Bạn đang ở: Trang chủ / Sáng tác / Đèn dầu

Đèn dầu


Đèn dầu


Lê Minh Hà



Tranh Đỗ Phấn


Sinh nhật, tuổi nẫu rồi, ông anh thi sĩ nhắn „không chúc thêm tuổi đâu“, còn ông anh họa sĩ thì gửi riêng cho qua FB ảnh của một bức tranh vẽ một lọ hoa hướng dương, không lộng lẫy một cách khác thường. Phải vì nhìn qua ảnh? Hay vì bên cạnh lại có bao diêm với một ngọn đèn dầu toả một vầng sáng lặng lẽ khiêm nhường? Cảm giác như ngọn đèn dầu đó soi riêng tuổi với tính người. Hẳn ông anh biết quá rõ cô em (lúc này thì phải nhận) chưa già đã cũ. Như là bao diêm với ngọn đèn dầu kia giữa những hân hoan rộn rã của bao nhiêu thứ ánh sáng phanh trần phố xá bây giờ.

Bây giờ, giả dụ như tạm thời mất điện, người ta có bao nhiêu nguồn sáng khác thay thế? Đơn giản nhất là bật cái đèn ở Smartphone, chọc cái chìa mở khóa xe, phóng vụt qua chỗ tưng bừng khác, nhậu cùng số nhiều hay vào nhà nghỉ với số ít. Mà giả dụ tạm bị cắt điện hẳn đôi ba ngày, thì thiếu gì nhà có cái máy phát điện riêng như ở cái nhà hoành tráng ông anh họ mình xây tại quê để tuổi hiu hiu về di thân dưỡng tính. Mấy ai còn nhớ cái đèn dầu, đám trẻ trẻ thì lại càng không thể biết. Hay là không muốn biết?

Thế mà không có cái đèn ấy thì lúc đi học mình đã chẳng thể nào hiểu được những sâu xa đằng sau câu ca dao „trăng khoe trăng tỏ hơn đèn cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây đèn khoe đèn tỏ hơn trăng đèn ra trước gió…“ Rất có thể cái đèn ở câu ca dao này chỉ là đĩa đèn dầu trẩu dầu lạc từ những mụ mị xa xôi lắm lắm của các cụ ta, nhưng mà lúc mình mới biết ê a, thì cái đèn dầu kia ra trước gió cũng dễ còn chăng hỡi đèn lắm. Vì bao quanh ngọn lửa chỉ hơn ánh sáng đom đóm một tí là cái thông phong thủy tinh bé xíu, chất lượng kém, toàn bọt khí và nhiều khi cũng chẳng trắng trong gì. Có một thời, sống chậm thì thấy cũng chưa xa xôi gì đâu, cái đèn đó không thể thiếu ở bất cứ gia đình nào dù đông dù vắng, ở phố cũng như ở làng. Ngay cả vào lúc bếp núc của người Hà Nội còn chưa có cái bếp dầu thì cái đèn dầu đã ngự trong ngày sống. Trẻ con sáu bảy tuổi vừa đi sơ tán về ngoài sự phải bắt đầu lo xếp hàng từ cửa hàng lương thực thực phẩm tới vòi nước công cộng còn phải lo đảm bảo giữ gìn cái đèn dầu, để cần là có dùng ngay. Nên không phải là điều lạ lùng gì cảnh ban trưa một thằng cu mặc cái quần đùi lòi cả chim ra ngoài ngồi loay hoay cắt bấc đèn, hay một con bé tóc tai lòa xoà lúi húi dùng tro đánh muội đèn ở thông phong và khêu muội ở chân đèn cho sạch. Thay bấc mới và đổ dầu vào bầu đèn cũng có khi phải làm, nếu nhà thiếu ông thiếu bà làm hộ. Mải chơi, lúc nhập nhoạng mất điện sờ tới cái đèn mà phao cạn, muội bám đen thông phong, bấc không đủ dài, phần tàn còn chưa cắt thì may ra được cái cốc sưng trán, không may còn nghe mắng mỏ dài dài. Cái đèn đó đặt vào mâm cơm, đặt trên bàn học, đặt ngoài bể nước công cộng cho tất cả soi chung, dập dình bậc cầu thang gái tiễn giai về bước một.

Ở thành phố thì việc dùng đèn dầu là chuyện chẳng đặng đừng những lúc mất điện. Nhưng mà kiếm phao dầu đổ bầu đèn cũng không khó khăn gì. Song ở nông thôn đèn dầu đêm đêm một thuở, việc trữ lấy chai dầu thắp là chuyện của nhà nhà. Nhà mình là nguồn cung cấp dầu cho cả xóm. Chiều chạng vạng hay có người tất tả xách cái chai gọi là chai bảy nhăm vào ngõ, dắng tiếng mua dầu. Bà lọ mọ vào buồng xách cái can nhỏ nhỏ ra chiết cho người ta, chẳng biết một cái chai đựng chưa được một lít thế thì rót được vào mấy cái đèn và thắp được bao lâu, nhưng có nhiều khi người mua chẳng đủ tiền cho cả một chai, vậy là kèo nèo thôi bác chiết cho em một phao thắp tạm. Sống dầu đèn chết kèn trống. Cái đèn lom dom hạt đỗ, thế mà làm nồng ấm cả đại gia đình. Trời tối sẩm rồi vẫn chưa được thắp đèn, phải chờ tối mịt. Cái đèn đặt bên mâm chõng giữa sân rơm rạ tươi tỏa hơi hầm hập những chiêm mùa, cái đèn theo chân người vào buồng xuống bếp khi cần tìm kiếm thứ gì, cái đèn đặt bậu cửa sổ cho cả nhà xúm vào tẽ ngô bóc lạc, đêm về khuya thì giục nhau nhặt đôi guốc đẽo từ gộc tre ra chỗ giại nước rửa chân rồi lần lượt lên giường ba xoa hai đập lại. Ưỡn lưng đứng dậy, đèn lại hắt cái bóng thù lù lên vách, trông rất dọa người. Người cuối cùng lên giường có nhiệm vụ thổi tắt đèn tiết kiệm dầu, nhưng cũng có nhà thì vặn đèn nhỏ đến không thể nào nhỏ hơn được nữa, chỉ còn là một đốm đỏ mơ hồ. Đèn ấy mà ra giữa gió!

Ngọn đèn chẳng thể nào gọi là sáng ấy đã soi cho bao nhiêu thế hệ học trò nước Việt những trang sách nuôi khát vọng làm người. Thuở đi sơ tán, ba bốn đứa trẻ chung nhau một ngọn đèn dầu, đêm đêm chúi đầu chổng mông trên phản trước đèn, thỉnh thoảng lại giật mình vì bà bảo gạt bấcđi kìa, kìa vặn nhỏ xuống không thì đèn khói quá. Vặn được đèn sáng hết khả năng của nó mà không bị khói, không bị quá nhỏ mà tắt là cả một nghệ thuật tinh tế tôi học được từ bà. Ấy nhưng cái lúc có tin Mỹ tăng cường oanh tạc thì nghệ thuật soi đèn kiểu gì cũng lụi. Ông Lúa hàng xóm chặt ngay một khúc tre, thông nòng, đục lỗ rồi chụp cả ngọn đèn vào trong, hể hả: „ Bà dặn bọn trẻ, nghe tiếng máy bay thì xoay cái ống tre che lấy ngọn đèn, khỏi phải tắt đi châm lại.“ Vẫn tư thế chúi đầu chổng mông bên ngọn đèn cũ, nhưng ánh sáng chỉ còn có mỗi cái cửa nhỉnh hơn bao diêm để tỏa, thế mà năm sáu đứa trẻ ngày đó đêm đêm phục vị trên phản học bài rồi cũng thành nhân. Có nhân lại còn là đại biểu cho dân. Ấy là ông anh họ tôi, cạy miệng cả ngày không ra tiếng mà lại sang Đức học luật. Đến tận giờ vẫn không hiểu ông anh miệng hến nói gì trong những kì họp quốc hội luôn luôn có sự đồng tâm nhất trí.

Ngày trở lại phố, tưởng vĩnh viễn chia tay được với đèn dầu, đêm đêm mẹ đèo đi chơi phố cứ thích nghiêng người sau lưng mẹ nhìn những ngọn đèn đường phía trước. Cảm giác như đèn đường tự xâu thành dải như dải hạt thủy tinh to từng viên lấp lánh sát nhau, nhưng đến gần thì lại thấy chia xa, mỗi bóng tỏa một vầng sáng yếu yếu, tội nghiệp. Tội nghiệp thật, vì có những năm tháng đêm Hà Nội tối mò, lang thang ngoài đường cho qua một ngày rất trẻ phải trông cậy hết cả vào những ngọn đèn dầu hắt hiu trên phố, trong một ngôi nhà cửa hé, bên cái bàn gỗ tạp của hàng chè chén hay hàng thuốc lá, trước cái chậu móp méo để vá chín của ông chữa xe đạp. Những ngọn đèn buộc phải ra trước gió, lắt lay mãi trong trí của những người trời bắt nhớ cả những cái chưa qua.



Đèn dầu Hà Nội thời sơ tán (ảnh Internet)

Ánh sáng của những ngọn đèn dầu cũng như âm thanh một thời, không mấy khi có cộng hưởng phản quang mà lại thành ra vang và sáng mãi, trong trí nhớ chẳng chịu suy tàn của một typ người. Đêm vào khuya mà nhìn qua vườn chuối ngày sơ tán thấy đốm đỏ đèn dầu di động hiu hắt đường đê là biết thế nào cũng có nhà ai đấy vừa xảy chuyện. Bà già tự dưng lên cơn đau bụng cấp? Thiếu phụ chồng ngoài mặt trần chuyển dạ? Hay đứa trẻ nhà cuối xóm sốt giật? Sáng ra xuống bến là biết ngay phải đến đâu hỏi thăm chia sẻ với nhà ai. Người ở phố về quê chạy đạn bom, ở mãi cũng quen với đêm làng, tới lúc trở ra phố rồi về lại mà không có cái đèn dầu chỉ lối là có chuyện. Mẹ con mình ngày về thăm nơi đêm nằm năm ở mò mẫm mãi mới rút chân khỏi được những sột sệt loằng ngoằng dây rợ, sáng ra mới biết sa chân xuống cái ao cạn toàn những là ngổ dại. Ấy chỉ vì thiếu độc một cái đèn dầu ở khoảng đường đó, xóm vắng, đêm hôm. Không có ánh sáng thật thà của những ngọn đèn dầu, không thể hiểu được bóng tối nhà quê một thời âm u đặc thế nào nặng thế nào, nuốt chửng lấy bao nhiêu là tiếng vọng rời rã của đời trong thương nhớ hoang mang lòng những kẻ đã già thực rồi mà nhiều khi thấy mình vẫn là một đứa trẻ không muốn lớn.

Ở thành phố, lúc ngừng chiến người già con trẻ đã được trở về, cái đèn dầu leo heo đốm sáng là lời mời gọi những đêm cắt điện. Đàn bà ngồi túm tụm đan móc gia công, mỗi người một cái rổ lồng phồng len trong lòng cả những mùa nóng nực. Trẻ con xong bài vở dụi đầu vào nhau cho chấy di cư để dán bao bì, góp với bố mẹ dăm ba đồng thêm vào cuối tháng. Ngày cuối năm gió bấc rào rạt nơi máy nước, một đám con gái ngồi rửa lá dong, chuyện vui đúng là như tết dù chưa tết. Với mình, ánh sáng đèn dầu đã bao nhiêu lần dẫn gần tới cửa thiên đường. Là những trang sách. Tuổi mười bảy hai mươi ngô nghê mê người trong sách hơn mê bao kẻ bảo rằng muốn đi bên đời nhau. Có lần ngồi gù lưng đọc gần ngàn trang từ bảy giờ tối hôm trước tới lúc trời sáng bạch, từ Tu viện thành Parme qua bà Bovary, từ Đêm Lisabon sang Một thời để yêu và một thời để chết, sách in kế hoạch ba và sách sống sót sau những cuộc phần thư từ miền Nam ra. Chỉ vì ông bạn cho mượn đã dặn đi dặn lại là ngày mai phải trả để còn trả người nào chẳng biết. Soi vào gương như chưa qua cơn mê khi thấy mặt con gái bạc phếch ngơ ngơ ngác ngác, tóc trước trán thì cụt, xoăn tít, còn mũi thì tưởng vẫn còn mùi khét tóc cháy thình lình. Câu thơ thời chiến hăm hở „Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt“ của Chính Hữu thế quái nào mà hợp thế trong ngày hòa bình xơ xác của một thời tan tác những yêu tin.

Và vì thế, mẹ mất mất rồi, tuổi con gái chỉ còn biết nhớ những nồng ấm ngày bé bỏng bên bà nơi sơ tán, nơi có những sâm sẩm tối bám lưng bà cầm đèn dầu đi soi đếm gà, kéo tấm giại che cửa bếp ngăn mèo già nhà láng giềng lục lọi, rồi nửa khuya nghe bà lẩm bẩm „thần đăng đi ngủ tín chủ tắt đèn kẻ trộm mon men thì thần đăng sẽ…“ như một hiệu lệnh: „Ngủ!“ mà bầy cháu không bao giờ kịp nghe hết đã nhắm mắt khò sùy cả lượt rồi.

Có một lần, bà không đọc câu ấy làm đứa cháu thao thức mãi. Đêm ấy cháu theo bà đi ngược lên đầu cầu tới nhà bà Vực ở xóm trên. Bà Vực nhà bị quy sai thành phần là địa chủ, đến lúc được hạ xuống phú nông thì ông Vực đã xanh cỏ mất rồi. Ông Vực chết đi để lại được độc một đứa con trai nối dõi mà chú ấy lại không chịu ở nhà để lấy vợ sinh con nối dõi tiếp, xin bằng được ra lính, vào Nam. Lâu rồi chú chẳng có thư về, làng xóm cả ngày hôm đó râm ran sự bạn chú mới chuyển ra trại thương binh ngoài Vác vừa vào thăm nhà kể chuyện… Lúc hai bà cháu dắng tiếng ngoài cổng, cô Luyến con gái bà Vực cắp cái rổ sảo lủi thủi đi ra:
- Bác vào với u cháu. Bạn cậu nó về thăm kể vậy nhưng cũng chưa rõ ra thế nào. Cháu đã bảo u cháu cứ phải bình tĩnh mà u cháu ngồi thần ra cả ngày rồi. Cháu tức sữa quá rồi phải về cho thằng bé bú.

Đến tận giờ vẫn không sao quên được bóng tối trong ngôi nhà ấy. Phập phồng. Dập dình. Ngọn đèn dầu vặn nhỏ như hạt đỗ mông lung trên bàn thờ. Cả hai bà cháu mình, cả bà Vực mà cô Luyến bảo ngồi trong nhà, ngồi cả ngày rồi, … không một ai có bóng.

Berlin 30.08. 2016

Lê Minh Hà

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss