Bạn đang ở: Trang chủ / Sáng tác / Quê nhà yêu dấu

Quê nhà yêu dấu

- Nguyễn Duy — published 06/02/2008 16:25, cập nhật lần cuối 12/04/2016 22:19
Bút ký của Nguyễn Duy


QUÊ NHÀ YÊU DẤU


Nguyễn Duy



1.

LÀNG TA Ở TẬN LÀNG TA…


Làng ta ở tận làng ta
Mấy năm một bận con xa về làng
Gốc cây hòn đá cũ càng
Trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay…

Ấy là mấy câu trong bài thơ Về làng tôi viết tặng cha tôi và bà con quê tôi từ những năm 80 của thế kỉ trước, vào cái thuở nghèo nàn, lạc hậu, thời “bao cấp”. Bây giờ khác rồi, làng quê tôi đã có những đổi thay, lắm điều hay mà cũng nhiều điều dở, thậm chí không ít điều đáng lo ngại. Trước hết là nỗi lo ngại về khoảng vênh giữa xác với hồn. Xác làng thì mỗi ngày một phình ra, một “đỏ da thắm thịt” thêm lên, song song ngược với cái sự mỗi ngày một nghèo hơn, một teo đi của chính hồn làng.

*

Tôi có hai làng quê, làng quê nội và làng quê ngoại, cả hai đều thuộc đất Thanh Hoá.

Quê nội tôi là làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn, nơi có “cái cầu con con gọị là cầu Bố”, cạnh cầu Bố có Đền Lê, tức Thái Miếu nhà Lê, hiện lưu thờ bài vị 27 vua Lê cùng các bà Hoàng Thái Hậu, thêm hai bậc khai quốc công thần là Nguyễn Trãi và Lê Lai. Đó là ngôi đền chung của cả nước, di tích lịch sử cấp quốc gia mới được tôn tạo lại, đã từng bị mất trộm hầu hết các tượng thờ và mọi đồ tế khí, từng bị biến thành trạm đóng quân thời chiến tranh chống Mỹ, hiện vẫn còn một khẩu đại pháo “phế liệu” nằm chình ình trong sân và một quán lòng lợn tiết canh chiếm đất trước cửa đền.

*

Riêng làng tôi, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã là một làng hoàn chỉnh với nền nếp của ngôi làng Việt ổn định từ lâu đời, có đầy đủ những đình, chùa, nghè, phủ, văn chỉ, miếu quỉ thần… đều được xây mới hoặc trùng tu dưới thời nhà Nguyễn. Các công trình kiến trúc cổ xưa ấy đã thật sự hoá thân thành hồn làng và thành xương thịt của một nền văn hoá làng xã tồn tại vững bền qua biết bao nhiêu những biến cố lịch sử.

Không ai biết làng tôi được lập từ thời nào, chỉ biết qua một chi tiết sử liệu (theo Thanh Hoá chư thần lục) thì Thành Hoàng làng Quảng Xá là Tản Viên sơn thánh được vua Lê Thánh Tông (1460 -1497) sắc phong thần hiệu Thượng đẳng tối linh thần và sức cho dân làng thờ phụng, tính đến nay đã hơn năm thế kỉ. Qua hết thời đế quốc Pháp đô hộ, qua luôn thời phát xít Nhật chiếm đóng, qua cả chín năm kháng chiến trường kì mà toàn bộ cái thị xã Thanh Hoá và thị trấn Sầm Sơn đẹp nổi tiếng bị “tiêu thổ”… thì đình, chùa, nghè, phủ làng tôi vẫn còn nguyên vẹn.

*

Tôi còn nhớ như in, cách đây hơn nửa thế kỉ, hồi năm 1953, tôi lên sáu tuổi, được cha tôi gửi về ở với ông bà nội để học chữ. Lớp vỡ lòng tư gia do một thầy thông ngôn thời Pháp, được cả làng gọi là Ông Thông, dạy. Học trò cũng không gọi ông bằng Thầy, mà vẫn gọi Ông, xưng cháu. Ông Thông dạy chữ rất kĩ, đọc và viết đều phải đúng chính tả, tuyệt đối không được nhầm lẫn các từ phải uốn lưỡi như r, s, tr và các dấu hỏi, dấu ngã. Chữ viết phải đẹp, nắn nót đúng mẫu tự theo sách dạy của người Pháp thời chính ông đi học. Đọc sai, nói sai, viết sai, viết xấu đều bị ông gõ thước kẻ lên đầu hoặc đập mu bàn tay đau điếng. Nét chữ là nết người, ông Thông bảo thế, viết chữ đẹp được thì làm cái gì cũng đẹp. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ lời ông dạy, vẫn gắng giữ nét chữ sao cho không bị xấu. Các bài tập đọc, tập viết ông dạy, đều là những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ về tình yêu thương và đạo lí làm người, như là: Công cha như núi Thái sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra… Hay là; Thương người như thể thương thân – Lá lành đùm lá rách – Tham thì thâm, v.v… Ông thường dặn: “Sau này các cháu còn học làm nghề, học làm quan. Nhưng phải học làm người trước đã. Không làm người được thì cũng không làm nghề được, không làm quan được. Các cháu nhớ chưa nào?...” Lũ học trò lóc nhóc chúng tôi khoanh tay đồng thanh: “Dạ, cháu nhớ ạ…”.

Sau này tôi xa quê biền biệt, ông Thông mất hồi nào tôi cũng không biết. Nhưng người thầy đầu tiên với những bài học đầu đời ấy không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi…

*

Không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi hình ảnh ngôi chùa làng rộng lớn, có rất nhiều tượng Phật sơn son thếp vàng tuyệt đẹp, có vườn chùa rợp bóng bồ đề, bóng cây gạo gai cổ thụ, có ruộng chùa trồng đậu, trồng lạc, có luỹ tre xanh bao bọc xung quanh, có giếng chùa nước trong như lọc để cả làng gánh nước về uống. Ngôi chùa thật sự là linh hồn của làng tôi, nơi nuôi dưỡng tâm tính cho dân làng. Nghè làng thờ Thần Tản Viên, có đền Thượng, đền Hạ và Hậu cung, mái ngói rêu phong cổ kính, cột kèo bằng đá trắng, cửa gỗ lim thẫm đen, một quần thể kiến trúc tôn nghiêm tọa lạc dưới bóng những cây đa, cây ruối, cây lăng lổ trăm tuổi, như là chốn linh thiêng chuyên coi sóc kỉ cương làng nước. Khu Văn chỉ thờ Đức Khổng tử, biểu tượng cho sự học của làng, có bàn thờ đá, bệ đá, bia đá, thật đơn giản mà vẫn rất trang nghiêm. Làng tôi xưa đã có người làm thầy giáo nổi tiếng, làm quan lớn, quan nhỏ đủ cả, đáng kể là nhà ông Phủ Dương, họ Vũ Đức, cha làm quan Phủ thời cũ, con là Vũ Đức Hòe, tức Trần Quang Huy, làm quan hàm Bộ trưởng thời mới, vào tới Trung ương Đảng…

Tất cả các công trình văn hoá kể trên đều đã biến mất tăm, không phải do Địch phá, mà do Ta phá, phá sạch sành sanh từ hồi “hợp tác hóa tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Đất nền chùa và nền nghè xây trường học. Tượng Phật bị bọn buôn cổ vật đem bán tứ tán. Cột gỗ, cột đá, bàn đá, bệ đá… mất mát hết cả. Những người chỉ huy việc phá chùa, phá nghè thì đột tử, hoặc đau ốm đến quặt quẹo, tàn phế. Những nhà lấy trộm vật dụng của chùa, của nghè thì rồi cũng khuynh gia bại sản hoặc xảy tai họa, nhiều nhà sợ hãi đem trả lại, rất lâu sau này còn chất một đống đổ nát góc vườn nghè, không ai dám dọn dẹp. Những cuộc “tàn sát thần linh” đó quả là những trận đòn chí mạng đánh vào lòng người khiến nhân tâm lảo đảo…

giamieu

Đình Gia Miêu Ngoại Trang, xã Hà Long,
huyện Hà Tung, tỉnh Thanh Hóa,
nơi phát tích nhà Nguyễn.
Ảnh: Nguyễn Duy (Chụp năm 1997).

Riêng đình làng năm gian gỗ lim thì còn sót lại, ấy là nhờ ngôi đình được dùng làm kho và sân đình làm sân phơi thóc của hợp tác xã.

“Xứ sở linh thiêng sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác
đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh
Giấy rách mất lề
tượng Phật khóc Đức tin lưu lạc
Thiện Ác nhập nhằng
Công lí lênh phênh… ”

(Nhìn từ xa…Tổ Quốc – thơ Nguyễn Duy, 1988).

Bây giờ, ngôi đình tàn tạ của làng tôi bỗng được lập hồ sơ lí lịch, được xác định niên đại xây dựng năm Tự Đức thứ 20 (1867) và được cấp giấy chứng nhận là di tích văn hoá của tỉnh, được dân làng góp tiền công đức để tu sửa... Các bô lão làng tôi hả hê, vui mừng lắm, thôi thì muộn còn hơn không, thần thánh cũng còn được hưởng chút nhang khói thờ phụng, dân làng còn có “cõi trên” mà ngước lên giữ lễ. Chứ cứ như bao nhiêu năm qua, từ ngày đình biến thành kho, chùa và nghè khuất bóng, văn chỉ hoá cồn hoang, thì mọi lễ nghi, lễ giáo, lễ nghĩa, mọi mỹ tục, thuần phong, gia phong, gia đạo… phải trải bao nhiêu đời mới tạo lập được, đều hầu như suy đồi, bát nháo cả. Làng tôi lâm vào cảnh

khủng hoảng thiếu thần linh
khủng hoảng thừa yêu quái”

(Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ – thơ ND, 1990).

*

Cách nay hơn mười năm, thị xã Thanh Hoá được thăng cấp thành Thành Phố, làng tôi được cắt khỏi huyện Đông Sơn nhập vào khu ngoại thành,

“nhà ta bỗng có số nhà
xã ta đang xã đổi ta thành phường
chợ trên nền ruộng khai trương
phố lầu ngất ngưởng chỗ chuồng lợn xưa”…

(Ca dao về làng – ND).

Dân làng tôi chuyển dần thành thị dân, phần đông bỏ đồng đi chạy chợ, một số đi xuất khẩu lao động, một số thuê người làng xa đến làm ruộng cho mình để mình đi làm thuê việc khác có tiền hơn… Đường làng xưa được đặt tên phố mới. Xe máy, xe hơi chạy rung rinh làng. Nhiều nhà lá hoá biệt thự, hóa lầu đúc. Nhiều quán hàng, tiệm nhậu, tiệm điện máy, tiệm rửa xe, tiệm thời trang, tiệm internet… mọc lên nhan nhản trong làng, đồng thời với nhan nhản những ống tiêm ma tuý, bã kẹo cao su, bao cao su, bịch nilông, vỏ chai, vỏ đồ hộp… vứt lẫn trong rác rưởi. Văng tục nhiều hơn, trộm cắp nhiều hơn, đánh đề, đánh bạc nhiều hơn, cá độ nhiều hơn, đổ vỡ nhiều hơn, nỗi bất an, bất ổn cũng nhiều hơn. Và, người làng ít thân tình hơn xưa, thanh thản ít hơn xưa, hạnh phúc ít hơn xưa…

*

Hơn hai mươi năm trước, tôi đã viết về làng tôi một thời thanh cao :

Nhà tôi đó không cổng và không cửa
Ai ghé qua cứ việc hút thuốc lào
Cha tôi trổ rất nhiều cửa sổ
Gió nồm nam thoải mái ra vào…
Cha tôi đó, dân làng tôi vậy đó
Xả hết mình khi nước gặp tai ương
Rồi thanh thản trở về với ruộng
Sống lặng yên như cây cỏ trong vườn…

(Cầu Bố – 1985)

Hơn ba mươi năm trước, kí ức làng trong tôi êm đềm như thể giấc mơ:

Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gày guộc lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi
ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu…

(Tre Việt Nam – 1970)

Bây giờ, tôi đang bước sang khoảng cuối của đời người, đã đi qua lắm núi nhiều sông, mà lòng vẫn không nguôi nỗi da diết nhớ làng. Vẫn hằng mong cho làng ta mỗi ngày một giàu hơn, một cái giàu xứng đôi cùng cái đẹp, một cái đẹp song song cả phần xác lẫn phần hồn.

2.

RƠM RẠ ƠI TA TRỞ VỀ ĐÂY…


Rơm rạ ơi ta trở về đây
gió sùng sục mùi bùn nằng nặng ngấu
mộc mạc tím cánh hoa bìm bờ dậu
vắt vẻo cành tre sáo sậu gọi tên mình...

Tôi làm bài thơ “Về đồng” từ hai mươi năm trước. Lỡ mải mê lang bạt kì hồ, những tưởng không bao giờ trở lại được nữa với ngày xưa trong trẻo. Kì thực, cái ngày xưa ấy nào có mất đi đâu. Nó vẫn lủng lẳng trong góc lòng bụi bặm, như bắp ngô già treo trong xó bếp cũ. Những hạt ngô kí ức đanh sắt lại giống viên sỏi màu bồ hóng, ngỡ đã chết khô, bỗng một ngày bật mầm trong đất ẩm thân thuộc rồi xanh mởn cái màu xanh nhám ráp cuả loài ngô. Mình đấy ư? Ừ. Mình là ngô. Là khoai. Là cỏ. Là lúa. Là đất cát. Là rơm rạ... Và, là hạt giống. Nếu không biết nảy mầm thì cứ đi làm thợ cày, thợ xây, hay thợ gì cũng được, chứ đừng có mà mơ làm thơ nữa nhé.

Rơm rạ ơi ta trở về đây
nắng lóng lánh trong veo mầm mạ trắng
lưng trần ứa giọt sương người mằn mặn
tiếng cuốc kêu thất bát buổi trưa đầy...

(Về đồng)

Lâu lắm rồi, dễ đến nửa thế kỉ có lẻ, tôi mới lại được ngồi bệt trên rệ cỏ bờ đê sông Mạ mà ngắm cánh đồng quê ngoại tôi đang ngan ngát mùi thơm rơm rạ mới. Con đường đồng cong cong như chiếc đòn gánh tre, mới ngày nào bà con dân làng tôi tất bật qua đây, đi cày, đi bừa, gánh mạ xanh vụ cấy, gánh lúa vàng mùa gặt… Làng quê ngoại tôi hồi đó thuộc loại làng nghèo, chỉ có vài căn nhà xây lợp ngói, vậy mà cũng có đủ lệ bộ trang nghiêm những đình, chùa, nghè, miếu, văn chỉ…như tất cả các làng cổ khác. Con đường làng lát đá phiến hẳn hoi, người qua lại gặp nhau đều trên kính, dưới nhường, chào hỏi lễ độ. (Tôi rất thích câu thơ của Lê Đình Cánh, bạn đồng hương Thanh Hóa, tả bà mẹ từ làng ra thành phố: “Lên thang chẳng dám bước dài/ vào khu tập thể gặp ai cũng chào”). Cảnh vật đồng quê vốn luân hồi bình lặng bỗng rừng rực hiện lên trong tâm trí tôi như ngọn lửa đốt đồng.

Rơm rạ ơi ta trở về đây
Ráng chiều cháy cái màu rơm rạ cháy
Đồng hí hoáy cố nhân đi cấy
Mông nứt đôi nhẫn nại chổng lên trời…

(Về đồng)

*

Là đây, đất “chôn rau cắt rốn” từng nuôi nấng tròn vẹn thời thiếu niên vĩnh cửu của tôi. Là đây,

tuổi thơ tôi bát ngát cánh đồng
cỏ và lúa,và hoa hoang quả dại
vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải
bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua...

Là đây, làng quê ngoại tôi vốn có tên nôm là làng Vũ, (thuộc xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung), gần một bến đò xưa có tên là Đò Lèn, nay là cầu Lèn.

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
Níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

(Đò Lèn)

Mẹ tôi mất sớm. Tôi và em gái tôi ở với bà ngoại. Hình ảnh về người mẹ trong bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa tôi làm sau này chính là hình ảnh bà ngoại tôi hồi đó:

…Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa
Cái cò…sung chát…đào chua…
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời me ru…

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)

Bà ngoại tôi dân quê mùa chính gốc, một chữ bẻ đôi cũng không biết, nhưng lạ thay, lại biết và thuộc lòng vô số những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, chuyện cổ tích, chuyện tiếu lâm, cả những truyện nôm khuyết danh như Thạch Sanh, Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Trê – Cóc…, và đọc vanh vách một số đoạn cảm thương trong Truyện Kiều. Những đêm hè trời trong, gió mát, bà tôi thường trải manh chiếu cói trên mặt đê sông Mạ, cùng các cháu nằm ngắm trăng, kể chuyện “Hằng Nga”, chuyện “thằng cuội ngồi gốc cây đa/ để trâu ăn luá… ”, chuyện ngụ ngôn nào đó, hoặc là đếm “Một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng… ”.

…Bao giờ cho tới tháng Năm
Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao
Ngân hà chảy ngược lên cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn…

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)

Càng lớn lên tôi càng nghiệm ra rằng, bà là hiện thân của chính quê nhà, người đã ngâm tẩm tuổi thơ tôi trong suối nguồn ca dao, và phẩm chất ca dao đã ngấm vào tôi tự nhiên như thể di truyền.

*

Bà ngoại tôi sống chủ yếu bằng hai việc làm thường xuyên là, bán chè xanh ở chợ Bình Lâm và kéo te (một loại vó nhỏ xíu chuyên dùng để bắt tép) tại cánh đồng Quan. Tôi thường lon ton chạy theo bà, cả đi kéo te và đi chợ. Những món quà chợ quê mà bà cho tôi hồi đó, nào có gì đâu, chỉ là quả ổi, quả thị thơm lừng, bắp ngô nướng, củ khoai lang luộc ngọt bùi, hiếm hoi một bát chiết yêu bánh đúc chan riêu cua màu mỡ… đã trở thành những miếng ngon tột đỉnh trong đời. Sung sướng tột cùng là được bà cho theo đi lễ chùa, lễ đền, xem lên đồng, nhập thánh…

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
Chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

(Đò Lèn)


Bà tôi nhà nghèo nhưng giàu lòng tin. Tin trời, phật. Tin thánh, thần. Tin cả ma, quỉ. Tôi cũng bị lây nhiễm nết cả tin của bà từ thuở nhỏ, hằng tin rằng trời phật là có thật. Thánh thần là có thật. Ma quỉ là có thật. “ở hiền gặp lành” là chân lý có thật. Cái thế giới của người đã khuất mà bà tôi gọi là “cõi âm” cũng có thật. Thật và thiêng.

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực
Giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
Cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm…

(Đò Lèn)

Một lần, chừng vài năm sau Cải Cách Ruộng Đất, khoảng 1957-58 gì đó, tiện đường đi lễ đền Sòng về, bà cho tôi theo lên thắp nhang đình Gia Miêu Ngoại trang, cách làng tôi hơn mười cây số. Đi bộ. Ngày đó toàn đi bộ. Ngôi đình cổ to lắm, nằm trong một khu lăng tẩm, thành quách lớn lắm, lộng lẫy và tôn nghiêm lắm. Bà nói đây là quê nội của các Đức Vua và các ông Hoàng bà Chúa họ Nguyễn, đến nhà Vua về cúng đình cũng phải xuống kiệu, đi bộ. Bà tôi chỉ biết đến vậy, và truyền dạy cho tôi chỉ có vậy, nhưng trong trí tưởng tượng của tôi thì ngôi đình này linh thiêng đến vô cùng vô tận, thờ tổ tiên của Vua Chúa kia mà. Đôi khi tôi còn thầm hãnh diện mình cũng cùng quê với Vua Chúa đấy chứ, biết đâu còn là họ hàng...

*

Bom Mỹ dội nhà bà tôi bay mất
Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Tôi đi lính lâu không về quê ngoại
Giòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
Khi tôi biết thương bà thì đã muộn
Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi…

(Đò Lèn)

*

Lớn lên, tôi theo cha về quê nội, học trường cấp ba Lam Sơn trên tỉnh. Rồi chiến tranh. Đi lính… Hoà bình, tôi trở về thăm quê. Bà ngoại tôi không còn nữa. Ngôi nhà nhỏ nơi bà tôi ở, cũng là nơi tôi ra đời, không còn nữa. Chùa Trần, chùa Vũ không còn nữa. Cả đền thờ Đức Ngài Lý Thường Kiệt ở ngay làng bên cũng không còn nữa. Làng mạc quê ngoại tôi bị bom Mỹ phá tan tành.

Hỏi ra mới biết thêm rằng, phần lớn đình, chùa, đền, miếu đã bị phe ta phá trước cả bom đạn, từ ngày đang cao trào “toàn dân vào hợp tác xã” và “bài trừ mê tín dị đoan”, cũng giống như ở làng quê nội tôi..

Tấm ảnh đình Gia Miêu hoang tàn, kèm theo bài viết này, được chụp vào mùa thu năm 1997, lúc tôi cùng nhà văn Nguyễn Khải về đây thắp nhang. Anh Nguyễn Khải người gốc gác làng Bồng, huyện Vĩnh Lộc, cùng quê với Chúa Trịnh Kiểm. Phủ Trịnh ở xã Vĩnh Hùng vẫn được dòng tộc Trịnh giữ gìn cẩn thận, hương lửa truyền đời. Còn đình Gia Miêu thì trống tuềnh trống toàng, cổng, cửa, tường vách đổ nát, mái ngói sạt lở, cột gỗ mốc meo, mục mọt nhiều chân cột. Tình cảnh thật đau xót.

Chúng tôi mang theo nén nhang thơm, nhưng trong ngôi đình không có bất cứ thứ gì để có thể cắm nhang được, chứng tỏ nơi này hoang phế đã lâu. Giữa hậu cung, một đống gạch ngói vỡ vung vãi. Chúng tôi xếp một chồng ngói rêu phong tượng trưng cho bàn thờ rồi cắm nhang lên đó, cúi lạy... Nhìn quanh, góc đình phơi mấy mẹt ớt đỏ. Chợt rùng mình khi thấy trên thân cây cột đình gian áp chái có hàng chữ bằng mực đen, giống một vế câu đối: AI BÁN BÈO VÀ ỐC TÔI MUA.

Trời ơi, nơi thờ phụng tổ tiên của cả Chúa lẫn Vua sao lại thành chốn thu mua bèo và ốc thế này?

Tại sao?...

*

Rơm rạ ơi ta trở về đây
Xin cúi lạy vong linh làng mạc
Bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc
Ông và cha man mác kiếp trâu cày

(Về đồng)

*

Cứ lần theo sử liệu mà suy, còn có những ngôi đình cổ kính hơn hoặc to lớn hơn, nhưng không có ngôi đình nào trên đất nước này mang sự tích kì vĩ hơn đình làng Gia Miêu Ngoại trang.

Đầu tiên là nói về “long mạch”.

Đất Gia Miêu sinh Nguyễn Công Duẩn, công thần khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427), được vua Lê Thái tô phong Thái Bảo Hoành Công. Tiếp các đời con, cháu, chắt, chút (Nguyễn Đức Trung – Nguyên Văn Lang – Nguyễn Hoằng Dụ – Nguyễn Kim…) đều lần lượt làm đại thần trong triều.

Từ sau đời Lê Thánh Tông (1442-1497), nhà Hậu Lê suy yếu dần, đến đời Lê Chiêu Tông (khoảng 1516-1522) thì bị Mạc Đăng Dung tiếm quyền. An Thanh Hầu Nguyễn Kim (con Nguyễn Hoằng Dụ) dựng cờ phò Lê diệt Mạc, lập con vua Chiêu Tông là Lê Duy Ninh lên ngôi (Lê Trang Tông, 1533-1548) khởi đầu thời Lê Trung hưng. Nguyễn Kim (1467-1545) được phong làm Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc Công, mộ táng tại núi Thiên Tôn thuộc đất Gia Miêu, sau được suy tôn Triệu Tổ dòng họ Nguyễn Gia Miêu.

Nguyễn Kim có ba người con. Người con gái tên Ngọc Bảo, lấy Dực Quận Công Trịnh Kiểm, tức Chúa Trịnh sau này. Người trai cả là Nguyễn Uông, bị Trịnh Kiểm sát hại. Người trai thứ là Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (1525-1613), tương truyền theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, xin đi trấn thủ xứ Thuận Hoá, tháng mười năm Mậu Ngọ (1558). Từ đó mà có được đại nghiệp mở đất Đàng Trong (từ Thuận Hóa tới tận mũi Cà Mau như bây giờ), thu trọn giang sơn thành một nước Việt Nam thống nhất, trải qua chín đời Chúa và mười ba đời Vua Nguyễn.

Tiên Đế triều Nguyễn là Nguyễn Phúc Ánh (1762-1819) lên ngôi năm 1802, niên hiệu Gia Long, đến 1804 cho xây khu tôn miếu Triệu Tường tại Gia Miêu Ngoại trang. Thành Triệu Tường chu vi 182 trượng bao quanh, ngoài thành có hào nước, ngoài hào có hai lớp luỹ vây bọc. Trong thành có Nguyên Miếu, một tập hợp nhiều miếu thờ tiên tổ họ Nguyễn. Miếu chính và Miếu trước lớn hơn cả, thờ Triệu Tổ Nguyễn Kim và Thái Tổ Nguyễn Hoàng… Khu tôn miếu Triệu Tường rất đẹp và tôn nghiêm, được ví với Thái Miếu trong Đại nội Huế.

Ngay cạnh thành Triệu Tường, đình Gia Miêu được dựng năm Gia Long thứ 5 (1806), thờ Đức Thái Bảo Hoành Công Nguyễn Công Duẩn. Toà đại đình bảy gian này có sáu vì kèo, mỗi vì kèo đứng trên sáu cột lim, mỗi cột lớn hơn vòng tay ôm. Nghệ thuật chạm khắc gỗ nơi đây được coi là đẹp vào loại hàng đầu của kiến trúc đình làng thời bấy giờ.

Còn bây giờ (1997)… thì như tôi vừa ở đoạn kể.

*

Đại diện duy nhất của họ Nguyễn Gia Miêu tiếp chuyện nhà văn Nguyễn Khải và tôi hôm đó, ông Nguyễn Thái Bình, sáu mươi hai tuổi, nghề chuyên môn là gác ao cá. Ông thầu khoán cái ao đình để thả cá, nộp sản cho hợp tác xã. Ông cho cá ăn cỏ, ăn cám, ăn phân bò, phân lợn, băm thêm bèo và ốc. Bèo và ốc thì phải mua. Chính tay ông viết lên cột đình hàng chữ AI BÁN BÈO VÀ ỐC TÔI MUA, nắn nót rất lâu mới đẹp được như thế đấy, như thư pháp, như câu đối, ông khoe một cách thật thà.

Ông Bình say sưa kể về ngôi đình này, khu thành Triệu Tường kia, khi xưa đẹp và thiêng liêng là thế... Gần đây thôi, khoảng sau năm 1975, mới bị phá triệt để. Đình làng trống hoang thành chỗ trú cho trâu bò. Còn khu tôn miếu Triệu Tường thì bị san phẳng, làm trại chăn nuôi lợn. Hôm phá thành Triệu Tường, từ trong bức tường dày có rất nhiều rùa bò ra lổm ngổm. Thật lạ. Và khiếp sợ...

*

Rơm rạ ơi ta trở về đây
Xin cúi lạy vong linh làng mạc
Bà và Mẹ hoá cánh cò cánh vạc
Ông và Cha man mác kiếp trâu cày

(Về đồng)

*

Sau lần về thắp nhang đình Gia Miêu năm 1997 ấy, tôi phóng to tấm ảnh vừa chụp được, chép bài thơ Về đồng lên đó, trưng bày trong “Triển lãm thơ Nguyễn Duy” tại Sài Gòn (tháng 12/1997), Hà Nội và Thanh Hoá (tháng 2 và 3/1998). Tôi trực tiếp thuyết minh về lai lịch tấm ảnh với rất đông người xem triển lãm, trong đó có nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đương kim Bộ trưởng Văn hoá – Thông tin Nguyễn Khoa Điềm, có cả các vị lãnh đạo cao nhất tỉnh Thanh Hoá lúc bấy giờ.

Năm 2000, tôi về lại Gia Miêu. Ngôi đình hoang tàn đã được trùng tu đàng hoàng bằng ngân sách Nhà nước. Mái lợp ngói kiểu cổ. Tường mới dày dặn, cửa gỗ then cài chắc chắn. Những cột đình bị mục được “vá víu” và sơn phết lại. Điện thờ trong hậu cung được xây mới hoàn toàn, có đèn sáng, có nhang khói. Cái cổng đình thì mới tinh tình tình, lại có cả hai cánh cổng sắt khóa bằng dây xích sắt to như xích neo tàu thủy…

Tết Đinh Hợi vừa rồi (2007), tôi lại về Gia Miêu, theo lời mời của bạn bè huyện Hà Trung quê ngọai, về dự lễ khánh thành lăng Nguyễn Kim trên núi Thiên Tôn. Dòng tộc Nguyễn ở Huế góp kinh phí. Dòng tộc Nguyễn tại quê góp một phần công. Đại diện dòng tộc Nguyễn từ nhiều nơi trong cả nước tụ về dâng hương lăng Triệu Tổ…


khanh-thanh-lang

Lễ khánh thành lăng Triệu Tổ Nguyễn Kim tại Gia Miêu,
tháng Giêng năm Đinh Hợi, 2007.
Ảnh: Nguyễn Duy.

*

langnk

Lăng Nguyễn Kim

Nhà Nguyễn có công lao rất lớn đối với nước Việt Nam, đó là một sự thật hiển nhiên, vậy mà, không hiểu tại sao và từ lúc nào, lại bị bóp méo đến biến dạng, bị sai lệch đi trong cái nhìn chính thống, bị hạ thấp một cách oan ức về thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa, bị ruồng bỏ nhiều bài vị tôn kính, bị xóa tên đường phố nhiều vua, chúa kiệt xuất? Tại sao?...

Tại sao?...

Nhiều ý nghĩ vu vơ, mơ hồ trong đầu tôi cứ loằng ngoằng, mông lung như khói hương. Tôi mường tượng thấy những việc mới sắp tới, nhất định tới, như là đúc chuông, phục tượng… Còn phải làm thêm rất nhiều việc nữa, nếu Nhà Nước chưa làm được thì xin hãy để cho dân làm, sẽ đâu vào đó cả.

Phục hồi nhân tâm là việc quan trọng nhất. Những gì thất nhân tâm thì thành tâm sửa lại. Có công tâm với lịch sử mới thực thi được công bằng xã hội.

Tôi cứ nghĩ lan man như thế… Như thế… Thiết nghĩ, nước ta đang cần có một cuộc thảo luận “lương tri và khoa học” để công khai sửa lại cái nhìn chung sao cho thật đúng về nhà Nguyễn, tất nhiên phải khởi đi từ Gia Miêu Ngoại trang.

Thu phục nhân tâm ư? Thì hãy chọn những gì tốt đẹp của cha ông mà tôn vinh. Hòa hợp dân tộc ư? Thì hãy lấy nhân tâm của cha ông mà truyền bá. Đối xử tử tế với tổ tiên là phẩm chất tối thiểu của đạo lý…

*

Thắp nén nhang cúi lạy tiền nhân, tôi không khỏi rưng rưng nước mắt khi hình dung những sai lầm trầm trọng của hậu thế đang được chỉnh sửa dần dần. Có được ngày này, dẫu đã muộn cũng còn may mắn lắm, còn có dịp cho người nay tạ lỗi với người xưa.

Rơm rạ ơi ta trở về đây
Ngôi chùa cũ mái đình xưa hiện bóng
Cỏ áy vàng bãi tha ma vắng
Lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà…

(Về đồng)

Giá có bà ngoại tôi trong khánh lễ hôm nay, chắc chắn rằng người phải khóc nức nở …

Tự kỉ niệm lên tuổi 60, cuối Đinh Hợi, 2007.

N.D


Các thao tác trên Tài liệu

được sắp xếp dưới: Xuân Mậu Tý 2
Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us