Bạn đang ở: Trang chủ / Sáng tác / Cái bếp

Cái bếp

Bút ký


Cái bếp.


Nguyễn thị Kim Thoa



Sự khác biệt rất dễ nhận ra giữa cái bếp và các nơi khác trong bất cứ ngôi nhà nào là lửa. Không có lửa, sẽ không có cái bếp nào cả.

Ngôi nhà không có bếp sẽ thiếu vắng cái hồn của cuộc sống.

Có lẽ các nhà khảo cổ đã tìm thấy cái bếp đầu tiên trong một hang đá nào đó của thời tiền sử. Lần hồi cái bếp được nhân rộng, phát triển tại bất cứ nơi nào loài người có điều kiện sinh sống.

Trong đời tôi ngoài hai cái bếp của gia đình mình: một cái thời còn ở với cha mẹ và một cái sau khi thành lập gia đình riêng, tôi có dịp gần gũi với nhiều cái bếp khác nhau, tôi xin mô tả lại theo ký ức và thứ tự thời gian.


Cái bếp của ông cậu Mới.


Ông cậu Mới là thành viên của gia đình tôi, nhưng vì lý do sức khỏe, ông phải ở riêng trong một cái chòi nhỏ tại một góc phía sau vườn. Ông chỉ dùng cái bếp này để nấu nước pha trà mỗi sáng, mỗi chiều. Cái bếp của ông cậu Mới thật đơn giản, di động, nấu bằng lá khô trong vườn và rơm rạ ông lấy từ đồng lúa Vỹ Dạ. Nó gồm một cái kiềng bằng sắt, một cái ấm nhôm, một vại nước nhỏ và một cái gáo dừa có cán. Trời nắng ông cậu đem ra nấu dưới gốc cây mít. Trời mưa ông đem kiềng vào nấu tại một góc chòi bên cạnh giường ngủ. Sau ba tuổi tôi thường ra ngồi đùa lửa với ông cậu và vô cùng thích thú mỗi khi có một hạt lúa còn sót trong rơm gặp lửa nổ văng ra ngoài. Tôi vội lượm hạt nổ nho nhỏ trắng phau bỏ vào miệng mum chậm rãi để thưởng thúc mùi thơm và vị béo của nó. Nước sôi, ông cậu Mới pha trà ngồi uống một mình hay với ba tôi. Mỗi lần như vậy tôi ngồi hóng chuyện hay nằm gối đầu lên vế ông, say sưa nghe ông kể hết chuyện này đến chuyện nọ và ngủ say lúc nào không biết.

Ngoài những chuyện cổ tích, thần thoại, bên cái bếp di động chân kiềng, dưới làn khói thơm khét mùi rơm rạ đôi khi khói mịt mùng làm cay mắt cả hai ông cháu, ông còn lẩm bẩm một mình rất nhiều lần câu chuyện mà về sau này tôi mới biết về mối tình lớn của ông với non sông đất nước. “Dù ai nói ngả nói nghiêng – Lòng tôi vẫn vững như kiềng ba chân”. Câu ca dao này chẳng biết đi vào ký ức tôi lúc nào trong những ngày ấy. Năm 1961 ông cậu Mới bỗng dưng biến mất. Tôi quay quắt nhớ ông trong nhiều tháng. Năm 1975, qua các vị sư chùa Trà Am tôi biết được ông cậu Mới sau khi từ bỏ góc vườn, căn chòi và đứa cháu nhỏ là tôi để đi vào núi thực hiện mối tình lớn mà ông hằng ôm ấp và đã hy sinh trong chuyến về năm Mậu Thân, ông được chôn cất ở một góc vườn sau chùa. Tôi đã theo vị sư đi thăm mộ và thắp hương cho ông.

Tháng rồi trở lại Huế, trở lại khu vườn xưa, tìm lại góc vườn có căn chòi nhỏ lưu dấu trong ký ức một thời thơ dại của tôi với mùi khói cay rơm rạ, mùi thơm ngọt của những hạt cốm nếp văng ra từ cái bếp chân kiềng và những câu chuyện cổ tích, thần thoại thấm đẫm tình người, tình nước mà ông cậu Mới đã kể. Căn chòi dĩ nhiến không còn, góc vườn bị nhà nước lấn chiếm để mở rộng cơ ngơi cho một cơ sở du lịch. Tôi như một người đãng trí vẩn vơ tự hỏi: Ở “chốn vĩnh hằng” ông cậu Mới đang cười hay đang khóc cho mối tình lớn của ông đang là thảm cảnh lớn cho quê hương đất nước?


Cái bếp của hai vợ chồng người thợ rèn.


Sát cạnh vườn nhà cha mẹ tôi là một khu vườn tranh khá rộng và hoang phế. Gần sát đường chẳng biết tự bao giờ mọc lên một túp lều dựng bằng tranh tre, phía trước làm lò rèn, phía sau là nơi cư trú của gia chủ. Mấy dòng này tôi chỉ nhắc đến cái bệ thụt cũng là cái bếp của cặp vợ chồng già đối với tôi vừa rất xa lạ mà vừa rất thân quen.

Những ngày nghỉ học, buổi trưa, trong lúc mọi người trong nhà tôi ngủ nghỉ tôi thường chui rào qua la cà quanh cái bếp của người hàng xóm. Ông bà thợ rèn tiếp tôi bằng những cử chỉ ân cần, giản dị. Ông tạm dừng công việc đi hái cho tôi mấy trái ổi sẻ chín mọng, thơm phức, hoặc thắt cho tôi những con chim, con thú nhỏ bé xinh xắn bằng lá dừa hay bông tranh. Bà vùi cho tôi khi thì củ khoai, khi thì củ sắn hoặc củ bình tinh dưới tro than được cời ra từ bệ lò rèn. Đây là cái bếp của họ. Lửa lò rèn cũng là lửa của cái bếp. Khi nấu bà chỉ đùa lửa ra phía cái nồi, cái soong hay cái ấm đặt trên cái kiềng không chân treo móc bằng một que thép di động trên một thanh ngang gác gần sát mái. Không như các thứ chúng tôi nướng bằng cái bếp của mình, nếu không cháy thì cũng chưa chín tới, những củ khoai, củ sắn, củ bình tinh bà nướng cho tôi bao giờ cũng sém vàng, nóng hổi, thơm phức. Tôi vừa hít hà, vừa phủi phủi, vừa lột vỏ, vừa khới khới nhâm nhi từng miếng nhỏ. Đặc biệt những câu chuyện bà kể thu hút tôi không kém những củ quả, hoa lá tôi nhận được mỗi bận chui rào. Bên bếp lửa lò rèn ấm áp vào mùa đông hoặc trên chõng tre dưới tán dừa mát rượi mùa hè bà kể chuyện Bà Trưng, Bà Triệu, Huyền Trân công chúa, Ngọc Hân hoàng hậu, Bùi thị Xuân nữ tướng…có bao nhiêu người phụ nữ yêu nước, anh hùng, tiết liệt dựng cờ khởi nghĩa, chiến đấu chống trả ngoại xâm, hy sinh vì đất nước…bà kể hết. Những câu chuyện kể của bà thợ rèn giúp tôi những hiểu biết ban đầu trong những giờ học Việt sử ở trường tiểu học khiến cô giáo ngạc nhiên và bạn bè thán phục.

Sau Mậu Thân ông bà thợ rèn biến mất, căn lều và bếp lửa trống vắng nguội lạnh chìm ngập trong cỏ tranh. Nhiều lúc thơ thẩn một mình nhìn qua hàng rào lòng tôi lăn tăn nhiều xao xuyến. Phải chăng, cũng như ông cậu Mới. họ đã chạy về phía bên kia vòng lửa đạn để thực hiện mối tình lớn và khát vọng cứu nước cứu đời?


Cái bếp nhà cô bạn Lương thị Vu Vơ.


Lương thị Vu Vơ là bạn học vỡ lòng và tiểu học của tôi ở trường Thế Dạ. Vu Vơ ở với cha trong một túp lều tre rạ dựng trên một mô đất cạnh con hói nhỏ, phía bên kia là cánh đồng lúa làng Ngọc Anh, phía bên này là bờ tre, phía trong bờ tre là thôn Lại Thế với những khu vườn nhà rộng lớn của các cụ cựu trào. Cha Vu Vơ làm thuê từng ngày cho hai phía ruộng vườn. Căn lều của họ nhỏ như cái lỗ mũi được ngăn làm đôi bởi một tấm phên lửng. Phía bên này kê cái chõng tre vừa là chỗ ngủ vừa là bàn học cho cô con gái. Phía bên kia ở trong là cái kệ bằng tre để lư hương và bài vị thờ người mẹ, phía ngoài treo một cái võng làm chỗ ngả lưng cho người cha. Cái bếp nhà Vu Vơ là cái dại nhỏ mỗi bề hơn một mét trổ doi ra từ mép bên của căn lều thuộc phần lãnh thổ của cô con gái. Nền bếp được đắp cao hơn mặt nền lều bằng đất thịt, ở giữa có ba viên gạch được cố định ba bên thành ba ông táo. Trên giàn bếp được thiết kế bằng tre úp sẵn mấy cái nồi, niêu, trách bằng đất nung một bên, bên kia úp mấy cái chén dĩa bằng sành. Phía ngoài sân dưới gốc một bụi chuối là cái vại chứa nước bằng đất nung, gần bên cắm một nhánh tre nhỏ dùng để móc cái gáo dừa có cán. Cạnh đó là cái âu đất dành để rửa các thứ. Bếp nhà Vu Vơ đun nấu bằng rơm rạ lấy từ cánh đồng hay bằng những nhành khô mà cha con cô đi mót lượm từ bờ tre. Thấy bạn của con đến chơi, cha của Vu Vơ vội đi nhóm bếp nướng khi thì mấy củ khoai dây to bằng ngón chân, ngón tay, khi thì mấy củ bình tinh, khi thì mấy trái bắp to bằng trái chuối. Tất cả được đốt bằng lửa rơm hay từ những cành tre nên có mùi thơm khét đặc biệt nhưng chúng tôi đã ăn ngấu nghiến một cách thích thú. Cha Vu Vơ là nông dân thứ thiệt, ông thân thiết và nhiệt tình giải đáp tất cả những câu hỏi chẳng bao giờ dứt của tôi về chim cá, hoa trái, lúa khoai, rau đậu ở vùng quê của ông đâu tận dưới Cầu Ngói Thanh Toàn. Ông biết rất nhiều bài vè, câu hò, câu hát và chuyện dân gian. Bài vè Nói ngược tôi thuộc mấy câu do ông đọc trong những dịp ngồi chơi với chúng tôi bên cạnh cái bếp. Ve vẻ vè ve – nghe vè nói ngược – con chim làm tổ dưới nước – con cá lội ngược trên cây – thằng chết ve trâu đi cày – thằng sống thì vày xuống lỗ…Hai câu chuyện cọp tôi nghe được từ ông vào năm lên bảy lên tám đã khiến tôi ngẫm nghĩ rất nhiều mỗi khi nhớ lại vào tuổi xế chiều. Chuyện thứ nhất kể về cuộc hành trình bi thảm của một người ngậm ngải tìm trầm lâu ngày hóa cọp trở thành hiểm họa cho dân làng. Chuyện thứ hai về một con cọp rằn hung ác là hiểm họa, là thần chết của dân những làng cận sơn trong một khoảng thời gian rất dài. Người ta tìm đủ mọi phương cách để trừ diệt nó mà không thể nào làm được. Sau mỗi lần bắt và ăn thịt một nạn nhân, nó đưa tay bấu vào tai tạo thành một vết sẹo. Một vết sẹo, hai vết sẹo, ba vết sẹo…cứ thế, vào một thời điểm nào đó con cọp rằn đếm được trên hai tai mình 101 vết sẹo. Và như thế nó đã bắt và ăn thịt hết 101 con người. Có cái gì đó khác lạ xuất hiện lần hồi trong tâm trí bé tí tẹo của nó.

Nó hồi tâm chuyển ý. Thay vì đi tìm mồi, nó quay đầu làm thần hộ mệnh cứu giúp những người đi rừng và dân làng vượt qua tai ương, hoạn nạn, thế cô sức yếu do thiên tai dịch bệnh và kẻ ác. Con cọp rằn biến đổi dần màu lông. Nhứng mảng rằn tạo nên bởi màu đen, màu vàng, màu đỏ màu xám trên thân nó lần hồi chuyển sang màu trắng. Những chiếc răng nanh bám dính máu thịt người cũng dần biến mất. Trước mặt dân làng nay chỉ còn một ông Cọp có bộ lông màu trắng và khuôn mặt hiền từ thân thiện. Đến tuổi già, rụi, ông Cọp trắng được dân làng thương tiếc, chôn cất tử tế trên một khu đất rộng rãi khang trang. Người ta đắp tượng, lập miếu thờ tỏ lòng biết ơn tôn kính.

Hết bậc tiểu học tôi vào Đồng Khánh, Vu Vơ đã chuyển đến ở một nơi khác tôi tìm không ra. Tôi không còn có dịp ngồi bên cái bếp nhà cô để nghe cha cô hát, đọc những câu hò, những bài vè và kể những câu chuyện dân gian mà sau này qua trải nghiệm cuộc sống tôi mới nhận ra rằng nhờ có nó mà tâm hồn tôi sung túc dày dặn thêm.

Trong một thời gian rất dài – gần 50 năm – nhiều lúc nhớ nghĩ về người bạn có cái tên rất lạ: Vu Vơ, nhớ nghĩ về những món quà đơn sơ mộc mạc và những tình cảm chân thật mà cha của Vu Vơ dành cho bạn của con gái mình, tôi tự hỏi: Bây giờ họ ở đâu, họ nghĩ gì, làm gì trong những ngày tháng dài trở về bên căn lều bé tí và cái bếp tạm bợ đó.

Cách đây một năm, tôi có được những thông tin tóm lược nhưng chính xác về Vu Vơ. Sau khi rời trường Thế Dạ cô học trung học Bồ Đề rồi trường Bán Công. Mậu Thân cha cô chết, cô không lên núi mà vào Sài Gòn học tiếp trung học Trưng Vương theo sự sắp xếp và bảo bọc của một người “dì” nào đó. Cô thi đậu tú tài, vào làm công cho một hãng dược tư nhân. Hãng dược bị cải tạo, cô trở thành cán bộ công nhân viên. Lấy chồng, được cấp cho một căn hộ nhỏ, có con gái, hiện đã nghỉ hưu, chăm sóc cháu ngoại và cái bếp lát gạch men, nấu bằng lò ga. Tôi gọi điện thoại, biết thêm về đời sống của cá nhân và gia đình cô đang ổn định. Tôi hỏi bạn có nhớ bài vè Nói ngược mà cha cô đã đọc nhiều lần bên cái bếp trong căn chòi ngày xưa ở Vỹ Dạ hay không? Bên kia đường dây điện thoại, tôi nghe tiếng cô thở dài.


Cái bếp của gia đình cha mẹ tôi.


Khu vườn nhà của cha mẹ tôi khá lớn. Vườn rộng gần ba sào tây có hàng rào bao bọc. Bến nước và mấy cây sung, cây cừa, cây mưng cổ thụ, bụi tre um tùm ở mặt sông. Hai bờ cây gai được trồng làm hàng rào ngăn cách đường xóm nhỏ một bên, và khu vườn tranh nơi có cái bếp của ông bà thợ rèn một bên. Phía mặt đường là bờ rào chè tàu và cửa ngõ. Trong vườn trồng nhiều loại cây: hoa lá cây cảnh ở quanh sân trước, một bên nhà chính là cây ăn trái, rau dưa bầu bí và cả khoai sắn ở những vị trí xa hơn. Tất cả làm bối cảnh cho khu nhà và góp phần làm chất liệu cho bếp lửa.

Cái bếp nhà cha mẹ tôi là một phần của căn nhà phụ nằm sát cạnh ngôi nhà chính. Phần còn lại là phòng ăn. Hai phần ngăn cách nhau bởi một phòng nhỏ dùng làm kho bếp và thông với nhau bằng một lối đi.

Nhà chính, nhà phụ và vật dụng nội thất đều là của hương hỏa do ông bà nội tôi để lại và ngày một hao mòn cũ kỹ. Nỗ lực của ba mẹ tôi là làm chậm đà xuống cấp do thời gian và những biến động bên ngoài. Chúng tôi đông anh em, công việc làm ăn của ba mẹ tôi bấp bênh do không có nghề nghiệp chuyên môn bền vững và cũng do những biến cố chính trị xã hội nên cuộc sống gia đình lên xuống thất thường. Học hành, may mặc cho chúng tôi, ốm đau cho cả nhà, giao tiếp, kỵ chạp và cưu mang con cháu phía này phía nọ, nhiều lúc làm ba mẹ tôi và cả chúng tôi điêu đứng.

Cái bếp nhà tôi đỏ lửa nhiều ít, nóng ấm, nguội lạnh thế nào phụ thuộc vào sự thăng trầm của gia thế. Có thể nói cái bếp vào thời buổi ấy là hàn thử biểu kinh tế của mỗi nhà.

Cái bếp là một phần của căn nhà phụ đó có tường gạch mái lợp ngói. Bệ bếp nằm sát vách tường hông sau của nhà phụ cao chừng 6 tấc, mặt bằng khoảng 1,6 x 0,8 mét, xây bằng gạch, trên đặt hai bếp lửa, mỗi bếp ba ông táo bằng đất nung. Phía sau mặt bếp đắp một cái tợ cao hơn sàn bếp 1 tấc, rộng 1,2 tấc, chạy dài từ bên này qua bên kia dùng làm bàn thờ. Trên tợ thờ ở chính giữa đặt một cấu hình ba ông táo dính nhau, lớn bằng ba trái chuối. Phía trước ba ông táo thờ là bát nhang, hai bên bát nhang là bình cắm hoa và một quả bồng. Cạnh đấy là một cây đèn dầu bằng chai lúc nào cũng liu riu một đốm đỏ.

Khoảng trống dưới bục dùng để chứa củi. Phía trên là một cái giàn kết cấu bằng khung gỗ song tre rất chắc chắn dùng để gác và treo nhiều thứ nào là lá mùng năm phơi khô đựng trong các bao đệm để dành nấu nước uống, mấy trái bí đỏ, bí đao có ghi vôi đầu cuống, mấy cái thúng nhỏ đựng nấm mèo khô, đậu phụng khô. Hai bên treo mấy cái gióng mây nhỏ với mấy cái nồi đất đựng cá mắm kho khô ăn còn lại. Mấy trái bắp, trái ớt giống cũng được treo móc ở đây.

Cạnh bệ bếp phía phải cách một khoảng nhỏ là tủ ăn bằng gỗ, có kích thước chừng 1,6m x 1,2m x 0,5m. Bốn chân tủ đặt trên bốn cục gạch nhỏ, bốn cục gạch nhỏ này được đặt giữa bốn chậu sành chứa nước, mặt nước luôn thấp hơn viên gạch nhỏ để kiến không vào được trong tủ và giữ cho chân tủ khỏi bị mục.

Tủ ăn chia làm ba tầng, mỗi tầng cao 0,5m. Tầng dưới không có cửa chỉ có song gỗ hai bên dùng để nồi niêu soong chảo. Hai tầng trên kín, chỉ có một cửa lưới ở giữa cho mỗi tầng. Tầng giữa để thức ăn đã nấu chín hoặc thực phẩm nước như nước nắm, dầu mỡ… Tầng trên đựng thức ăn khô các loại. Hình thức là thế nhưng nội dung thì thay đổi thất thường, có khi tủ đầy thức ăn, cũng có khi tủ trống cả hai tầng. Giữa bệ bếp và tủ ăn là cái chạng chén dĩa dùng thường ngày. Sát tường bên phải gần tủ ăn là mấy cái lu, thùng sắt tây đựng gạo, đậu, bắp, khoai sắn khô.

Phía trái bệ bếp là những lu, những vại chứa mắm, ruốc, rau dưa các loại. Từ phía này một cửa thông trổ ra khu vực có mái che, nơi đây có hai bể nước, một bể chứa nước sông để rửa, một bể chứa nước mưa để uống và nấu thức ăn. (Từ năm 1960, nước mưa được thay bằng nước máy, nước máy thuê người gánh từ vòi nước công cộng ở phía bên kia Đập Đá, mãi đến sau 1975 khu vực Vỹ Dạ mới có đường ống nước máy vào mỗi nhà). Cạnh cửa ra vào này kê một cái bàn vuông bằng gỗ mỗi bề chừng 1,2m dùng làm bàn soạn để chuẩn bị các thứ trước khi kho nấu, bên dưới để hai cái cối đá một lớn, một nhỏ và mấy cái chày. Phía bên bàn soạn là một cái giá để treo móc các loại dao kéo và các dụng cụ làm bếp khác. Chung quanh các vách tường, tại những vị trí thích hợp cho những nhu cầu hằng ngày hay lâu dài rất nhiều rổ, rá, thúng mủng, nia sề được treo móc. Kho bếp chưa các thứ mâm, xanh, nồi (nồi bảy nồi năm, nồi ba), chậu, thau bằng đồng, lu, hũ, vại sành và rất nhiều dĩa, chén, đọi, vịm bằng sứ.


Cô gái Quảng và cái bếp Huế.


Mẹ tôi tên gọi ở nhà (ngoại) là Hữu, thứ bảy nên còn gọi là cô Bảy Hữu. Tên khai sinh là Huỳnh thị Kim Cương. Bảy Hữu hay Kim Cương là một tình tự, một khát vọng mà chỉ có ông bà ngoại và các cậu mới cảm nhận được sâu sắc và đầy đủ. Tôi xin kể lại những gì đã nghe:

Ông bà ngoại tôi sinh một mạch một, hai, ba... người con trai mà sau này chúng tôi gọi là cậu. Đến khi bà ngoại tôi mang bầu lần thứ tư thì cả hai ông bà đều cầu Trời khấn Phật xin một mụn con gái. Nhưng rồi cậu Tư tôi ra đời. Lần bà ngoại mang bầu thứ năm, thứ sáu lời khấn cầu của ông bà ngoại tôi càng khẩn thiết hơn trước bàn thờ tổ tiên và tại các chùa miếu ở Hội An. Mang bầu lần thứ bảy, theo lời người mách bảo, ông bà ngoại tôi khăn gói và phẩm vật ra cầu khấn tại chùa Thiên Mụ Huế. Để Phật Trời biết được lòng người mà ban ơn phúc, ông bà ngoại tôi tắm gội ăn chay nằm đất suốt cả tuần, dâng cúng những lễ vật trọng quí, khấn hứa ăn ngay ở thật và thực hiện những điều nhân đức tốt lành. Quả là trời Phật đã động lòng thương, bà ngoại tôi sinh ra mẹ tôi. Ông bà đặt tên cúng cơm cho mẹ tôi là Hữu. Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô – là tâm thức cũ. Bây giờ ông bà ngoại tôi đặt tên cho mụn con gái duy nhất được Trời Phật ban cho là Hữu để bày tỏ sự đánh giá của mình. Nhất nữ viết hữu, chứ không phải thập nữ viết vô. Sự cưng quí còn được nâng lên khi ông bà ngoại tôi đặt tên khai sinh cho mẹ tôi là Kim Cương. Kim Cương quí hơn bất cứ vàng bạc châu báu nào. Và tất nhiên trong gia đình bên ngoại tôi tất cả các cậu đều đối xử với mẹ tôi một mực thương yêu quí trọng. Là một gia đình thành đạt trong nghề thương mãi tại Hội An, nhưng ông bà ngoại không để cho mẹ tôi tập tành buôn bán hay lo toan bếp núc. Với sự đồng tình và tạo điều kiện của các cậu, mẹ tôi đi về phía trường học và đời sống tân thời. Chưa xong chương trình tiểu học nhưng mẹ tôi nói được tiếng Tây, đọc được tiểu thuyết Pháp, tiểu thuyết quốc ngữ, đặc biệt thuộc rất nhiều thơ nôm của Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tản Đà và cả một vài đoạn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn thị Điểm. Mười bảy tuổi, cái viên kim cương tân thời của phố Hội ra làm dâu xứ Huế và cái bếp trở thành nơi thử thách suốt cả cuộc đời làm dâu, làm vợ và làm mẹ của bà. Để trở thành nội tướng của một gia đình, nhất thiết mẹ tôi phải làm chủ cái bếp. Để làm chủ cái bếp Huế, việc đầu tiên mẹ tôi phải làm một cách thành thục các món ăn kiểu Huế. Chỉ với mục tiêu này đối với mẹ tôi hoàn toàn chưa phải là một thử thách lớn, bởi bà có những thuận lợi: Thứ nhất bà không phải làm dâu với một bà mẹ chồng (bà nội tôi mất sớm) và những “bà cô nhọn mồm” (các cô tôi đi lấy chồng và ở xa). Thứ hai ông nội tôi là người dễ dãi vừa là bạn thân của gia đình bên ngoại tôi nên hoàn toàn không khắc nghiệt đối với cô con dâu duy nhất (ba tôi là con trai còn lại duy nhất của ông) mà ông xem như là con gái. Thứ ba, ba tôi là người tân tiến, tuổi tác chẳng lớn hơn vợ bao nhiêu (ba tôi lớn hơn mẹ tôi hai tuổi), ít nhiễm tính gia trưởng, đối xử với vợ nhẹ nhàng và có phần bình đẳng. Một thuận lợi cũng rất quan trọng đối với mẹ tôi mấy năm đầu ra Huế là kinh tế gia đình nội tôi còn khấm khá, còn thuê được người giúp việc. Với nhiều thuận lợi như thế, mẹ tôi tập tành bếp núc theo một chương trình bài bản: Bà đi học nấu nướng với hai cô giáo gia chánh nổi tiếng không chỉ trong phạm vi thôn Vỹ Dạ: Cô Hoàng thị Kim Cúc và cô Huyền tôn nữ Thu Vân (cô Thu Vân ở phủ Tuy Lý). Với cô Hoàng thị Kim Cúc mẹ tôi học chế biến các món ăn thông thường hàng ngày và cách sắp đặt gia đình theo mẫu mực Huế từ trung lưu trở xuống. Với cô Huyền tôn nữ Thu Vân mẹ tôi học cách chế biến các món ăn cao cấp và cách bày biện cùng phép tắc, phong cách giao tiếp trong những bữa tiệc của các gia đình thuộc tầng lớp trên.

Điều kiện kinh tế còn dễ dãi, cái bếp ít người tham dự, lại đầy đủ các loại thực phẩm, gia vị và phương tiện để thực hiện, cộng thêm một chút chữ nghĩa và rất nhiều quyết tâm của học trò và sự tận tình của các cô giáo, mẹ tôi đã nhanh chóng học được kỹ năng, nghệ thuật và đức tính của người phụ nữ đảm đang, sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu ẩm thực hàng ngày theo kiểu Huế của ông nội tôi, của ba tôi, cáng đáng các buổi tiệc tùng, cúng kỵ của một gia đình nề nếp, và đặc biệt trở thành một nội tướng đích thực khi gia đình tôi liên tiếp lâm vào những cơn nguy biến: Ông nội tôi bệnh kéo dài và qua đời, gia đình trở nên khánh kiệt, cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp đã thu hút ba tôi về phía đó hai năm. Khi trở về thì bệnh tật và không chịu cộng tác với chính phủ Quốc gia để kiếm kế sinh nhai… Hiệp định Genève với tình trạng Bắc - Nam chia lìa, chế độ Ngô Đình Diệm chống Cộng, Cần lao công giáo, độc tài tham nhũng, ba tôi bệnh tật qua đời, phong trào Phật giáo và sự chuyển đổi từ nền Đệ nhất Cộng hòa qua nền Đệ nhị Cộng hòa, Mỹ đổ quân, chiến tranh lan rộng trên cả hai miền đất nước, biến cố tết Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa 1972, Hiệp định Paris với kết quả là sự rút lui của Mỹ, sự sụp đổ của Việt nam Cộng hòa, chiến thắng quân sự của miền Bắc (1975) dẫn đến cuộc cách mạng Xã hội chủ nghĩa trên cả nước đã từng bước tác động một cách quyết định đến cái bếp của gia đình chúng tôi.

Trong từng thời đoạn khác nhau, để giữ lửa cho cái bếp của gia đình mình, mẹ tôi, viên kim cương của gia đình ngoại tôi phải lăn lưng ra chợ.

Từ một cái bếp đỏ lửa ngày ba bữa, sung túc, ồn ào trong những ngày Tết, giỗ, kỵ chạp… đến cái bếp trống rỗng, lửa tắt tro tàn sau khi mẹ tôi qua đời. Chúng tôi – mười anh chị em, kẻ mất người còn, kẻ Quốc gia người Cộng sản, kẻ cắn răng ở lại, kẻ bất chấp mọi thứ lưu lạc tha phương – mỗi một chúng tôi đều đã có cái bếp riêng với những dụng cụ, trang thiết bị sáng loáng, hiện đại, từ bếp lò, nồi soong, chén dĩa, cái dao, cái kéo, nước tẩy rửa, giẻ lau đến cả những thực phẩm ôi thối có xuất xứ từ Nhật Bản, Đại Hàn, Thái Lan, Đài Loan, Pháp, Mỹ, Trung Quốc… Chúng tôi có cảm nhận riêng khi nghĩ về Mẹ và cái bếp mà bà đã giữ lửa suốt cả cuộc đời. Nhưng đồng thời chúng tôi đều có một cảm nhận chung là sự sụp đổ tinh thần không cứu chữa được khi nhìn lại chính mình. Chúng tôi đích thực là những con vật tiêu thụ của thời đại mới, thời đại mà đảng Cộng sản toàn trị một mặt cam tâm làm công cụ cho bọn bành trướng Trung Quốc, một mặt cấu kết với các thế lực tư bản gọi là “đầu tư nước ngoài” rúc rỉa hủy hoại đất nước và nô lệ cả một dân tộc sau cuộc hành trình đẫm máu kéo dài hằng trăm năm vì các mục tiêu độc lập - tự do - thống nhất và hạnh phúc cho người cùng khổ.


Nguyễn thị Kim Thoa


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss