự chuyển tiếp thực hiện suôn sẻ, quân chủ lập hiến phát triển hoàn bị ; đối với Trung Quốc quân chủ lập hiến thích hợp hơn cộng hoà. Frank J. Goodnow (1) chủ trương tập quyền, không bàn đến lời phát biểu này trung thực hay thiên vị ; nhưng Viên đã lợi dụng vào đó để bảo rằng một nhà chính trị học nước Mỹ đã đề cao quân chủ. Ngày 14/8 Dương Độ cùng với một đảng viên Quốc dân đảng biến chất Tôn Dục Quân, và Lý Biến Hoà, Hồ Anh ; Học giả Nghiêm Phục, Lưu Sư Bồi lập “ Trù an hội ” tuyên bố chính thể cộng hoà thường xẩy ra tranh loạn. Trù an hội dựa vào quan điểm chế độ quân chủ lập hiến thích hợp với Trung Quốc của Frank J. Goodnow, đem tuyên truyền ra cả nước. Những kẻ phản đối rầm rộ đưa thư yêu cầu giết bọn gian để cứu nước. Viên tuyên bố địa vị vua hoặc Tổng thống không phải là điều mong muốn, nhưng bảo đảm an toàn cho quốc gia thì mọi người cần nghiên cứu. Trù an hội do những Học giả tổ chức, từ phương diện học thuật bàn luận điều hay dở của chế độ quân chủ, dân chủ ; không liên quan đến thực tế chính trị, nên chính phủ không tiện can thiệp, riêng y không phản bội với lời thề khi lên làm Tổng thống.


Từ đó Trù an hội làm lớn chuyện, gửi điện cho các tỉnh trưởng, thương hội, yêu cầu kết nạp hội viên, gửi đại biểu đến kinh đô họp. Đồng thời một cố vấn khác của Viên thuộc quốc tịch Nhật là Hữu Hạ Trường Hùng (2), phát biểu các tham luận Quan biến nhàn bình, Cộng hoà hiến pháp trì cửu sách để yểm trợ hô ứng. Ngoài ra, Dương Độ, Lưu Sư Bồi mỗi người soạn Quân hiến cứu quốc luận, Quốc tình luận, Thông tấn xã của Viên có Quốc thể nghiên cứu tuyên ngôn thư ; lời hô hào về đế chế được truyền ra mãnh liệt. Sau khi Trù An hội gửi điện cho các tỉnh được 3 ngày, Tướng quân Hồ Nam Thang Hương Minh xin Viên “ lên ngôi cao ”, Tướng quân Phụng Thiên, Đoàn Chi Quý, ước hẹn với các Tỉnh trưởng yêu cầu Tham chính viện đổi quốc thể ; quan liêu và quân nhân tại Bắc Kinh bắt đầu hành động. Thân cận Viên có phái Quảng Đông và An Huy, do Lương Sĩ Di và Dương Sĩ Kỳ lãnh đạo, hai bên thường công kích ngầm. Lúc bấy giờ phái Lương Sĩ Di thất sủng, nên tích cực vận động đế chế để mong Viên vui lòng. Viên lưu ý đến thái dộ của ngoại quốc, bấy giờ Việt lâm tây báo tại Thượng Hải đăng chính thể do dân quyết định, nếu dân tán thành cải biến thì người nước ngoài cũng không có ý khác. Lương Sĩ Di khuyên Viên thi hành, Viên hướng Tham nghị viện tuyên bố cải biến chế độ không nên cấp tốc khinh suất “ Nếu chinh cầu được đa số công luận của người trong nước, tất có thượng sách thoả thiện ” và ra lệnh Trù an hội thảo luận về thể chế quốc gia, không can thiệp vào các điều khác. Tham chính viện kiến nghị triệu tập quốc dân đại hội hoặc riêng trưng cầu dân ý ; Lương Sĩ Di cho rằng trì hoãn không đáp ứng được cấp bách, rồi Tham nghị viện quyết định quốc dân đại hội giải quyết chính thể quốc gia.


Việc tuyển cử Đại biểu Quốc dân đại biểu đại hội khởi sự vào ngày 25/10, đến ngày 5/11 thì chấm dứt ; đồng thời bỏ phiếu tại chỗ. Ngày 15/11 có 1993 Đại biểu nhất trí tán thành quân chủ lập hiến, suy cử Viên làm “ Trung Hoa đế quốc Hoàng đế ”. Các thư suy cử cùng một mẫu, uỷ thác Tham chính viện làm tổng đại biểu ; những người tham dự như Lương Sĩ Di, Chu Khải Linh, Chu Tự Tế. Ngày 11/12 Tham chính viện đem những thư suy cử tâu lên, lại còn soạn Tổng suy đái thư trong đề cập “ mệnh tốt của Hoàng thiên ” “ nhân tâm hàm quy ” xin Viên “ lên ngôi quý để chăn sóc quần sinh, giữ chức chí tôn để kinh luân lục hợp (3) ”. Viên đáp “ Chủ quyền của chính phủ dân quốc do toàn dân, nay toàn thể đại biểu quốc dân đã biểu quyết cải dùng quân chủ lập hiến ; đại Tổng thống không thảo luận về việc này ”. “ Đại Tổng thống lấy việc cứu dân làm trọng, nhân bản thân công trạng không đủ để kể ra, đạo đức đối với triều Thanh cũ cũng có điểm đáng hổ thẹn, tín nghĩa đối với quốc dân không có chỗ biện bạch, đối với việc suy cử, thật là kinh hãi, không dám tiếp thụ ”. Vào 15 phút sau, Tham chính viện đưa lên bản suy cử thứ 2, gồm hơn 2.600 chữ ký ; nêu lên 6 công trạng lớn :

- Kinh vũ [kinh doanh vũ bị] : như việc luyện tân quân.

- Khuông quốc [khuông phò đất nước] : dẹp loạn Nghĩa hoà đoàn năm Canh Tý [1900].

- Khai hoá [mở mang giáo hoá] : dùng chính sách đổi mới tại Bắc dương.

- Tĩnh nạn [làm yên nạn] : cách mệnh Tân Hợi [1911].

- Định loạn [bình định loạn] : cách mệnh lần thứ hai [1913].

- Giao Lân [ngoại giao với lân quốc] : ký hiệp ước 21 điều với Nhật.

Lại trình bày thêm : đối với triều Thanh thì tận nhân nghĩa, đối với người trong nước thì một khi chính thể đã đổi thì lời thề đương nhiên triệt tiêu, đạo đức không có điều chê, tín nghĩa có thể giải được, xin “ chính vị lên ngôi cao ”.


Ngày hôm sau Viên tiếp nhận suy cử, đợi trù bị xong mọi việc, sẽ đem ra thi hành ; cuộc vận động đế chế coi như xong. Trong hơn 10 ngày sau, Viên bận vào việc quần thần chúc mừng, mệnh khởi thảo quân chủ lập hiến hiến pháp, lập đại điển, phong tước, cải Thái giám thành Nữ quan ; đặt niên hiệu Hồng Hiến [với ý nghĩa hồng dương hiến pháp], định năm 1916 là năm Hồng Hiến thứ nhất ; cải phủ Tổng thống thành Tân Hoa cung. Viên chưa lên ngôi ngay, vì công việc đa đoan chưa có thể cử hành ngay được. Thực tế do áp lực của Nhật Bản càng ngày càng nhiều, ứng phó khó khăn ; vận mệnh của Viên không phải do tự mình quyết định được.


 


2. Thái độ Nhật Bản tráo trở
trong việc Viên Thế Khải cải đổi chế độ

 


Sau khi Viên Thế Khải nhận được thông điệp cuối cùng của Nhật Bản liên quan đến 21 điều yêu cầu, vào tháng 5/1915, bèn gửi mật dụ cho các quan lại toàn quốc kể đầu đuôi âm mưu của Nhật Bản, cùng sự đòi hỏi khốc liệt kỳ này. Viên khuyên hãy luôn luôn nghĩ đến nỗi đau này, để dùi mài chấn tác ; nếu “ trải qua rồi quên đi, thì đại hoạ tới nơi, Trung Quốc bị dập vùi, không biết sống chết nơi nào ” Hàng ngày cần đem “ 4 chữ ‘vong quốc diệt chủng’ ghi rõ trong lòng, để khích động thiên lương, bỏ những ý kiến tư vị cá nhân ”. Lòng ái quốc của Viên cũng như những người Trung Quốc khác, nhưng vì tư lợi nên chính bản thân y trải qua nỗi đau nhục rồi quên đi, không có thiên lương, đâm đầu vào tham vọng, chẳng bao lâu sau đó gia tăng vận động lên ngôi vua. Viên cho rằng đã nhượng bộ Nhật rất nhiều, chúng đã vừa ý, không sinh ra chi tiết. Huống gì Công sứ Nhật Trí Ích, Ngoại trưởng Gia Đằng Cao Minh biểu lộ ý tán thành. Tổng lý Đại Ôi Trùng Tín lại nói với Sứ thần Trung Quốc Lục Tông Dư rằng “ Xét về việc quân chủ lập hiến, xin Viên Tổng thống cứ yên tâm làm, Nhật Bản nguyện yểm trợ ”. Phái chủ trương đế chế vì điều lợi khiến mất lý trí ; không thấy được Đại Ôi đang tìm cách đưa Viên lên trên lò lửa với ngôi vua.


Vào đầu tháng 9, lúc Trù an hội đang dương cờ đánh trống cổ động cho đế chế, Đại Ôi phát biểu với báo chí rằng tư tưởng chính trị của dân Trung Quốc nghèo nàn, không lưu ý đến quân chủ hay cộng hoà, chỉ muốn trong nước hoà bình, yên ổn là mãn ý ; đại đa số đối với việc khôi phục đế chế sẽ không phản đối. Lại gửi điện cho các Lãnh sự tại Trung Quốc rằng nếu như Trung Quốc không nhân việc đế chế mà gây loạn, ảnh hưởng đến hoà bình Đông Á, Nhật sẽ không can dự. Nhưng Trung, Nhật quan hệ mật thiết, việc này có ảnh hưởng trọng đại, lúc này không tỏ thái độ, để khỏi trói buộc hành động của Nhật. Đồng thời lại gặp Lục Tông Dư và bảo rằng chớ nhân khôi phục đế chế rồi sinh loạn, phương hại đến việc buôn bán của các nước láng giềng ; lại nói nếu Viên thành ý liên minh, Nhật sẽ yểm trợ. Báo chí Nhật Bản đăng Trung Quốc cải sang đế chế sẽ sinh loạn. Đại Ôi lại ra lệnh Lãnh sự các nơi điều tra xem có bạo loạn hay không.


Viên Thế Khải cũng sợ liệt cường không thừa nhận đế chế, càng lo việc Nhật Bản gây khó khăn, nên mong muốn được Anh, Mỹ chi trì. Đầu tháng 10, ngỏ lời với Công sứ John Jordan, John cho biết nước Anh tán đồng. Viên lại nói với Công sứ Mỹ P. S. Reinsch rằng thể chế quốc gia do người trong nước đầu phiếu quyết định, nguyện sử dụng nhân tài ngoại quốc để hiệp trợ cho các bộ. Nước Anh lo lắng nhân viêc phục hồi đế chế khiến nước Nhật sẽ thừa cơ, lại sợ Viên Thế Khải bị người Đức dụ dỗ gây bất lợi cho nước Anh, nên cho rằng tốt nhất không thi hành đế chế trong thời gian Thế giới đại chiến. Nhưng Viên thì cấp bách không thể đợi, nước Anh đành dùng giải pháp thuận theo dòng nước cho thuyền trôi, để gây cảm tình với Viên. Mỹ cho rằng đế chế liên quan đến nội chính Trung Quốc, nếu Viên có thể an định được Trung Quốc, đáng được phù trì.


Đến lúc Viên quyết định triệu tập quốc dân đại biểu hội nghị, Nhật Bản cấp tốc gia tăng tiến hành can thiệp. Ngày 14/10 nội các Nhật thông qua lời cảnh cáo Viên ; lại yêu cầu các nước Anh, Nga, Mỹ, Pháp nhất trí hành động. Anh, Nga muốn bảo trì quan hệ hiệp đồng với Nhật nên chiều theo ; tuy nhiên nếu khuyên không được, thì cũng thừa nhận. Viên được Công sứ Anh John Jordan báo tin, cảm thấy sự việc trở nên trầm trọng, báo cho các nước Nga, Anh, Mỹ rằng “ Các tỉnh rất bình ổn, lòng người rất ủng hộ, trật tự không bị nhiễu loạn ”. Nhưng chính sách của Nhật đã hoạch định sẵn, ngày 28/10 Tham tán Nhật Tiểu Phiên Dậu Cát cùng với Công sứ Anh, Nga đến gặp Tổng trưởng ngoại giao Lục Chinh Tường khuyến cáo rằng mầm mống phản đối đế chế đang nhen nhúm rộng ra, tình thế bất an khắp nơi, cần chiếu cố đến đại cuộc, trì hoãn việc cải biến chế độ. Ngày 1/11 Lục Chinh Tường phúc đáp rằng thể chế quốc gia do dân trong nước quyết định, các tỉnh đều có thể đảm trách trị an, thiểu số loạn không có thực lực, quyết không có điều đáng lo. Tiếp theo khuyến cáo của các nước Pháp, Ý cũng đến. Nước Mỹ vẫn cho rằng sự việc liên quan đến chính trị nội bộ của Trung Quốc, can thiệp cách nào cũng can dự vào chủ quyền, nên từ chối tham gia. P. S. Reinsch vẫn báo cáo cho Quốc vụ viện rằng các giới nhân sĩ tại Trung Quốc cảm thấy vui vẻ trong việc thay đổi thể chế, không có tổ chức nào vận động phản đối, chỉ có cá nhân thuộc đảng cách mệnh bạo động.


Viên Thế Khải nhận ra sự khuyến cáo của các nước do Nhật Bản xui, trước đây Tổng lý Đại Ôi từng ngỏ ý rằng nếu Trung Quốc nương dựa, điều gì Nhật Bản cũng tương trợ ; nhân bảo Lục Tông Dư tìm hiểu xem Nhật còn có ý đó không. Lục Tông Dư cho rằng không ổn, sợ sự đòi hỏi quá lớn. Dư luận Nhật Bản chủ trương đem vấn đề đồng minh quân sự, chính trị với Trung Quốc ra giải quyết ; Tiểu Phiên Dậu Cát tiếp tục áp lực, đòi hỏi trì hoãn việc thay đổi chính thể, Lục Chinh Tường đáp sẽ không thực hành trong năm nay. Viên tân Ngoại trưởng Nhật, Thạch Tỉnh Cúc Thứ Lang, cũng báo cho Lục Tông Dư biết rằng nếu như trì hoãn đến lúc thích nghi, thì sẽ viện trợ ; nhưng trước ngày thực hiện phải bàn với Nhật Bản ; nếu đột nhiên thực hành, thì coi như có sự khinh nhục Nhật Bản. Có thể thấy Nhật Bản không hoàn toàn phản đối đế chế, mà chỉ muốn bàn thoả điều kiện trước. Viên cho rằng liệt cường không hoàn toàn nhất trí, Nhật không thể hành động một mình. Nước Mỹ chưa từng tham gia khuyến cáo, Công sứ Anh John Jordan cũng nói “ Nếu Trung Quốc không có nội loạn, có thể tuỳ thời mà thực hành ; điều này thuộc nội chính, nước ngoài không thể can thiệp…”. Ngày 11/11 bộ ngoại giao Trung Quốc thông tri cho Công sứ các nước Nhật, Anh, Nga, Pháp rằng tôn trọng các nước khuyến cáo và trù bị thời điểm cần thiết, việc thay đổi thể chế sẽ chọn thời cơ thích ứng, cẩn thận thi hành. Ngày 13/12, tức sau khi Viên tiếp nhận ngôi vua 1 ngày ; Tham tán Tiểu Phiên Dậu Cát đơn độc gửi chiếu hội cho bộ ngoại giao yêu cầu trong 3 ngày phải phúc đáp việc cải đổi chính thể. Ngày 15, lại cùng các nước Anh, Nga, Pháp, Ý cảnh cáo lần thứ hai rằng chính phủ Trung Quốc mấy lần cho rằng vẫn duy trì trị an trật tự trong nước ; đối với tình thế diễn biến ra sao, 5 nước sẽ bình tĩnh quan sát để có thái độ. Bộ ngoại giao chính phủ Viên vẫn khẳng định Trung Quốc có khả năng bình định loạn.


Nhật Bản một mặt phản đối Viên, một mặt sách động phái chống đế chế ra tay. Trước khi cảnh cáo lần thứ hai đưa ra 5 ngày, lực lượng vũ trang phản đế hành động, một lần xẩy ra tại Thượng Hải. Sau cảnh cáo 10 ngày, tỉnh Vân Nam tuyên bố độc lập. Ngoại trưởng Thạch Tỉnh Cúc Thứ Lang tuyên bố từ nay trở về sau hành sự của Viên không thương lượng trước với Nhật không được. Viên quyết định nhân lễ khánh hạ Nhật Hoàng, cử Bộ trưởng nông thương Chu Tự Tế làm Đặc sứ đến Nhật thương lượng, với danh nghĩa chúc mừng và tặng huy chương ; Nhật Bản hứa sẽ tiếp đãi. Không ngờ ngày 16/1/1916 Nhật cự tuyệt, làm Viên hết sức bối rối. Có thuyết cho rằng cự tuyệt do bởi báo chí trong và ngoài nước đăng hành động này chứng tỏ Nhật Bản gián tiếp công nhận đế chế ; ngoài ra nhân lực lượng đánh dẹp Viên tại Vân Nam đã ra tay hành động, cách mệnh tại các xứ khác tiếp tục dấy lên, nên Nhật Bản quyết định lật đổ Viên. Viên Thứ trưởng tham mưu Điền Trung Nghĩa Nhất chủ trương bất luận thái độ các nước ra sao, Nhật Bản cũng không thừa nhận đế chế tại Trung Quốc. Vào ngày 21/1 Thạch Tỉnh Cúc Thứ Lang báo cho Lục Tông Dư rằng Anh, Nga, Pháp đều hy vọng Nhật Bản duy trì hoà bình tại Đông Á ; bèn nghiêm lời cảnh cáo nếu không nghe sẽ thừa nhận Vân Nam là đoàn thể chống đối, tuyên cáo chính phủ Trung Quốc có phương hại đến hoà bình châu Á.


Thời gian cách mệnh Tân Hợi [1911], Viên tranh đoạt chính quyền nhà Thanh, phần lớn đều nhờ Anh, Mỹ tương trợ ; cùng ước thúc hành động của Nhật Bản. Nay tình thế không giống như trước, nước Anh tham gia cuộc đại chiến nên không rảnh, Mỹ tuy ủng hộ Viên, Quốc vụ viện huấn lệnh Công sứ P. S. Reinsch rằng nếu như không có tổ chức lớn phản đối thì thừa nhận đế chế ; nhưng lúc này trong nước Viên đã mất quyền khống chế.


 


3. Thế lực chống lại Viên Thế Khải

 


Sau khi chính phủ dân quốc thành lập được 4 năm, bất luận do nội trị hoặc ngoại giao, hậu quả khiến dân nằm trong tình huống không sống nổi. Bắt đầu giai đoạn này, Trung Quốc bị coi là xứ nhiều phỉ, nhiều tai nạn. Phỉ loạn từ năm 1912 đến năm 1914, có Bạch Lãng tại Hà Nam rất nổi tiếng, bộ hạ đến mấy vạn ; phần lớn là dân đói, quân đào ngũ, tung hoành tại 5 tỉnh Hà Nam, An Huy, Hồ Bắc, Thiểm Tây, Cam Túc. Lúc đầu lấy danh nghĩa lấy của nhà giàu cho nhà nghèo, sau đó với danh nghĩa phản Viên, bài xích “ Mưu gian nắm chính quyền, hung ác đầy triều đình ” “ Trộm chiếm chính thể dân quốc, rồi lên ngôi vua ”, truyền ngôn rằng có liên lạc với Quốc dân đảng. Tổng trưởng lục quân Đoàn Kỳ Thuỵ đích thân mang quân tiễu trừ, điều binh hơn 10 vạn, trải qua 2 năm mới bình định được. Từ năm 1914 đến 1915 các vùng Hoa bắc, đông bắc, lưu vực sông Trường Giang không ngừng dân biến ; thường chiếm thành giết quan. Binh biến là việc thường xẩy ra dưới thời dân quốc, tối thiểu hơn 40 vụ, suốt trên 10 tỉnh : Hồ Nam, Hồ Bắc, An Huy, Giang Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô, Chiết Giang, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phụng Thiên [Liêu Ninh], Hắc Long Giang ; lại kèm cả thuỷ tai, đại hạn, côn trùng phá hoại mùa màng. Chính phủ vơ vét gia tăng không ngừng, ngoại quốc đối với những hàng nhập qua hải quan khống chế càng nghiêm ; do mượn tiền ngoại quốc nên thuế muối do ngoại quốc kê tra kiểm soát. Chính phủ Viên toàn dựa vào tiền mượn từ nước ngoài, phát hành công trái, thu thêm các thứ tạp thuế, để sống qua ngày. Không ngừng sách hoạch thuế, cưỡng ép mua công trái, thuế chứng nhận thị thực tăng cao, khiến thương nhân bãi thị. Quan lại hà ngược, lính tráng bạo hành là chuyện thường ngày ; lại giả dạng tra cấm cách mệnh, truy tập loạn đảng, vu hãm, tự ý giết chóc, đặc biệt xẩy ra tại hai lần cách mệnh. Thang Hương Minh, Long Tế Quang, tại các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, bị dân gọi là đồ tể.


Đầu năm 1915 Lương Khải Siêu trình bày về sự nguy cơ đương thời rằng “ Nay lụt lội, đại hạn tai hoạ liên miên, quan lại không trong sạch, đạo tặc chưa yên, hình phạt không trúng, thuế má nặng nề. Mưa, lụt, hạn, khốc liệt, dân oán dâng cao ; phía trong thì đảng chống đối gom sức đợi thời, bên ngoài thì lân bang mạnh khởi mưu giảo hoạt ”. Lại bảo Viên Thế Khải như “ con chim trăm tên nhắm vào ” nhưng không thể “ dùng uy lực mà đổi dời vận nước ” “ cần phải dùng nhân tâm để ràng buộc ”. Cái gọi là “ Lân bang mạnh khởi mưu giảo hoạt ” muốn chỉ đến Nhật Bản với 21 điều yêu cầu, khích động toàn dân phản Nhật. Từ tháng 2 đến tháng 7/1915, xẩy ra rất mãnh liệt ; do du học sinh tại Nhật khởi xướng trước, các giới tại Thượng Hải tiếp nối sau, cử hành ái quốc đại hội, tham dự có đến mấy vạn người, bài trừ hàng hoá Nhật, trữ tiền cứu nước ; trong vòng 20 ngày, các nơi tại Thượng Hải thu được số tiền 50 vạn nguyên.


Sau khi Viên tỏ ra khuất phục Nhật, nhân dân công phẫn đến cực điểm, thương dân tại Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc] bãi thị để tẩy chay hàng Nhật ; Trấn Giang [Zhenjiang, Giang Tô], Thẩm Dương [Shanyang, Liêu Ninh], Bắc Kinh phát tán truyền đơn ái quốc, phong trào lan rộng ra cả nước. Viên ba bốn lần răn đe cấm chỉ, nỗi oán hận trong xã hội vừa đối Nhật vừa đối Viên, rồi giận Viên còn quá Nhật. Trước đây Viên áp bức Quốc dân đảng, dẹp quốc hội còn có sự lượng thứ ; ngày nay Viên bán nước, dồn quyền lợi nước vào gia đình thì không có thể khoan thứ ; Nhật Bản là nước thù địch thứ nhất của Trung Quốc, đánh đổ Viên là nhiệm vụ cấp thiết.


Vốn dĩ Quốc dân đảng là tổ chức lớn chống Viên, sau cách mệnh lần thứ hai bị thất bại, hầu như không vươn lên được. Tôn Trung Sơn bèn chấn chỉnh lại, cải tạo triệt để. Tháng 6/1914 đổi tên thành “ Trung Hoa cách mệnh đảng ”, đảng viên nhất luật lập lời thề hy sinh tính mệnh, tự do quyền lợi, theo Tôn Trung Sơn tái cử sự cách mệnh. Thành phần cách mệnh trước khi khởi nghĩa, được xếp vào Thủ nghĩa đảng viên, hưởng quyền ưu tiên tham chính ; những người gia nhập trước khi chính phủ cách mệnh thành lập được gọi là hiệp trợ đảng viên, xếp loại công dân có công, được hưởng quyền tuyển cử và được đề cử ; những người vào đảng sau khi chính phủ cách mệnh thành lập là phổ thông đảng viên, xếp vào công dân tiên tiến, có quyền tuyển cử. Đó là tiếng nói đầu tiên của việc dùng đảng trị nước, mục đích chính là lật đổ Viên Thế Khải, không ngừng cử sự tại Hồ Nam, Giang Tô, Quảng Đông. Hoàng Hưng, Lý Liệt Quân, Trần Quýnh Minh, Lý Căn Nguyên, không tán thành biện pháp mới của Tôn Trung Sơn nên chưa gia nhập Trung Hoa cách mệnh đảng, bèn lấy danh nghĩa nghiên cứu Âu Châu chiến tranh, lập “ Âu sự nghiên cứu hội ”, cũng đề cao lật đổ Viên là nhiệm vụ chính, nhưng thiếu thực lực trong nước.


Tiến bộ đảng lúc mới bị Viên loại bỏ cũng chưa có ý tưởng chống đối, tuy thẩm lượng tình thế không cho việc thi hành đế chế là đúng. Lương Khải Siêu mấy lần khẩn thiết khuyên Viên “ Chính phủ thực chất lập hiến, thì vô luận quân chủ hay cộng hoà đều có thể được, chính phủ không theo lập hiến thì dù cộng hoà hay dân chủ cũng không được ” ; hy vọng Viên thi hành tân ước pháp. Viên không những không nghe, lại còn đe doạ uy hiếp. Lương cho rằng đất nước gặp bất hạnh còn quá cách mệnh ; quá khứ Tiến bộ đảng sở dĩ hợp tác với Viên là muốn duy trì hiện trạng, nhưng thực tế nơi nơi đều cướp bóc, thời thời bị lợi dụng, dấu vết thất bại quá rõ ràng. Xét tình thế trước mắt, Lương kết luận nếu duy trì tình trạng thêm một ngày, nguyên khí càng táng thất, đảng cách mệnh sẽ thừa dịp lúc lòng công phẫn dấy lên khắp nơi, dùng căn cứ địa của Tiến bộ đảng tại Vân Nam, Quý Châu làm bàn đạp tiến quân đánh dẹp, Tiến bộ đảng và Viên sẽ cùng sụp đổ. Nếu tránh được, thì một khi lực lượng Viên mạnh lên sẽ đánh dẹp Tiến bộ đảng tại Quý Châu, Vân Nam. Vậy chi bằng tự cứu mình, quyết tâm phản Viên, khiến đảng cách mệnh cũng không được đắc chí.


Phái Bắc dương là nơi tính mệnh Viên dựa vào, các chỗ khác phản đối Viên không quan tâm nhiều, nhưng sợ nhất là Bắc dương phái tỏ ra bất trung. Đoàn Kỳ Thuỵ, Phùng Quốc Chương là hai cột trụ của Bắc dương phái ; một người coi binh phù đứng đầu bộ lục quân, một người ở biên cương giữ chức Tướng quân Giang Tô, cả hai đều có quyền ngang ngửa chúa ; Viên trong lòng nghi kỵ, bèn tìm cách phòng ngừa. Vào năm 1914 đặt Thống suất biện sự xứ để chia quyền bộ lục quân, lại lập Mô phạm đoàn do Viên cùng con, Khắc Định, làm đoàn trưởng, chuẩn bị lập Mô phạm quân, tạo một lực lượng thân tín. Trong thời gian giao thiệp 21 điều khoản với Nhật, Đoàn gửi điện chủ chiến, Viên nhận thấy Đoàn gây khó khăn, bèn mượn cớ cách chức bộ hạ tâm phúc của Đoàn là Thứ trưởng Từ Thọ Tranh. Đối với Phùng Quốc Chương, thì Viên phân điều quân dưới quyền đến Thượng Hải [Shanghai], Tô Châu [Suzhou, Giang Tô], Nam Kinh [Nanjing, Giang Tô], và giấu không cho biết dự định lập đế chế. Đến lúc cải sang đế chế, thì đổi đạo quân đóng tại Thượng Hải thành Hộ quân sứ trực thuộc trung ương ; sau cùng giao cho Phùng hư danh Tham mưu bộ trưởng, để tìm cách đoạt quyền lực tại địa bàn trấn nhậm. Lương Khải Siêu vốn có giao thiệp qua lại với Phùng, bèn khuyên chống lại đế chế. Điều khiến cho Phùng tuân theo, bởi dưới chính thể cộng hoà Phùng còn có cơ hội làm Tổng thống, còn nếu một khi Viên lên ngôi vua thì suốt đời Phùng chỉ dưới quyền người, mà ngay cả địa vị hiện nay đã chắc gì giữ được. Trường Giang Tuần duyệt sứ Trương Huân đóng quân tại Từ Châu [Xuzhou, Giang Tô], vốn lăm le giành quyền, hy vọng một ngày vua Tuyên Thống sẽ trở lại ngôi, cũng không phải là người trung thực ủng hộ Viên. Quốc vụ khanh Từ Thế Xương tuy không có binh quyền, nhưng là bậc đại lão phái Bắc dương, không phục việc cải đế chế của Viên, lúc đầu khai bệnh xin nghĩ phép sau đó từ chức, tỏ thái độ tiêu cực bất hợp tác.


 


4. Phái chống Viên liên hợp hành động

 


Phái phản Viên do cách mệnh đảng phát động đầu tiên. Ngày 10/11/1915 giết Trấn thủ Thượng Hải Trịnh Nhữ Thành, một tướng hung hãn của Viên. Ngày 5/12, do Trần Kỳ Mỹ điều động có sự tham dự của người Nhật, chiếm đoạt quân hạm Triệu Hoà cùng Cảnh sát cục tại Thượng Hải. Vân Nam là nơi chính yếu phái phản Viên tranh thủ. Lý Liệt Quân thuộc Quốc dân đảng, cùng Tướng quân Vân Nam Đường Kế Nghiêu học chung trường võ bị tại Thượng Hải có giao tình khăng khít với nhau ; lại từng dạy tại giảng vũ đường Vân Nam, các tướng hiệu tại đây phần lớn xuất thân từ trường này. Trong khi phe Viên vận động cải sang đế chế, Lý Liệt Quân cùng Lý Căn Nguyên, người có ảnh hưởng sâu trong quân Vân Nam, chia ra hoạt động. Cuối cùng xúc tiến sự quyết tâm của người tiền nhiệm Đường Kế Nghiêu là Thái Ngạc và đảng tiến bộ. Trước cách mệnh Tân Hợi, đảng cách mệnh và đảng Tiến bộ lần đầu liên kết hành động ; lần này lật đổ Viên, lại bắt tay hợp tác lần nữa.


Thái Ngạc là một nhà quân sự và chính trị, trong thời kỳ cách mệnh lần thư hai, bị Viên Thế Khải điều lên Bắc Kinh, nhưng tiềm lực của Thái tại Vân Nam vẫn còn. Lúc Trù an hội ủng hộ Viên đổi sang đế chế, Thái cùng Lương Khải Siêu trù tính sách lược chống đối. Lương muốn Thái tạm thời ẩn nhẫn, để Lương một mình hành động qua văn chương, bèn viết một bài gây xúc động lớn trong nước, nhan đề Dị tai sở vị quốc thể vấn đề giả [Lạ thay cho cái gọi là vấn đề thể chế quốc gia]. Thiên văn chương này đăng trên tạp chí Đại Trung Hoa đả kích Viên Thế Khải, hô hào nhân dân chống Viên, bảo vệ nền cộng hoà. Riêng Thái Ngạc như con rắn ẩn trong hang, giả danh ủng hộ đế chế, nhưng tìm cách liên lạc với Đường Kế Nghiêu tại Vân Nam. Vào trung tuần tháng 11/1915, Thái được người Nhật giúp, cải trang đáp tàu chở than qua Nhật Bản, rồi đến Việt Nam, theo đường qua Vân Nam. Ngày 19/12 đến tỉnh lỵ Côn Minh, Lý Liệt Quân cũng đến đó trước. Thái, Đường, Lý bàn luận nên mang quân ngầm đến Tứ Xuyên, nhắm lúc quân Viên không chuẩn bị, bất ngờ lấy Tứ Xuyên. Việc Thái Ngạc chống Viên Thế Khải, gây yếu tố bất ngờ đến phút chót, Viên đã tiết lộ trong lệnh đoạt chức Thái như sau : “ Lúc bọn Thái Ngạc thảo luận về phát sinh thể chế quốc gia, từng tập hợp tại kinh đô quan quân cao cấp, đầu tiên ký tên đồng ý theo quân chủ lập hiến. Rồi sau đó xin nghỉ phép xuất dương trị bệnh, cớ sao lại ngầm trở về Vân Nam, lừa dối mê hoặc lòng người, làm điều phản phúc như vậy. Bọn Đường Kế Nghiêu, Nhiệm Khả Trừng là viên chức địa phương có trách nhiệm ; không kể đến việc gửi điện đi các nơi, có phải do bị ức hiếp, hoặc kẻ gian tung ra ; cũng đều bị lỗi… Thái Ngạc hành vi bí ẩn, vì xa xôi hiềm nghi không rõ ràng, cần cách chức đoạt quan, đoạt luôn cả huân chương, do quan địa phương cưỡng bách giải về kinh đô để tra xét.”


Lúc bấy giờ Lương Khải Siêu từ Thiên Tân đến Thượng Hải phối hợp với 5 quốc gia cảnh cáo Viên định cải sang đế chế. Ngày 22/12 Lương gửi điện cho Thái Ngạc, thúc dục Thái cấp tốc phát động. Điện phát xuất từ Nam Kinh, nên Thái nghĩ rằng Lương đã bàn kế hoạch cử sự với Lý Quốc Chương tại nơi này và cần đến sự hưởng ứng ; nhưng thực ra điện này do Hồ Tự Viện, Bí thư trưởng của Lý Quốc Chương vốn ghét Viên mưu lên ngôi vua, giúp gửi đi. Ngay ngày hôm sau 23/12, Sư trưởng Tứ Xuyên Lưu Tồn Hậu, Hộ quân sứ Quý Châu Lưu Hiển Thế, Tướng quân Quảng Tây Lục Vinh Đình, đều gửi điện tán thành. Lại do Đường Kế Nghiêu, và Tuần án Vân Nam Nhiệm Khả Trừng đứng tên, yêu cầu Viên Thế Khải trừng trị 13 người chủ mưu cải chính thể sang đế chế, trong đó có nhóm người đề xướng Trù an hội ; hạn trong 24 giờ phải phúc đáp. Ngày 25, Đường, Thái, cùng Lý Liệt Quân tuyên bố độc lập, tổ chức Trung Hoa quốc gia Hộ quốc quân. Đệ nhất quân do Thái Ngạc chỉ huy tiến hướng Tứ Xuyên, Quy Châu ; Lý Liệt Quân giữ chức Tư lệnh đệ nhị quân tiến hướng Quảng Tây ; Đường Kế Nghiêu Tư lệnh đệ tam quân lưu giữ Vân Nam. Thái khẳng khái cùng quân tuyên thệ rằng “ Chúng ta bất đắc dĩ phải cử sự, không dám bảo đảm cứu hết nạn nước, chỉ nguyện làm tròn tư cách con người ”. Đường gửi thư cho Tôn Trung Sơn, Phùng Quốc Chương, mong mỏi cùng hành động.


Quân Thái Ngạc làm chủ lực cho Hộ quốc quân, vào trung tuần tháng 1/1916 cánh trái vào đến phía nam tỉnh Tứ Xuyên chiếm Tự Châu [Xuzhou], Sư trưởng quân Tứ Xuyên Lưu Tồn Hậu theo ; cánh phải đến Quý Dương [Guiyang, Quý Châu], vào ngày 27/1 Hộ quân sứ Quý Châu Lưu Hiển Thế hưởng ứng ; tổng số quân hơn 3 vạn. Quân của Viên Thế Khải chia làm 3 lộ vây Vân Nam, một lộ vào Tứ Xuyên, một lộ hướng Hồ Nam, một lộ hướng Quảng Tây ; quân số ước 10 vạn, do Tào Côn làm thống soái, chiến trường chủ yếu tại Tứ Xuyên. Hộ quốc quân khí giới không tốt, lương thực đạn dược thiếu, nên trong vòng các tháng 2, 3 mấy lần thất lợi, Thái Ngạc chịu gian khổ chống cự. Nhưng quân Viên tinh thần không cao, nội bộ chia rẽ, lại bị dân coi như kẻ thù, nên không có ý chí tiến công. Ngoài ra các tỉnh Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc nhiều chỗ bất an, Quảng Châu [Guangzhou, Quảng Đông] lại có bạo động, dinh Trường Sa [Changsha, Hồ Nam] Tướng quân bị đánh, Vũ Xương [Wugang, Hồ Bắc] phát sinh binh biến, Quảng Tây tuyên bố độc lập, càng làm cho Viên kinh hồn khiếp đảm.


Tướng quân Quảng Tây Lục Vinh Đình là thuộc hạ cũ của Sầm Xuân Huyên, cũng là Lý sự danh dự của Tiến bộ đảng, nên phái phản Viên ra sức tranh thủ. Ngày 25/1/1916 Lương Khải Siêu gửi điện cho Lục yêu cầu yêu cầu tuyên bố độc lập. Lục phúc đáp rằng “ Chỉ cần ngài Lương Khải Siêu sớm đến Quảng Tây, thì ngay chiều hôm đó Lục Đình Vinh tôi, sẽ tuyên bố độc lập ” Lương Khải Siêu quyết định đến Quảng Tây gấp, bèn nhờ Viên võ quan Nhật, Trung tướng Thanh Mộc, giúp đỡ. Thanh Mộc bố trí cho Lương đáp tàu thuỷ bưu điện từ Thượng Hải qua Hồng Kông, rồi đến Hải Phòng, Việt Nam. Ngày 27/3 Lương đến địa đầu tỉnh Quảng Tây, riêng Lục Vinh Đình vào ngày 12/3 phối hợp với Lý Liệt Quân đánh phá đạo quân Viên Thế Khải trên đường hành quân đến Vân Nam, ngày 15/3 tuyên bố độc lập. Tiếp đến Quảng Châu [Guangzhou], Khâm Châu [Qinzhou], thuộc Quảng Đông nam lộ ; Triều Châu [Chaozhou], Sán Đầu [Shantou] thuộc đông lộ tuyên bố độc lập, quân hạm tại Quảng Châu hưởng ứng ; khiến Quảng Đông Tướng quân Long Tế Quang, từng được Viên Thế Khải sách phong Nam Hải Quận vương, lâm vào cảnh 4 phía bị bao vây, ngày 6/4 bị ép phải chấp nhận độc lập và yêu cầu Hộ quốc quân cử người đến đàm phán. Lương Khải Siêu và Lục Vinh Đình chấp nhận, cử đại biểu Quảng Tây Thang Giác Đốn đến dự. Trong cuộc họp mang tên “ Quảng Đông độc lập thiện hậu vấn đề ”, khai mạc vào ngày 12/4 tại đảo Hải Châu [Haizhu, Quảng Châu, Quảng Đông] ; lúc bàn về cải biên quân đội thì phát sinh tranh chấp, Nhan Khải Hán Thống lãnh Cảnh vệ của Long Tế Quang, cùng Thái Nãi Hoàng Đại biểu của Viên Thế Khải tại Quảng Đông, thình lình dùng súng bắn chết Đại biểu Hộ quốc quân gồm Thang Giác Đốn, Đàm Học Quỳ, Vương Quảng Linh ; việc này sử gọi là Hải Châu thảm án. Vụ thảm sát này khiến Lục Vinh Đình mang quân đến Quảng Đông hỏi tội, nên vào ngày 19/4 Long Tế Quang phải đích thân đến Triệu Khánh đàm phán với Lục và Lương Khải Siêu, cuối cùng đem Thái Nãi Hoàng xử tử. Vào ngày 12 cùng tháng, Quốc dân đảng tại Chiết Giang xua đuổi Tướng quân Chu Thuỵ. Vào ngày 1/5 Tư lệnh Hộ quốc quân thành lập tại Triệu Khánh [Zhaoquing, Quảng Đông], ngày 8/5 khuếch đại thành Hộ quốc quân Quân vụ viện ; cử Đường Kế Nghiêu làm Phủ quân trưởng, do Sầm Xuân Huyên làm Phó phủ quân trưởng nhiếp chính, Lương Khải Siêu làm Uỷ viên trưởng chính vụ, tuyên ngôn không phân đảng phái cùng lật đổ Viên, ủng lập Phó tổng thống Lê Nguyên Hồng làm Tổng thống, Quân vụ viện thay thế Quốc vụ viện chức quyền. Tôn Trung Sơn cũng tuyên bố trợ giúp các tỉnh độc lập, cùng các phái chung sức lật đổ Viên phản bội ước pháp ; trận tuyến liên hợp phản Viên hình thành.


 


5. Viên Thế Khải thất bại, rồi chết

 


Hộ quốc quân tại Vân Nam khởi sự, khiến cho điều Viên cam đoan với ngoại quốc rằng việc thay đổi chế độ không ảnh hưởng đến trị an trong nước bị phá sản ; Viên biết rằng Nhật Bản sẽ không để yên. Đặc sứ đến mừng Nhật Hoàng bị cự, buộc Viên phải chùn bước. Ngày 18/1/1916 Viên ra lệnh đình chỉ tiến cống. Trong lần cảnh cáo vào ngày 21/1, Nhật đưa điều kiện tiên quyết là phải bình định ngay Vân Nam, nếu không sẽ ra tay can thiệp ; cũng trong ngày Viên thông tri cho các nước hoãn việc lên ngôi. Nhưng rồi Quý Châu lại tiếp tục tuyên bố độc lập ; quân phản Viên chiếm phía nam Tứ Xuyên, tây Hồ Nam, và tập kích công xưởng tại Quảng Châu. Ngày 26, Công sứ các nước chất vấn rằng có đặt được kỳ hạn về sự bình định nội loạn không, và thanh ngôn rằng sẽ xem hai bên như nhau. Ngày 23 Viên chính thức tuyên cáo sẽ hoãn lên ngôi, không chấp nhận gửi điện mừng về việc này, và thúc dục các quân dẹp loạn. Nhật Bản chi trì nhiều cách cho các phe chống Viên, ngày 7/3 nội các quyết định lật đổ chính phủ Viên, thừa nhận quân phương nam, gửi Lãnh sự đến Vân Nam ; sau đó tiếp tục gửi Lãnh sự đến Quế Lâm [Guilin, Quảng Tây], và Đại diện đến Triệu Khánh [Zhaoquing, Quảng Đông].


Sau khi Quảng Tây giành độc lập, các đạo quân Bắc dương hành quân bị Đoàn Kỳ Thuỵ, Phùng Quốc Chương xui khiến, viện cớ lương thực đạn dược không đủ, chần chừ không chịu tiến. Viên đòi hỏi các tỉnh nạp tiền nhưng không được, mượn nước ngoài cũng không xong, vơ vét cùng quẫn. Từ Thế Xương khuyên Viên thay đổi sớm, Viên triệu Lương Sĩ Di đến thương lượng, đem chính quyền trung ương giao cho Từ Thế Xương, Đoàn Kỳ Thuỵ ; quân vụ địa phương giao cho Phùng Quốc Chương, mệnh Tứ Xuyên Tướng quân Trần Hoạn bàn hoà với Thái Ngạc. Ngày 20/3 phát hiện Phùng Quốc Chương ngầm liên lạc với 5 Tướng quân tại các tỉnh, như Giang Tô Tướng quân Lý Thuần, Sơn Đông Tướng quân Cận Vân Bằng, Chiết Giang Tướng quân Chu Thuỵ nhắm yêu cầu cấp tốc thủ tiêu đế chế. Sau khi họp bàn với Từ Thế Xương, Đoàn Kỳ Thuỵ ; ngày 22 Viên hạ lệnh triệt tiêu đế chế án, trả lại các thư suy cử, đình chỉ việc trù bị, và tự bảo rằng “ Lòng thành không dủ để cảm lòng người, sự minh bạch không đủ để soi sáng, đức hạnh bị người chê trách ”.


Sau khi triệt tiêu đế chế, Viên lại xưng Tổng thống ; giao cho Từ Thế Xương làm Quốc vụ khanh, Đoàn Kỳ Thuỵ làm Tham mưu Tổng trưởng. Từ, Đoàn khuyên lãnh tụ Hộ quốc quân thủ tiêu độc lập, chấm dứt can qua. Hộ quốc quân yêu cầu Viên ra khỏi nước ngay, Tổng thống do Lê Nguyên Hồng kế nhiệm, tước đoạt công quyền của con cháu Viên 3 đời, tru lục 13 đầu sỏ gây hoạ, tịch thu tài sản Viên cùng 13 người ; một khi Viên không đi, thì quyết không nghị hoà. Viên Thế Khải tung tin phe miền nam sắp cử Sầm Xuân Huyên làm Tổng thống, thay đổi quan tại các tỉnh, để lung lạc tinh thần quân Bắc dương, nhưng không thu hiệu quả. Phùng Quốc Chương khuyên Viên căn bản giải quyết, không nên tham luyến địa vị Tổng thống. Tướng quân Tứ Xuyên Trần Hoạn cũng bảo rằng quân sĩ dũng khí không chấn tác, giải quyết bằng vũ lực không dễ, khuyên Viên hy sinh bản thân để cứu đại cuộc. Cuối tháng 3, Trần Hoạn thực hành đình chiến với Thái Ngạc. Sau khi Quảng Đông, Chiết Giang độc lập ; Hộ quốc quân càng tỏ ra cường ngạnh, bảo rằng không những Viên không được làm Tổng thống, mà phải đem ra pháp luật xét xử. Viên dùng kế hoà hoãn, sửa đổi tổ chức, khôi phục chế độ nội các, cải bổ Đoàn Kỳ Thuỵ làm Quốc vụ khanh mà không giao cho thực quyền.


Phùng Quốc Chương là lãnh tụ các Tướng quân vùng lưu vực sông Trường Giang, trong tình trạng Viên và Hộ quốc quân tương trì, hai phe đều trông chờ thái độ của Phùng Quốc Chương. Phùng Quốc Chương hình thành trung tâm quyền lực thứ ba, sách lược sử dụng giống như Viên Thế Khải đối với triều Thanh cùng phe cách mệnh năm Tân Hợi [1911]. Trung tuần tháng 4, Phùng đề xuất biện pháp điều đình, thừa nhận Viên vẫn giữ địa vị Tổng thống, cẩn thận tuyển Nghị viên, tái mở Quốc hội, trừng trị kẻ gian, tôn trọng dân quốc ước pháp, các quan đứng đầu quân chính tại tỉnh vẫn theo như cũ ; triệt bỏ quân tiền tuyến tại các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Nam. Nhưng Hộ quốc quân vẫn kiên trì đòi Viên Thế Khải phải từ chức. Phùng chuẩn bị dùng vũ lực để làm trọng tài, điện cho các tỉnh chưa tuyên bố độc lập hỗ tương liên lạc, đối với hai phe Viên và Hộ quốc quân tại hai phía bắc nam thì không thiên về phía nào. Nếu Hộ quốc quân trái với công luận đáng coi như kẻ địch, nếu như Viên theo đường khác, cũng ra sức đấu tranh. Phùng biết rằng Hộ quốc quân sẽ không nhượng bộ về điều bắt Viên từ chức, nếu dùng vũ lực sai khiến thì không đủ khả năng ; cho dù có khả năng cũng không có ích gì cho Phùng. Còn việc đuổi Viên đi xét ra không khó vì hiện nay lực lượng ủng hộ Viên chỉ có 5 tỉnh : Phụng Thiên, An Huy, Hà Nam, Trực Lệ, Thiểm Tây ; nhưng Tướng quân Đoàn Chi Quý tại Phụng Thiên mới bị Trương Tác Lâm bức bách, còn Tướng quân Lục Kiến Chương tại Thiểm Tây cũng đã bị đuổi đi. Nếu Viên đổ, Phùng có cơ hội lên làm Tổng thống ; nên Phùng tỏ ra cương quyết hơn, nói với Đoàn Kỳ Thuỵ rằng Viên muốn bảo tồn địa vị lả việc không dễ “ chẳng thà coi chức Tổng thống nhẹ như chiếc dép rách, đó là sách lược bảo toàn ”.


Vào ngày 1/5 Phùng lại tuyên bố sửa đổi biện pháp điều đình, bảo rầng chính phủ dân quốc bị cắt đứt bởi đế chế, nên địa vị Tổng thống, Phó tổng thống đến nay không còn hiệu lực ; đề nghị Viên tạm giữ chức, chờ triệu tập quốc hội sẽ tuyển cử. Tư cách Nghị viên quốc hội cần quy định nghiêm khắc, ước pháp năm dân quốc thứ nhất đáng tu sửa. Nói tóm lại tuyển Tổng thống và Phó tổng thống mới, riêng Hộ quốc quân thì vẫn kiên trì đưa Lê Nguyên Hồng lên làm Tổng thống. Vào ngày 17/5 Phùng triệu tập đại biểu các tỉnh đã tuyên bố độc lập đến Nam Kinh dự hội, Viên cũng mong tìm được chút hy vọng mới. Nhưng đại đa số các tỉnh đều đồng ý Viên phải từ chức, chỉ có Trương Huân, Nghê Tự Xung tại An Huy phản đối. Phùng điện ngay cho Viên rằng không có khả năng lưu nhiệm ; Viên thấy hội nghị Nam Kinh bất lợi, muốn dùng binh, nhưng tình thế chung không cho phép. Hơn nữa quân phí quá lớn, chỉ dựa vào việc in thêm tiền ; ra lệnh hai ngân hàng lớn Trung Quốc, Giao Thông đình chỉ trả ngoại tệ, nhưng Trung Quốc ngân hàng tại Thượng Hải không theo. Phùng công khai chi trì, các quan chỉ huy tại lưu vực sông Trường Giang đều nhất trí. Rõ ràng nay Viên bắt đầu nếm trái đắng mà 4 năm về trước triều Thanh đã nhận được từ Viên.


Viên không có sức bắt Hộ quốc quân khuất phục, Hộ quốc quân cũng không dễ bắt Viên thoái vị ; vì lực lượng Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây có hạn ; Lục Vinh Đình tuy tiến đến Hồ Nam, nhưng chưa khống chế được Quảng Đông, Quân vụ viện cũng chỉ có danh, không làm gì hơn được. Nhưng may rằng lực lượng phản Viên có những bước phát triển mới ; Cư Chính thuộc Trung Hoa cách mệnh đảng, được người Nhật giúp, từ căn cứ Thanh Đảo [Qingdao, Sơn Đông] chiếm vùng đất dọc theo đường sắt Giao Châu Loan - Tế Nam, rồi đánh tỉnh thành Tế Nam [Jinan, Sơn Đông] ; đồng thời tại Thiểm Tây phái phản Viên khởi sự vào chiếm thành Tây An; Sơn Tây Tướng quân Diêm Tích Sơn ngầm thông đồng với Tôn Trung Sơn. Kế hoạch dùng lực lượng phương bắc đánh phương nam bị phá sản, sau khi đình chiến tại Tứ Xuyên, các nơi rầm rộ giành độc lập, các Tướng lãnh tại tiền tuyến chuẩn bị đánh đổ Viên, ngày 22/5 Trần Hoạn tuyên bố đối Viên đoạn tuyệt quan hệ. Dân Hồ Nam thừa dịp quân Quảng Tây đến, tranh nhau hưởng ứng, ngày 25/5 Thang Hương Minh tuyên bố độc lập, không thừa nhận Viên là Tổng thống.


Từ khi Vân Nam khởi sự, việc đối ngoại của Viên rất khó khăn ; Đoàn Kỳ Thuỵ, Phùng Quốc Chương kẻ trong người ngoài chèn ép, dư luận đả kích, chúng bạn phản lìa, khiến vừa giận lại vừa thẹn, tâm thần không yên. Đầu tháng 3, báo chí Mỹ, Pháp đăng Viên bị trúng phong, chẳng bao lâu bệnh nặng. Trung tuần tháng 5, mắt hoa đầu váng, ngủ không thành giấc. Trần Hoạn tuyên bố độc lập như lá bùa chấm dứt số mệnh, Viên trở nên hôn mê, không còn trông coi công việc nước được nữa. Ngày 3/6 bệnh nặng thêm, ăn uống đều nôn ra, bí đường tiểu tiện ; ngày mồng 5 bắt đầu mê man, sau giờ Ngọ ngày mồng 6/6/1916 mất, thọ 58 tuổi. Việc thoái vị của Viên tuy chưa xong, nhưng coi như xong ; còn Trung Quốc hoạ loạn không vì thế mà chấm dứt.


Hồ Bạch Thảo

 

(Tham khảo từ : Cận Đại Trung Quốc Sử Cương của Quách Đình Dĩ, Wikipedia Anh văn và Trung văn, Bản đồ Google)


 




(1)  Frank J. Goodnow : nguyên Giáo sư đại học Columbia, tại New York, năm 1913 làm Cố vấn về hiến pháp cho Trung Quốc.

(2)  Hữu Hạ Trường Hùng : Giáo sư đại học Tảo đạo điền tại Nhật, được mời làm Cố vấn về hiến pháp.

(3)  Lục hợp : chỉ trời, đất và 4 phương.





Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss