Bạn đang ở: Trang chủ / Sáng tác / Ký (vô tích) sự vòng Bờ Hồ

Ký (vô tích) sự vòng Bờ Hồ



Ký (vô tích) sự
vòng Bờ Hồ


Nam Dao


Ký về những người thật chuyện thật buộc người viết phải hoán đổi
thời gian, không gian, hình dạng, tung tích... nhưng giữ nội dung
những chuyện nhặt được trên những bước cuối một thời thổ tả.


Nam Dao



Bạn cười, về kỳ này thế nào?

Đáp: cực thoải mái.

Trước ánh mắt bạn có thoáng ngỡ ngàng, tôi đành giải thích: tôi thoải mái vì tôi bất lực.

Bạn ái ngại: có đi khám bệnh để tìm nguyên nhân sinh tâm lý không? Tôi đáp: không, không cần... Chợt hiểu là bạn hiểu lầm, tôi tiếp, giọng chắc nịch: cái đấy chưa đến nỗi không gượng dậy được.

Bạn vỗ vai, giọng lên một tông, thế thì tốt....Rồi lại ân cần xuống một tông, vậy bất lực là làm sao?

Tôi ngắn gọn: chỉ vì tôi nay vô tích sự.

Bạn nhìn, trừng trừng, mắt ánh câu chưa hỏi. Tôi chậm rãi: vô tích sự như khi còn thơ đi nhặt lá bàng quên phải về nhà thổi cơm cho mẹ, lúc về già thì nhặt chuyện tìm lá diêu bông, thứ lá nay ai cũng biết dẫu lá không có thật.

Lá diêu bông? bạn ngạc nhiên.

"Vâng, lá Hoàng Cầm. Lúc này xế bóng còn nghe: đứa nào tìm được lá diêu bông, từ nay tao gọi là chồng. Ba ngày sau..."


Những vòng BHồ

Xe ca Hàng không Việt Nam bon bon trên xa lộ dẫn vào Hà Nội, hai bên đường lố nhố những tấm biển quảng cáo. Xa xa, thấp thoáng hàng loạt buyn-đinh ngất ngưởng chọc trời. Sông Hồng mùa này cạn nước. Từ cầu nhìn xuống, sông phơi lòng mầu dụ, nhoài ra ôm bờ lỏng chỏng bùn đất quánh khô. Quá trưa, xe về đến trụ sở phố Quang Trung. Vẫy taxi, tôi về Khách Sạn Bảo Khánh, nơi tôi từng ở cách đây sáu năm. Tôi nhận phòng rồi ra đường, chống lại cơn buồn ngủ lệch mười hai múi giờ. Rẽ trái, dăm bước là ngõ Bảo Khánh. Đầu ngõ, vẫn cái quán ăn sập xệ nhưng chật ních thực khách. Trước mặt, vẫn cửa hàng bán băng đĩa. Bên cạnh, một Khách Sạn mới. Đi vài bước, cà phê Nhân ngày trước hình như mới sang sửa mặt tiền. Hà Nội của tôi dẫu đỏm đáng hơn nhưng vẫn còn những mốc cũ. Yên lòng, tôi quay về phòng. Và lăn quay ra ngủ, dẫu biết đêm với tôi là ngày ở đây.

Ngày của tôi bắt đầu khi mọi người ở Thủ Đô này đã yên giấc. Thời gian lộn ngược. Lên sân thượng Khách Sạn, tôi nhìn xuống hồ Hoàn Kiếm. Tháp hồ gươm ẩn hiện trong màn sương hư thật, vẽ ra mê lực của những đường vạch chưa định hình. Mê lực hút. Rồi đẩy, kéo, rồi giằng co, khó cưỡng được. Tôi ra đường khi phố còn ẩn trong bóng đêm. Lại nhớ nhà thơ trên phố Lãn Ông. Ông đã khuất bóng. Tôi chẳng men Hàng Đào đến tìm như trong những buổi sáng tinh mơ rủ ông đi vòng bờ hồ hí thở không khí chưa sặc mùi xăng. Như nhiều thị dân đất ngàn năm văn vật. Thời đó không hiểu thế nào mà đa số đi ngược chiều kim đồng hồ. Đàn bà cũng như đàn ông, họ bước đều đặn, tiếng chân dẫm lá thu xạc xào trên mặt đất những năm thuở bờ hồ chưa còn chưa lót gạch. Tôi thì đi theo chiều kim đồng hồ. Nhà thơ hỏi: sao lại đi ngược chiều mọi người thế? Đáp cho có, tôi bảo, thấy mặt người hơn thấy lưng, có phải diễn binh đâu mà hàng hàng lớp lớp cắm đầu xung phong. Ông cười, vui miệng bảo, có đi ngược chiều kim đồng hồ thì thời gian mới "về phía" chúng ta. Tôi đùa, không sợ quay về thời đồ đá à. Chúng tôi bước, bóng tối thi thoảng ánh lên mầu vàng vọt từ dăm cột điện ẩn trong những lùm cây trên những con phố quanh hồ. Nhìn những người bước về phía tôi, tôi hoảng sợ. Mắt họ tối sầm, đen kịt, cứ như là không có mắt. Đầu họ, theo nhịp bước, lên xuống, máy móc.

Nhưng đó là chuyện ngày xưa, thời bao cấp. Nay, với nền kinh tế thị trường có định hướng, đường ven hồ đã lát gạch, lót đá, đèn điện cao thế tỏa sáng. Gần góc Lê Thái Tổ - Tràng Thi, nơi phòng vệ sinh công cộng xưa khiến ai nấy phải bịt mũi khi đi qua nay đã thành những toa-lét bằng plát-tích mầu xanh và trắng, chưa hẳn thơm tho nhưng không còn thối um, trên tường kẻ chữ Xanh - Sạch - Đẹp rất hoành tráng. Người đi bộ lục tục bước. Vẫn một chiều, chiều ngược kim đồng hồ. Nhưng không còn như trước, bây giờ ai nấy mang giày Adidas, Nike...làm tại Trung Quốc, mặc áo thun quần xoóc (chắc cũng Trung Quốc?). Nhớ nhà thơ, tôi đi, vẫn chiều kim đồng hồ, lòng thầm nhủ cố làm sao bắt kịp bước chân thời đại. Và tôi lại nhìn mặt những người đang chập chùng bước tới. Tôi tin nay tôi nhìn thấy mắt họ, và hẳn sẽ chẳng còn cái cảm giác kinh hoàng ngày xưa.

Nhưng tôi nhầm. Tôi sợ gấp năm bẩy lần. Mắt họ mở, nhưng không ai nhìn ai. Họ lạnh tanh, mặt khi cúi khi ngửng, u uẩn, vô cảm. Hình như có một cái gì đó nén họ xuống, tách họ ra khỏi đám người đồng hành. Hình như có cái gì đó khiến ai nấy co rút lại để thành một loài động vật cô đơn. Hình như họ nay là một tập hợp những cá thể rời rã, đang đánh mất ngay cả bản năng cộng đồng của con ong cái kiến... Ôi, người đất ngàn năm văn vật đâu rồi? Hà Nội gốc trề môi, bây giờ đa phần toàn người ngụ cư đến từ nhà quê. Những người nhà quê này nói, bây giờ chúng tôi mới là người Hà Lội. Phản ứng thô thiển của tôi là mỉm cười chào họ, không phân biệt đối xử, bằng cách khẽ gật đầu với tất cả. Nhưng chẳng ai nhìn tôi. Chẳng ai chào lại. Cứ thế, tôi đi một vòng hồ, rồi hai. Đến vòng thứ ba, có một người khẽ gật đầu chào tôi. Ông ta cao lêu nghêu, và tóc vàng, chẳng hiểu người xứ nào. Đến vòng thứ tư, hai người đàn bà ục ịch cười với tôi. Họ nói bonjour, chắc đều là người Pháp.


Liên kết trong, hội nhập ngoài

Buồn bã, tôi cầm lòng, cố tìm ra lý lẽ biện minh cho những cái nhìn vô cảm của những con người đất ngàn năm văn vật này. Đi thêm một vòng hồ, tôi lờ mờ linh cảm rằng sáng còn quá sớm, người người chưa hẳn đã tỉnh ngủ, đầu óc còn mê mê mụ mụ. Thêm một vòng, sáng rõ rồi. Bên nhà bưu điện trên phố Đinh Tiên Hoàng, tiếng loa đọc tin hàng ngày bắt đầu cất tiếng. Lại Ủy Ban Nhân Dân thông báo này nọ, Quốc hội họp bàn luật này nọ... Xe Honda rú rít lồng quanh hồ lúc một ầm ĩ. Và cạnh đền Ngọc Sơn, văng vẳng tiếng nhạc. Sáp gần, tôi nghe thấy tiếng accordeon chơi bài cumparsita theo điệu tango. A, phép lạ đây rồi. Một đám độ gần hai chục người dựng xe cạnh những gốc cây đang ôm nhau nhẩy đầm. Tôi rút máy ảnh ra, rón rén bước lại. Đàn ông có, nhưng đa phần là đàn bà. Một vị râu cánh kiến, crà-vạt vét-tông, nghiêng người mời một nữ lưu tuổi khoảng nửa thế kỷ xuân xanh. Họ dập dìu, điệu nghệ, phong cách lịch sự. Cạnh họ là hai bà, tay trong tay, uyển chuyển bước theo tiếng xập xình. Tôi giơ máy ảnh lên. Một bà cười cười, bảo tôi cứ sáu giờ sáng là chúng em ra đây thể dục múa đôi với nhau cho khoẻ, chụp làm gì... Rồi họ tiếp tục chuyện trò về giá vàng, giá đô, và nên đổi tiền đồng ra sao trong cái thời buổi kinh tế lạm phát đến chóng mặt. " Em thì cứ vàng, đô cũng là giấy thôi. Cứ vàng là chắc, chị ạ. ". Bà kia bàn " Nhưng giá vàng xuống cả tháng nay rồi...Còn đô, hôm qua là hai mươi ngàn hai trăm mười nếu đổi tiền chẵn, nghe nói sẽ còn lên nếu như đồng Ơ-rô xuống! ". Một ông đang nhẩy bên cạnh trõ sang " Bây giờ bọn Ý cũng bắt đầu khủng hoảng nợ công rồi, Ơ-rô nhất định là mất giá. Nhưng tôi có tiền, tôi đổ vào đất. Bất động sản là thắng, lâu dài người đông đất chật! ". Bà đề nghị mua vàng ban nẫy cao giọng " Giá nhà đứng rồi ông ạ. Bây giờ có dở hơi mà mua bất động sản. Tôi nghe có những cái nhà bán mà có đến ba sổ đỏ, kiện nhau bốn năm vẫn chưa giải quyết, cứ tiền phong bì cho các sở này sở kia thì rồi vỡ nợ cả đám... ". Nhạc chuyển qua điệu chachacha. Ông râu cánh kiến đếm nhịp một hai, ba bốn năm. Ông nói " ai chưa biết thì vào góc kia, tôi chỉ cho mấy bước, nhẩy còn dễ hơn tango. Nào..."

Phải nói tôi hân hoan. Sau hân hoan, đến hồ hởi. Vì xã hội ta còn riềng móng đấy chứ. Ít nhất, sự đồng thuận trong khâu thể dục múa đôi, dẫu qua tango hay chachacha, thì vẫn thể hiện một liên kết cộng đồng khó phủ nhận được. Sự liên kết này là điều kiện cần (dẫu chưa đủ) cho xã hội chúng ta hội nhập vào thế giới trong quá trình đúp-vê-tê-u nhằm toàn cầu hóa trái đất vô tư này.

Vô tư đi mà. Chớ dại nghĩ ngợi làm gì khi... bất lực.

Tôi cười, giơ tay chào rồi lẳng lặng men bờ hồ đi về đền Ngọc Sơn, lẩm nhẩm, dân tộc Việt Nam là một, dẫu nhẩy điệu gì thì cũng vậy.


Làm Luật theo lề

Và chẳng đâu xa, tôi nghe lén một cuộc thảo luận tay đôi rất sôi nổi về vấn đề lập pháp. Nói ngay, tôi không đề cập chuyện tam quyền phân lập mà những thế lực thù địch rêu rao kiểu diễn biến hòa bình gây dị ứng. Tôi sẽ cống hiến cụ thể điều tai nghe mắt thấy. Vâng, tôi thấy hai cụ tập thể dục giữa hai cái cây cành lá xum xuê. Để khỏi chạm vào cành, một cụ giơ tay ngang thì cụ kia buộc phải giơ tay thẳng lên trời. Cụ giơ thẳng nói:

" Cụ nghe phong phanh chuyện Quốc Hội bàn sẽ ra Luật Nhà Văn chứ?"

Cụ giơ ngang đáp:

" Dĩ nhiên, chuyện quan trọng thế ai mà chẳng nghe...Tôi cho là nước ta ngày càng cần luật, cụ ạ. Luật có, là đảm bảo tính bền vững, chứ Nghị Quyết thì tính thời cơ tạm bợ nhiều "

Cụ giơ thẳng chép miệng:

" Vâng, cứ thời cơ mà thay đổi xoành xoạch như bao nhiêu năm qua thì làm sao ổn định! "

Cụ giơ ngang ngắt:

" Ổn định? Mới đây có cuốn sách Trung Ương cho phép in nhưng Thành Phố Hồ Chí Minh lại ra lệnh thu hồi "

" Cuốn sách gì mà tựa như là "nhìn từ lưng chừng xuống đám đông" ấy, có phải không cụ? "

Cụ kia thì thào:

" Đúng đấy, sở Thông Tin - Truyền Thông ở địa phương cho là chuyện dâm ô... "

Cụ giơ thẳng chép miệng:

" Bây giờ Trung Ương một đàng, địa phương một nẻo, chẳng còn thể thống gì. Thời giặc cào cào đây, cụ ạ "

Cụ giơ ngang chậm rãi:

" Còn lực lượng thứ ba ...Họ là những nhóm lợi ích đấy, kinh tế thị trường mà. Cấm là tha hồ bán sách, dạng quảng cáo miễn phí. Vì thế tôi cho là Luật Nhà Văn cần. Dân biểu mình ở Quốc Hội nay có trình độ ra phết! "

Cụ giơ thẳng buông tay xuống, xoay người, giọng cao lên:

" Nhưng nó là cái Luật gì...Chẳng nhẽ lại như báo chí, phân biệt lề phải lề trái, rồi cứ nhè đầu ông Tổng Biên tập báo mà ghè? Văn thì ghè người chịu trách nhiệm xuất bản, thế là xong thôi ư..."

"Nhưng thế nào là lề trái trong Văn? ", cụ giơ ngang hỏi.

" Là lề phản biện lề phải, đơn giản như thế! ", cụ giơ thẳng hỉ hả, rồi gằn giọng " tôi thì cho rằng cứ lề trái là cấm viết, in là bắt, bắt là giam... Còn cứ lý với lẽ, chỉ gây rối lòng dân..."

Cụ hùng hồn, tay chém ngang, tiếp :

"Hoặc là ta cấm đọc. Cái lệ cấm này ta dùng quen rồi, một giải pháp gọn, nhanh, và quyết liệt. Không người đọc, bọn lề trái viết thì để làm gì! "

Cụ giơ ngang chưa kịp bỏ tay xuống thì cụ giơ thẳng đã giơ ngang, tay đụng tay, mắt nhìn mắt, hai cái miệng móm mém cùng kêu " Ơ hay, nhịp nhàng phối hợp nào... ". Hai cụ cùng giơ tay thẳng lên trời, nhưng rồi cùng giơ tay ngang. Lại tay đụng tay, cụ mảnh khảnh hơn lảo đảo rồi ngồi xệp xuống ven hồ, một chân đong đưa trên mặt nước xanh rêu. Cụ thở hổn hển, nói một mình:

"... già mất rồi, tí là lọt xuống hồ... Thôi, chẳng bàn chuyện nước chuyện non nữa! "


Biểu tình?

Định đến xốc cụ vừa ngã lên thì tôi nghe tiếng chân chạy thình thịch trên đường quanh hồ. Hôm nay chủ nhật. Tôi liên tưởng đến những cuộc biểu tình "tự phát" phản đối đường lưỡi bò trên biển Đông, đến những công dân chăng khẩu hiệu giữ đất giữ biển thay cho Đảng và Nhà Nước, và nhất là đến Đại úy Minh, người sử dụng giầy rất điệu nghệ qua những cú đạp thần kinh quỉ khốc vào mặt một người dám yêu nước mà chưa có phép. Nhưng không. Nhìn, dăm nhân viên quần áo mầu vàng xỉn, đầu mũ bảo hành xanh xám đang đuổi bắt một cái bóng cắm đầu chạy về phía đền Ngọc Sơn. Tiếng còi huýt lên toe toé. Đầu bên kia đền, những bóng áo vàng xuất hiện tạo thế gọng kìm. Hết hơi, và hết chỗ thoát thân, người chạy đành ngồi bệt xuống, tay ôm lấy đầu. Đó là một thằng bé chừng 13, 14 tuổi. Kẻ rượt bắt ào đến. Đó là đội canh hồ, bắt những kẻ câu cá trộm. Thằng bé chỉ có một cuộn giây câu, và một cái cành cây dài chừng một mét làm cần. Một vị, có lẽ là người chỉ huy đội dân phố, chìa tang vật vào mặt nó, quát " Đ. mẹ mày, còn chối nữa không. Lần này ông bỏ tù mày! ". Một vị khác giơ một túi plát tích trong suốt, lỏng bỏng nước, trong có dăm con cá, con to cũng chỉ bằng hai, ba đốt ngón tay. Ông quát " mày đánh cắp tài sản của XHCN nhé...". Một bà qua đường thốt, "...cá bé thế, ăn uống gì được ". Một ông qua đường, " Không ăn thì xuống bến Chương Dương bán cho bọn câu cá sông làm mồi ". Chợt có tiếng ồ lên: " Cụ Rùa, cụ nổi lên đây này. Chắc cụ đói! ". Một tiếng khác tru tréo " Nhìn xem chân cụ còn ghẻ không? Hay là bệnh viện 108 nó cắt béng chân cụ rồi! ". Chen nhau như đi trẩy hội Ngàn năm Thăng Long, người người ào ra ven hồ. Chụp thời cơ, thằng bé bị bắt chui qua rừng chân người cắm đầu chạy về phía phố Hàng Đậu. Ông chỉ huy dân phố hò : " Anh em, không cho nó thoát, bắt lấy nó! ". Xe ô tô, xe honda... vẫn ào ào vù vù hàng hàng lớp lớp lướt trên đường quanh hồ. Người người nghe tiếng phanh rít lên như nghiến răng. Bấy giờ, người người lại quay ngoắt 180 độ, thôi xem cái chân ghẻ của cụ Rùa, tràn lên hè, mắt ngóng về phía thằng bé vừa băng qua đường.

Lát sau, tiếng hụ xe cứu thương vẳng lại, cấp bách, đe dọa. Nhưng đây chỉ là một tai nạn giao thông, một trong hàng trăm tai nạn của một ngày thường trong Thành Phố hiện quá tải người, quá tải xe, quá tải bụi và tiếng động. Tuy Chủ Nhật đấy, nhưng không có biểu tình. Trừ cái tai nạn này, Thủ đô ta vẫn yên ả. Cụ Rùa lặn xuống, để lại khuấy nước chẳng đủ sức vẽ một vòng tròn.


Vô tích sự, một cách hành xử

Bỏ lại đàng sau tiếng người nhốn nháo, tôi lững thững vào đền Ngọc Sơn. Có lẽ "tối ưu" là thắp một thẻ hương và cầu Thánh Thần phù hộ cho đám người trần mắt thịt, kể cả thằng bé vừa băng qua đường, đâm đầu chạy bạt mạng vì tội đánh cắp tài sản của nhân dân. Chạy như thằng bé kia là... từ chết đến bị thương. Người Hà Nội dạy, trước những đàn xe máy, ô tô như lũ cung quăng ào tới một vũng nước đục, kẻ bộ hành phải lững thững đi với tốc độ không đổi. Tốc độ này đủ chậm để xe tránh người, chứ người chớ mà tránh xe, dễ rách việc. Tây balô hiểu. Các ông bà đầm du lịch cũng hiểu. Nay, có kẻ trong bọn du khách dám thuê xe máy chạy vòng vòng, ai bảo Hà Nội ta không có cung cách giao thông hiện đại nào.

Tôi mua một thẻ hương, leo lên cái động ngay ngoài đền, cắm và khấn vái. Lạy chư thánh, làm sao phù hộ cho thằng bé tai qua nạn khỏi, cá hồ có cái ăn chóng lớn, và chân cụ Rùa lành lặn để còn bơi đến mạn thuyền dâng kiếm cho người giữ gìn đất tổ quê cha. Leo xuống, mắt rưng rưng, tôi nhìn về phía cầu Thê Húc. Lá vàng, trời trong, lòng tôi vẩn vơ một nỗi không tên gọi (đoạn này tôi bị ảnh hưởng văn Thanh Tịnh thời tiền chiến). Nỗi vẩn vơ chẳng rõ là vui, chẳng rõ là buồn, nhưng lênh đênh nhẹ như tơ đầu gió một mùa thu xa xôi thuở nào (chỗ này tai tôi văng vẳng tiếng hát một mùa thu năm xưa cách mạng tiến ra). Cửa đền còn khóa trái. Tôi lấy máy ảnh, chụp lấy dáng cong cong thành cầu. Hai cụ già nắm tay nhau đang đi liền ngừng bước. Tôi bấm máy, vui vẻ:

" Hai cụ cứ đi tới tự nhiên, cháu bấm thêm cái nữa nhé... "

Một cụ đáp, miệng móm mém:

" Già rồi, xấu xí, chụp hỏng máy đấy "

Tôi cười:

" Hai cụ cứ nắm tay nhau như ban nãy, nhìn tình cảm lắm "

Cụ kia, mắt đeo kính lão, hỏi :

" Ông nhìn tóc dài dài, chắc là người làm văn hóa phỏng? "

" Dạ cháu vô tích sự, tìm hình ảnh xem có thể nhặt chuyện viết một cái Ký vô tích sự chứ có văn hóa văn hiếc ghê gớm gì đâu! "

Cụ móm mém hóm hỉnh:

" Ông bỏ quá, nhưng thế nào là vô tích sự nhỉ? "

Chưa biết trả lời thế nào thì cụ kia đỡ ngay:

" Tiếng mình nôm na là vô công dồi nghề đấy mà "

Mừng húm, tôi vồ ngay :

" Vâng thưa hai cụ, cháu đúng là vô công dồi nghề thôi..."

Cụ đeo kính chậm rãi:

" Ấy, vô công dồi nghề chỉ công chỉ việc, nhưng vô tích sự thì rộng hơn thế...Nó còn chỉ cách hành xử thế nào trong đời nữa cơ..."

Chưa biết đối đáp làm sao thì cụ nhìn tôi, giọng khoan hòa:

" Tôi cho rằng sống vô tích sự là sống không hại ai, và mình làm gì thì cũng nhắm để người khác thoải mái, vui lòng, ông ạ...Sống được như thế, tuyệt vời đấy..."

Cụ kia cười khà khà, tung hứng:

" mà lắm khi cũng phải giả giả một tí, chứ chẳng cứ mãi thật được..."

Tôi chen lời:

" Thưa hai cụ, cháu nghe nói xã hội ta thật giả lẫn lộn, nói kiểu miền Nam thành đồng là nói zậy mà không phải zậy , chẳng ai tin ai, ngôn ngữ thành cái bẫy đánh sập những kẻ nhẹ dạ cả tin. Thế nên phải giả giả một tí là thế nào? "

Cụ đeo kính vỗ vai tôi, nhẹ nhàng:

" Vâng, đúng như ông nói, thời này nó thổ tả thế, nhưng lấy cái thí dụ này, đơn giản thôi. Tôi với ông đây bầu bạn hơn năm mươi năm, biết rõ gia cảnh nhau từ thời đánh Pháp, chống Mỹ. Hôm trước có việc tôi đến chơi đúng lúc các cháu ông ấy đang dọn cơm trưa, và mời tôi. Tôi đáp ông ăn mất rồi, và vỗ bụng hỉ hả, kêu no lắm nhưng tình thật là chưa có hột cơm nào... Mấy đứa cháu cười tí toét, xin phép rồi chén, chẳng đứa nào phải sớt phần để cho ông cụ không mời mà đến... Đấy, giả như thế chẳng hại ai mà lại làm người khác vui lòng, vô tích sự vậy là dở hay là hay? "

Tôi chưa kịp đáp, cụ móm mém lảng:

" Ông bạn tôi thích lý sự lắm, ông nghe cho vui chứ ông mà phản biện thì mất cả buổi đấy..."

Cụ đeo kính hì hì:

" Sau cơm trưa, tôi sẽ làm một việc vô cùng vô tích sự...", cụ vỗ vai cụ kia, hể hả, " Tôi đi hỏi vợ bên Hà Đông cho ông bạn tôi đây mới chỉ gần tám mươi cái xuân xanh, ông ạ! "

Tuyệt vời, tôi bật miệng kêu rồi hí hửng xin được đi theo. Ông cụ đeo kính đùa " Vâng, nếu như chú rể đây không phản đối! ". Tôi khẩn khoản thưa với hai cụ rằng tôi đằng nào cũng phải đi sang Hà Đông và mời hai cụ cùng tôi đi taxi.

Cụ đeo kính vui vẻ:

" Nhất rồi, chẳng lẽ đi hỏi vợ mà lại đi xe buýt...Tôi nhất trí, nhưng chúng tôi chỉ góp tiền hai cái vé buýt thôi đấy! "

Nghe tôi kêu " Không không, đây là quà cưới của cháu ", ông cụ đi hỏi vợ cười tít mắt. Thế là chúng tôi, những người vô tích sự, hò hẹn nhau vào hai giờ trưa, góc phố Nhà Chung và Quang Trung, nơi có một cái công viên loại bỏ túi.


Thiện và Ác

A ha, lại chuyện này. Lẽ ra, những kẻ vô tích sự không nên luận bàn kiểu Tử viết, nhân chi sơ... vân vân. Nhưng đặng chẳng đừng, vì cái vị ngồi bàn bên trong quán Càphê Nhân nói như quát: " trong đời làm gì có Thiện có Ác...". Nhìn sang, vị đó đang giảng giải cho một đám fan, đầu xanh lẫn đầu bạc, đang ngửng mặt chiêm ngưỡng diễn giả co chân theo thế ngồi xổm trên ghế, tay vung lên nhịp mức độ thuyết phục. Cô bé bưng bê chân khá dài cười mỉm. Tôi ghé tai, hỏi nhỏ. Cô đáp, khách quen đấy, họa sĩ nổi tiếng của ta. Từ thuở hết bao cấp, giai cấp họa sĩ ăn nên làm ra, rủng rỉnh hơn đám nhà văn nhà thơ nhiều. Họa sĩ chìa bàn tay ra, tiếp " Tôi bảo thật, cái gọi là Thiện chỉ là mặt kia của cái Ác, nguẩy tay như thế này thì cái này thành cái nọ, như đùa... Nhưng muốn đùa thế, phải có sức. Sức là quyền lực, và muốn có quyền lực thì còn cần nổi, nhất là nổi tiếng. Có tiếng, ắt có tiền, thế là chung quanh chúng bu vào đợi phát chẩn các loại... Có tiếng, ông là nhà văn ông có quyền phong tay này viết hay, tay kia làm thơ lục bát giỏi. Như ngày xưa vua chúa ban vương tước cho chư hầu... rồi chư hầu xúm vào xưng tụng vua, thế là tiếng tạo thêm tiếng. Cũng như tiền làm ra tiền, nước chẩy chỗ trũng là qui luật. Phải làm đúng qui luật, các ông ạ! ". Một người đặt ly cà phê đá xuống, xuýt xoa, đúng thế... rồi buột mồm " C’est bien dit, très bien ". Chắc ông ta là Việt kiều Pháp, dáng bệ vệ, mắt lim dim, tay gõ cho tàn thuốc lá rơi xuống đất. Ông ta nắm tay ông họa sĩ, chậm rãi " Phê-đê-rích Niết đã nói thế trong Par-delà le Bien et le Mal rồi. Nhưng phải tìm ra qui luật như anh thì chưa! ". Ông họa sĩ hồ hởi " Đông phương chúng ta sâu hơn, cái ta tìm là bản chất chứ không chỉ nhắm vào hiện tượng ". " Hay là, ông họa sĩ vỗ vỗ vai ông Việt kiều... hay là anh dịch cái quyển đó đi, tôi giới thiệu nhà xuất bản. Anh dịch cái tít thế nào ? " Ông Việt Kiều trầm ngâm " xin tạm dịch là Ở bên Thiện và Ác ". Ông họa sĩ tru miệng " Ở trên, thế mới đúng ý mình! Cái thằng Niết nào đó nó có tên trong danh sách được đề nghị giải Nobel không anh. Nước mình có dăm ba người có tên đấy, suýt được cả..." rồi cười ha hả một cách khiêm tốn.


Tham

Tôi cũng tham nhưng không tham nổi tiếng. Tôi chỉ tham ăn, và còn đòi ăn ngon nữa cơ. Tham ăn ngon, cũng có lúc phát sân, phát si. Nhưng sân si kiểu bị ăn dở thì giải quyết nhanh gọn bằng cách ăn món khác, chọn nhà hàng khác, cùng lắm thì ăn chay cũng được. Tham nổi tiếng, gay hơn. Thiếu người tán tụng đâm cô đơn, và trong cái nỗi cô đơn ấy dễ mắc những cơn vô minh. Thậm chí, có khi nghiệp nặng đến độ đẩy vô minh đến mép bờ vô lại. Sợ, sợ thật...

Nghĩ đến đây tôi chợt thấy đói. Ly cà phê đen làm quặn ruột, và độ sôi trong dạ dày ồng ộc nhịp bài Bác đang cùng chúng cháu hành quân. Rời cà phê Nhân, tôi đi ra hàng phở Lý Quốc Sư. Nay hàng phở chỉn chu hơn, và tôi hùng dũng gọi một tô chín nạm. Ăn, húp, và chao ôi, bát phở xưa đâu rồi? Bây giờ, nước thếch thác, bánh bùng bục và thịt hình như là giấy bồi có ướp nước mắm. Dằn bực bội xuống, tôi ăn hai thìa, gắp một gắp bánh, không nuốt nổi đành phải nhổ ra rồi đứng dậy trả tiền. Lại thêm một ngạc nhiên, mỗi tô năm mươi ngàn. Cách đây sáu năm, chỉ mười lăm, hai mươi ngàn, mà là phở ngon. Nay, giá tăng nhưng không ăn được!

Gần đây, tôi chợt nhớ, còn phở Thìn trên Đinh Tiên Hoàng. Men Hàng Gai, tôi vòng nhà hàng Hàm Cá Mập rồi băng cái ngã ba (tư?) Hàng Đậu. Chao ôi, xe đủ loại lúc nhúc vừa thúc còi vừa nhả khói như một đàn lăng quăng chúi đầu đâm vào một khe nước đục. Cắn răng (nhưng không dám nhắm mắt), tôi băng khe nước, với một tốc độ không nhanh không chậm, đủ để những con lăng quăng có thời gian tránh tôi. Và, đây phở Thìn. Đầu cái ngõ, vẫn bà bán nước chè, như xưa. Vẫn bàn bọc nhôm, vẫn những chiếc ghế dài, vẫn lọ đựng đũa, đựng thìa. Vẫn nồi nước dùng to hai người ôm, khói bốc mờ mờ, và bà bán hàng vẫn dùng con dao to bản đập thịt sống cho thịt bẹt ra mỏng như giấy. Ông chủ, chắc là con hay cháu chủ cũ, ra vào, chửi tục, tôi chẳng nhớ chủ cũ có chửi như thế không. Dưới đất, những mảnh giấy chùi miệng to bằng bàn tay vương vãi khắp nơi như nhộng sắp hóa bướm. Cạnh tôi, một phụ nữ lấy nón quạt quạt, hò " một đặc biệt đi! ". Tôi bắt chước, hò theo, tạo dáng khách sành ăn, tay với một mảnh giấy sạch lau thìa lau đũa. Hai đặc biệt nào. Cô bé phụ bếp hô theo, đập một quả trứng cho vào mỗi bát, rưới một thìa mỡ gầu trước khi bỏ hành tây, hành ta, rau mùi cắt sẵn. Nước dùng trong bát bốc khói bám vào mặt mũi. Tôi thò tay rút khăn lau mồ hôi rịn ra từ râu từ tóc, nghe bà bếp quát " bật quạt máy lên cho khách ". Nào, ta ăn. Và... dẫu có khá hơn phở Lý Quốc Sư, nhưng tôi không ăn nổi hết cả bát. Thiện và Ác, về mặt hiện tượng, khác với Ngon và Không Ngon thẩm thấu qua vị giác. Cái nguẩy tay của một con người không thể làm cho nước dùng đậm đà hơn, thịt mềm hơn, bánh phở dai hơn được. Tuy nhiên, hoan hô phở Thìn, bát phở đặc biệt thế mà chỉ ba lăm ngàn, rẻ hơn phở Lý Quốc Sư thuở còn nổi tiếng! A, mong manh làm sao cái thứ tiếng tăm hàng phở một thời vang bóng. Tôi bước ra ngoài, thân nhẹ nhàng nhưng bụng vẫn cứ... lưng lưng. Hà Nội băm sáu phố phường ngày xưa của Thạch Lam đâu rồi ?


Tình già

Đợi đâu hai mươi phút thì hai cụ xuất hiện. Cụ đeo kính thắt cà-la-vát, còn cụ móm mém nay đã lắp hàm răng giả, cười trắng bóng, tay ôm một bó hoa cuộn trong báo Nhân Dân, nhìn trẻ hẳn ra. Thanh âm không phều phào như ban sáng, cụ ngập ngừng : " Xin lỗi nhé, phiền ông phải đợi ! ". Tôi ngạc nhiên vì từ ngày về Thủ Đô, tôi chẳng còn nghe được hai từ xin lỗi, hai từ đã biến mất tăm trong nền văn hoá Hà Nội hiện đại. Cụ tiếp, giọng có chút bực dọc:

" ...cái cô hàng hoa tìm mãi mà không có được một bông hồng, miệng lại cứ leo lẻo đòi thay bằng hoa huệ... Ông bạn tôi đây kêu ầm lên là người ta đi hỏi vợ mà lại đòi bán hoa cho đám ma... Đúng là vô tích sự! "

Tôi không giữ ý được, ôm bụng, phì cười. Cụ đeo kính tay vẫy taxi, miệng giục, nhanh kẻo trễ giờ tốt, cưới hỏi phải giờ Mùi giờ Thân, qua giờ Tuất thì chuyện gì cũng ủng oẳng như chó trốn bọn cẩu tặc chuyên bắt trộm để cung cấp cho những nhà hàng đặc sản miệt Gia Lâm.

Trên taxi, nhìn ra, con đường dẫn tới Hà Đông nay chẳng còn gì như trước, hai bên nhà cửa vút lên như vần thắng một bài thơ xưa khiến thế giới duy vật hoành tráng vụt cao theo một trong không gian ba chiều trong đó trục hoành và trục tung bị độ tăng dân số đang bóp teo tóp. Cụ đeo kính thì thào: " Cái nhân duyên này là tình già đấy " Nghe tình già, tôi lẩm bẩm thơ ông già họ Phan bẳn tính, hai mươi bốn năm sau, nghe âm vang xót xa:

Nếu chẳng quen lung, đố nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi.
Liếc đưa nhau đi rồi!
con mắt còn có đuôi

Không nhịn được, tôi hỏi cụ đi hỏi vợ. Cụ chép chép miệng:

" À, cái chuyện xưa ấy mà... Tôi biết "nhà nó" cách đây sáu mươi năm rồi, thời phát động Cải Cách Ruộng Đất đợt 1 cơ. Thuở đó, ông cụ đẻ tôi bị nống từ trung nông lên địa chủ. Mấy sào ruộng, nhà cửa, bàn ghế nồi niêu... mất ráo. Cha tôi bị bắt, chẳng biết đội Cải Cách giam ở đâu. Bu tôi mất sớm, tôi có bà chị cả và còn hai đứa em. Đói chẳng có gì ăn, ra đường gào ối đội ơi là đội, thế này thì chết mất. Bọn rễ chuỗi xô vào đấm đá, bảo kêu đói là chúng bay nói xấu chế độ, toa rập với thù nghịch chống chính sách. Đói đến ngày thứ ba thì thằng Đội trưởng đội dân quân mang một rổ sắn tới nhà, đổi lại thì chị tôi phải để cho nó muốn làm gì thì làm. Đêm ấy, tôi nghe chị tôi gọi, bu ơi, sao bu bỏ con thế này... Nhưng có rổ sắn, lại chẳng có cái nồi, nấu làm sao. Nửa đêm, con bé hàng xóm len lén bò sang. Biết chuyện, nó về cắp cái nồi mang cho mượn, thế là chị em nhà tôi thoát chết đói...Con bé ấy chính là "nhà nó" bây giờ! "

Cụ đeo kính giục:

" Thôi, kể nhanh lên, cứ rề rà mãi, xe sắp tới rồi..."

Cụ kia lại chép miệng:

" Chị tôi bảo, mày trốn đi... Tôi nghe, đi lên miệt Tây Bắc, xung vào đoàn dân công để có cái mà ăn. Đánh nhau chết như rạ, cần bộ đội cho chiến dịch Điện Biên nên tôi xin vào là được ngay. Đấy, cụ vỗ vai cụ đeo kính, ở đấy tôi gặp lại ông đây, người làng bên... Sau chiến thắng giặc Pháp, tôi về làng, sang thăm con bé năm nào cho mượn cái nồi. Chỉ chưa đầy bốn năm mà sao nó phổng pháp hẳn lên, ngậm ngùi bảo, em có chồng rồi. Lúc ấy tôi mới thấy mình buồn đến chết đi được. Thì ra tôi phải lòng nó mà nào tôi có biết. Trong cơn đau đớn, tôi lận lưỡi lê trong áo đi tìm thằng Đội dân quân hiếp chị tôi để trả thù. Chị tôi kêu, thằng cháu em năm nay ba tuổi là con nó đấy. Thế là tôi đành tha cho nó. Thằng khốn, nó quì xuống lậy tôi như tế sao, bảo tôi có đứa em gái, tôi cống hiến cho chú để tạ tội. Nghe cũng bùi tai, tôi liền lấy vợ. Ngày cưới, "nhà nó" quà cho một mảnh lụa, nhưng chẳng nói năng gì. Sau chồng đi B, "nhà nó" nghiêm chỉnh ba đảm đang, nên thỉnh thoảng thấy nhau mà phải làm ngơ. Chồng nó chết mất xác ở Vĩnh Linh thì..."

Cụ đeo kính sốt ruột: " Nhanh đi... thì tôi cũng chẳng dám hó hé, chứ gì! ".

Cụ kia chép miệng:

"...tất nhiên, bộ đội với nhau, có chi đi nữa thì cũng cứ nhịn, cho phải đạo. Lúc ấy, tôi cũng có thằng cả, lại vừa nhận giấy động viên... Lần này, đơn vị tôi đóng ở Tây Nguyên, vây Plei Me, cắt đường vào Ban Mê Thuột..."

" Nhanh nào, xe sắp đến nơi rồi. Thôi, bỏ giai đoạn Đại Thắng mùa Xuân nhé...".

" Vâng, xin ngắn gọn...Sau Giải Phóng, tôi về làng được một năm thì bà nhà tôi chết, chẳng biết bệnh tật thế nào, cứ co giật, bọt mép sùi ra. Thời gian trước đó, "nhà nó" đã đi thêm một bước, lại lấy bộ đội. Ba năm sau ông chồng bị điều lên biên giới chống quân bành trướng Trung Quốc, bị pháo nó đả, mất đứt bán thân, nằm viện mấy tháng rồi cũng qui tiên. "Nhà nó" lại góa. Cũng như tôi, nhưng dẫu hai bên cám cảnh nhau, "nhà nó" nghiêm túc, không cho quá đà đâu. Thằng cả nhà tôi đã vợ hai con. Còn "nhà nó" thì hai đời chồng, năm con, đứa bé nhất mới năm tuổi... Chúng tôi cứ ngày rằm gặp nhau trên chùa, bạo lắm thì tôi nắm tay khi vắng người..."

" Nhanh lên, xe nó vào con đường này là tới nơi đấy..."

" ...Với lại, đó là thời ngăn sông cấm chợ, ăn bo bo chấm muối thì có... muốn cũng chẳng lấy đâu ra sức... "Nhà nó" lại cứ khư khư đạo lý, bảo phải biết làm gương cho con cho cháu... Đúng là một thời chết dở! Bây giờ, thì chịu. Đạo lý nay không bắt giữ nhưng... già nên đặng chẳng đừng cũng giữ được. Đôi khi mình muốn bớt đạo lý tí ti để có ...tự do... thì lại khôn kham..."


Không có tuổi

Xe đỗ trước cửa một cái quán ăn, tên rất lạ, quán ăn Ngon Quá. Mở cửa xe, tôi theo chân hai cụ. Trước quán, một cụ bà tuổi khó lượng, vồn vã:

" Khiếp, chờ mãi...Hỏi vợ mà đến muộn thì người ta đi lấy người khác! ".

Bà phục phịch, mặt mũi đôn hậu, vẫn răng nhuộm đen truyền thống, cười tở mở. Chắc cụ đây không phải "nhà nó", bởi cụ đeo kính thân ái choàng tay lên vai, giọng rất chân tình:

" Đợi chú rể chứ không đợi người iu này à? "

Người iu? À, là người yêu nói trại cho nó đúng trào lưu trẻ hóa tiếng Việt. Ôi chao, thế hóa ra cụ đeo kính là nhân ngãi bà cụ này. Cụ khà khà, chỉ tôi:

" Cũng người nhà đàng trai! "

Quả đàng trai vắng người, chỉ hai người chúng tôi, thêm vào là thằng cháu, kết quả vụ hiếp dâm định mệnh vì rổ sắn. Gọi là thằng, nhưng thực ra nhân vật này cũng trên sáu mươi, đi cùng có mấy đứa cháu nội đều bốn mươi trở lên. Đàng gái chẳng hùng hậu hơn bao nhiêu. Cụ bà "nhà nó", tức cụ "con râu", năm con, hai dòng. Nhưng ở đám hỏi sao chỉ thấy độc một gia đình có ba cháu nhỏ được một bà sồn sồn trên dưới ngũ tuần hộ tống, leo lẻo gọi cụ "con râu" bằng bu (mở ngoặc, đáng lẽ phải là con dâu, nhưng d thành r trong một số địa phương, tôi cứ nghe sao nói vậy). Hỏi, mới biết bà này là con út cụ. Mấy đứa con khác khăng khăng chống chuyện cụ đi bước thứ ba. Bảo cụ già mà còn nổi nỡm, nhưng tình thật thì họ sợ cụ "chú rể" len vào ăn chia mảnh đất dưới quê cụ "con râu" vẫn còn giữ sổ đỏ, họ nhân danh văn hóa truyền thống đồng lòng tẩy chay đám hỏi, đám cưới này. Tập thể là thế... Thật may, trước cửa quán Ngon Quá không thấy có khiếu kiện đông người, và các vị công an xã mặc thường phục vẫn cưỡi Honda lượn lờ bảo vệ nhân dân ta.

Quán Ngon Quá khá đơn sơ, có khoảng chục bàn. Còn sớm nên ngoài chúng tôi không có thực khách nào. Bà chủ quán vốn có giao tình với cụ đeo kính nên dọn riêng bốn bàn, có phủ khăn trắng (nói chính xác, mầu cháo lòng), trên bàn có hoa plát-tích cắm trong những chiếc lọ sứ. Khi mọi người yên vị thì bà chủ quán hò lên. Cụ "con râu" lúc ấy mới lững thững bước ra, đầu vấn khăn, áo dài, quần lĩnh, tay che miệng cười ngượng nghịu. Cụ "chú rể" ôm hoa (nay đã bỏ lớp bọc bằng báo Nhân Dân) đứng lên, tiến tới, khẽ nghiêng mình trao bó hoa cho cụ "con râu", miệng nói gì chẳng một ai nghe được. Cụ đeo kính kêu, nói to lên... Thế là đám con cháu nhao nhao. Cụ "chú rể" cứ ngẩn tò te, chưa biết làm gì thì cụ đeo kính đến bên, giõng dạc :

" Hôm nay, tôi hân hạnh đại diện nhà trai, đứng ra chính thức hỏi bà Trần thị... về làm vợ cho bạn tôi, ông Nguyễn văn..., bộ đội phục viên sau hơn hai mươi năm tuổi quân, và bảy chín năm tuổi đời..."

Sau khi cụ đeo kính dứt lời, cụ chủ quán đon đả:

" Còn tôi thì đại diện nhà gái..."

Bà chưa nói xong cụ "con râu" khóc sụt sịt, cụ chú rể cuống lên ấp úng, lại chẳng ai hiểu cụ nói gì. Cụ đeo kính móc túi đưa cho cụ "chú rể", nói gọn "Đưa nhẫn cho bà ấy đi". Thế là cụ "con râu" chìa ngay tay ra, và cụ "chú rể" lóng ngóng đeo nhẫn cho "nhà nó", mắt cũng đỏ hoe, mũi khịt khịt. Hai họ ùa lên vỗ tay. Cô bé bưng bê cho quán ăn nhanh tay vặn nhạc tạo không khí. Bọn trẻ kêu, hip hop cho vui nhộn. Các cụ cũng đành chịu, nói chuyện phải ghé vào tai mà hét trong tiếng nhạc rú rít. Lát sau, bà chủ quán ra hiệu. Thức ăn đưa ra bày lên bàn, và dăm két bia SaiGon Tiger để dưới đất. Nhạc tắt, các cụ thở phào. Bà chủ quán đại diện nhà gái bảo mở bia. Cô bé bưng bê sẵn có nghiệp vụ học thời bia ôm thịnh hành mở kêu lốp bốp như pháo mừng. Bà chủ quán hò:

" Nào, chú rể cho dăm lời phát biểu đi..."

Cụ đeo kính vỗ tay. Cụ chú rể đứng lên, mắt nhìn cụ "cô râu", hắng giọng:

" Thưa ... (cụ ngập ngừng tìm danh xưng thế nào cho phù hợp)... tất cả những thân hữu ruột thịt có mặt trong cuộc vui hôm nay mừng cho chúng tôi (cụ lại nhìn cụ "con râu") xum họp sau ba cuộc chiến – một là đánh thực dân Pháp, hai là chống Đế quốc Mỹ và ba là đuổi bành trướng Trung Quốc – mà vẫn còn nguyên vẹn, không thương tật..."

Như một phản xạ vô điều kiện, cụ rề rà nói về những khó khăn gian khổ. Một thanh niên trên ba mươi chép chép miệng vì khát cắt lời cụ:

" Cụ ơi, hết giờ nghị quyết rồi... Thôi, vui duyên mới chớ quên nhiệm vụ! Cháu uống nhé..."

Đó là cậu con út của thằng cháu, kết quả của vụ hiếp dâm định mệnh vì rổ sắn thời Cải Cách Ruộng Đất. Cụ "con râu" bênh người iu quát nhỏ " Thằng hỗn nào, để người ta nói...", nhưng cụ "chú rể" không muốn mất vui liền nâng ly. Thế là mọi người đứng dậy. Cụ đeo kính bảo tôi:

" Anh phóng viên văn hóa cho vài pô ảnh nào! "

Tôi lôi cái máy Nikon gồ ghề đưa lên mắt, chụp lấy chụp để. Cụ đeo kính sang sảng :

" Bây giờ, vào nhé! "

Mọi người đồng thanh hò lên "Vào!". Phải nói đây là ảnh hưởng miền Nam hô Dzô lây lan đến miền Bắc; và nay ba miền đất nước đều hô với ngôn ngữ riêng để giữ khí thế của truyền thống nhậu nhẹt đã thành nếp. Phần riêng mình, tôi thích (đám trẻ viết thik) âm hưởng dzô, nghe hoành tráng hơn.

Tôi đến xin chụp ảnh cô râu chú rể để hai cụ giữ làm kỷ niệm. Cụ "cô râu" hỏi tôi là phóng viên báo nào? Chết chưa, chẳng lẽ tôi lại bảo là báo vô tích sự, nghe nào mấy ai tin. Mà nói là Việt kiều, e không mấy ai ưa, lại dễ rách chuyện diễn biến hoà bình này nọ. Nhớ xưa, ông bạn tôi mỗi lần có người hỏi thì đáp hộ ngay: " à, anh ấy làm trong viện văn học, môn ngữ văn... tiếng Pháp là chính ". Thế là tôi cứ bổn cũ soạn lại. Cụ "chú rể" cười:

" Thế mà tôi cứ lo là ông đưa hình ảnh lên mặt báo thì ngượng chết đi mất! "

Tôi long trọng hứa :

" Thưa hai cụ, chuyện tư riêng hai cụ cháu không có cái quyền ấy đâu "

Mong các bạn đọc cái Ký vô tích sự này tha cho tôi cái tội không trưng hình ảnh để minh chứng tôi không hề hư cấu gì. Cụ "cô râu" thì thào:

" Chúng tôi luống tuổi cả... Gần nhau lo được cho nhau tí gì thì lo thôi, nào phải chuyện tình ái gì như thời trẻ! "

Cụ "chú rể" phụ họa, giọng vui vui :

" Nẫy trên taxi ông bạn tôi chẳng gọi thế là tình già đó sao? "

Tôi buột miệng:

" Thưa tình thì làm sao già được..."

Rưng rưng nước mắt, tôi nhủ mình, tình không có tuổi. Vậy thì còn le lói chút hy vọng. Vào một nhân loại còn nợ tình, mãi mãi...


Thiền cười

Ở đất ngàn năm văn vật, muốn giết thời giờ, không dễ. Đi thăm lăng Chủ Tịch tất khúm na khúm núm, nhà sàn bác Hồ phải xếp hàng, rồi hai ba viện Bảo Tàng xơ xác cứ dán mắt đọc mới biết trưng bày cái gì, thì... chỉ một lần là ớn chè đậu (nói kiểu Sè Gòn). Thôi, lại ra Bờ Hồ. Khi đói, chớ vào Hàm Cá Mập đối diện Gà rán KFC ăn một tô bún giá 6 đô. Khát, chớ vào Thủy Tạ, bị nhân viên phục vụ theo cung cách trước thời đổi mới ngó nghiêng xách mé và phải trả năm mươi nghìn cho một cốc nước ngọt. Ăn một que kem, giá bình dân năm nghìn có, nhưng tránh kem Bốn Mùa trên phố Lê Thái Tổ, chém ngọt như lưỡi dao đao phủ mà không rao " sống không ghét nhau, chết chẳng thù nhau ". Có mỏi, lảng cho xa quán Hapro ven bờ nước, nơi chặt nhẹ cũng cỡ trăm ngàn.

Rửa mắt, ta có thể nhìn tủ kính những cửa hàng sang trọng trên Hàng Khay, Tràng Thi, Đinh Tiên Hoàng. Có đủ thứ cho loại ví tiền cồm cộm, từ đồng hồ Rolex đến túi da Gucci, bút máy Montblanc, nước hoa Channel mọi loại. Và có những nàng tiếp viên chân dài đến nách, váy cũn kĩn, mặt mày "make up" chẳng khác gì những hoa hậu đẳng cấp quốc tế, biết nói hellogood bye, bonjour au revoir với giọng nước ngoài rất chuẩn. Nhưng nếu bạn ăn mặc xuề xòa, tóc tai lởm chởm, đi Honda, không đeo kính dâm RayBan, và không vênh váo thì cẩn thận. Các nàng không nhìn bạn đâu, và nếu mon men vào thì các nàng đứng chặn lối, trỏ tay ra cửa và chỏng lỏn " Vào đây làm gì? ". Gần đó, một tay bảo vệ mặc đồng phục đứng nhổm lên, mặt hầm hầm. Cho nên, khi đọc khẩu hiệu mầu đỏ chữ vàng giăng cao trên trời, xây dựng xã hội giầu mạnh, công bằng, văn minh thì hiểu trước tiên là phải giầu, phải mạnh đã. Cái trật tự xã hội nó thế.

Thôi, như đã nói, lại ra bờ Hồ và chẳng biết duyên nợ thế nào tôi lại gặp ông cụ đeo kính dẫn bạn đi hỏi vợ. Cụ móm mém cười, hỏi (nhưng thừa), " anh phóng viên đi chơi ". Tôi đáp (cũng thừa), " dạ, cháu đi chơi " nhưng nhắc tôi nghiên cứu ngữ văn chứ không làm báo. Chúng tôi tha thẩn bên này đường, chỉ dám liếc nhìn từ xa những cửa hàng sáng loáng bên đường bên kia. Tôi hỏi:

" Cụ ơi, vườn hoa Mai Xuân Thưởng ở đâu?"

" Nhưng anh hỏi để làm gì chứ?..."

" Cháu muốn xem người ta đi khiếu kiện chuyện nhà đất..."

Ông cụ ngắt tôi:

" Ối giào, chuyện khiếu kiện đông người rách việc lắm. Bây giờ người ta đến Trụ Sở Quốc Hội trên phố Ngô Quyền cơ. Mà xem làm gì? Đầy bọn CSCĐ, chẳng phải đầu cũng phải tai..."

" Cháu nghe Ban Thanh Tra của nhà nước nói ba năm nay có 1 triệu 6 trăm ngàn lần tiếp dân, và hiện gần 7 trăm ngàn đơn khiếu kiện chưa giải quyết. Nhà nước mình có cấm kiện đâu! Và cái gì cụ nói là CSCĐ vậy? "

" Là Cảnh Sát Cơ Động, quần áo mầu đen, có mũ sắt, và súng ống... Thôi, đừng dại đến chỗ có vấn đề an ninh. Theo tôi, tôi đưa anh đi chỗ này, vui hơn "

Vừa đi ông cụ vừa nói:

" Cứ dưới ba, là không đông người. Như tôi với anh đi với nhau, ta chỉ hai người, rất đúng luật. Một người thì nhất, chẳng ai để ý, có cũng như không. Còn một nhóm ba người mà cách xa nhóm khác mười mét, không thể gọi thế là nhóm sáu người, cũng tuân thủ qui định, anh hiểu chứ?"

Tôi gật. Ông cụ tiếp:

" Mời anh đến Thiền trường. Chúng ta đi thiền!"

Tôi ngỡ ngàng, hỏi lại, nhưng ông cụ quả quyết:

" Thiền thật chứ chẳng chơi đâu. Tuyệt vời để giữ thăng bằng tinh thần cũng như thể xác. Phương pháp tập luyện lại thuận tự nhiên, không đòi hỏi gì nhiều. Cứ theo tôi! "

Chúng tôi băng qua đường, men mé Lý Thái Tổ, đi thêm một khúc khá vòng vèo rồi đến một công viên có chút bóng cây. Ở đấy, đã sẵn những nhóm ba người, rải rác cách nhau chừng mười mét. Họ ngồi trên cỏ theo cung cách xếp chân vòng tròn, hai tay để trên đùi, ai nấy thần thái tươi tỉnh, lặng lẽ nhắm mắt định thần. Rồi không ai bảo ai, họ rộ lên cười, đồng loạt. Cười độ 30 giây, họ lại im lặng, chừng vài phút sau, họ lại rộ lên cười. Tôi há miệng, ngạc nhiên, không nói được một tiếng. Cười và cười, từng loạt. Thế giới vui từ những lẻ loi, thế là hay lắm chứ. Ông cụ đeo kính thủng thẳng:

" Phái chúng tôi là Thiền cười, nói chữ là Tịnh Tâm Tiếu Thiền. Một người cười, tiếng cười lây lan khiến mọi người cười, tức là một người cho mọi người. Rồi ai cũng cười, vì thế cá nhân tôi cười, anh cười, tức là mọi người cho mỗi người đấy. Ấy thế mà có dạo họ dọa sẽ cấm, cười đông người cũng là mất an ninh. Chúng tôi từ đấy phải ngồi xa nhau ra để tuân thủ qui định tổ tam tam ba người. Tưởng xong, chúng tôi rồi lại bị công an phường đòi xử phạt hành chính. Chúng tôi phản đối, nhưng trong khi chờ đợi quyết định, chúng tôi phát huy sáng tạo, cười nhưng chỉ cười trong bụng. Cũng thoải mái, nhưng hiềm là giữ hơi nên phải, nói xin lỗi, đánh dắm. Đánh dắm thành tiếng, so với cười thành tiếng, cái nào hơn cái nào? Kiểm tra một cách nghiêm túc và nhất định rất khoa học, người ta không bài bản chính thức, nhưng lơ đi, cho chúng tôi cười, vì dù sao cũng tương đối vệ sinh hơn... Anh đến đây sinh hoạt, hoàn toàn là sinh hoạt hợp pháp. Bây giờ xin anh ngồi xuống, nhắm mắt, và khi anh muốn thì cứ việc cười, thoải mái..."


Khấn thần Kim Qui

Ngày mai tôi đi. Còn một buổi sáng hôm nay, tôi dậy sớm, lại đi một vòng Bờ Hồ. Lần này, tôi khấn thần Kim Qui nổi lên thêm một lần cho tôi thấy, hy vọng các bác sĩ ngành y học tiên tiến của nước ta đã chữa được bệnh ghẻ cho thần. Tôi đi, một vòng rồi hai vòng. Bây giờ tôi biết truyền thống mới, tôi chẳng nhìn ai, như người Hà Nội. Tôi tập trung khẩn cầu, và đợi thần nổi lên, tôi sẽ nói, xin ngài rủ lòng thương cho lại thế gian này cây kiếm bảo quốc mà thời xưa ngài đã lấy lại để nay chúng tôi cứ hướng ra biển mà nhỏ nước mắt đau lòng. Tôi khấn, khấn mãi, đi đến vòng thứ sáu thì tôi lại phải tạm chấp nhận, thêm một lần, tôi bất lực.

Bài mới học chưa quên, tôi bật cười. Vô tư thôi mà, chuyện đâu còn đó. Bây giờ, tôi là môn đồ của phái 4T, nhưng đừng lẫn 4T với Thông Tin Truyền Thông mà phải hiểu là Tịnh Tâm Tiếu Thiền. Bây giờ, bạn hiểu vì sao tôi thoải mái, và mong bạn thứ lỗi tôi đã nghêu ngao kể những chuyện vô tích sự vòng quanh Bờ Hồ một ngày vào độ cuối thu.


Nam Dao

6-05-2012


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss