Bạn đang ở: Trang chủ / Sáng tác / TỔ QUỐC – Câu chuyện một bài thơ

TỔ QUỐC – Câu chuyện một bài thơ



TỔ QUỐC – CÂU CHUYỆN MỘT BÀI THƠ


                                

Thanh Thảo



TỔ QUỐC

 

Vệt nắng mỏng trước sân mái gà cục tác

Con tôi ngủ trong nôi văng vẳng tiếng còi tàu

Bữa cơm gia đình tôi trộn bắp trộn sắn bảy mươi phần trăm

Mùa xuân những cơn bão hung hãn bất ngờ ập tới

 

Trầm tĩnh như rừng kia như biển kia

Tổ Quốc tôi đứng lên trước bầy xâm lăng phương bắc

Những dãy núi cong cánh cung những nỏ thần khủng khiếp

Lại tung hàng loạt mũi tên xuyên ngực quân thù

 

Ải Nam Quan ngọn khói xưa Nguyễn Trãi nuốt nước mắt quay về

Mười năm nằm gai nếm mật

Hẽm Chi Lăng lầm lì sông Kỳ Cùng bốc cháy

Pháo đã giăng từ ngàn vạn điểm cao

 

Quân di chuyển những dòng sông chảy ngược

Mây uy nghi Yên Tử thuở nào

Còn in dáng Trần Nhân Tông mắt dõi về phương bắc

Tính nước cờ ung dung trên cao

 

Sông Kỳ Cùng những tảng đá lên hơi

Đùa với mặt trời trong nước

Tôi chỉ đến tắm một lần. Nhưng đó là Tổ Quốc

Chảy lặng thầm suốt cuộc đời tôi

 

Những câu lượn câu sli đêm chợ Kỳ Lừa

Chén rượu nồng thơm sắc màu thổ cẩm

Vó ngựa gõ dòn lâng lâng sương khuya

 

Khẩu súng chống tăng ghì chặt vào vai

Anh xạ thủ H’Mông mười tám tuổi

Khi lũ giặc đang điên cuồng lao tới

Một chấm nhỏ trên bản đồ một chấm nhỏ thiêng liêng

 

Phút người lính đứng bật lên cắm chặt chân vào đất

Phút ấy, đất dưới chân anh là Tổ Quốc

 

Quả đạn rời nòng trong chớp mắt

Xe tăng cháy ngang đồi lũ giặc lùi xa

Anh lính trẻ mỉm cười lau mồ hôi trên mặt

Gương mặt dịu lành như Tổ Quốc chúng ta

                                                                       Tháng 2/1979


Tôi đã viết rất nhiều thơ về đất nước. Nhưng chỉ có một lần, và chỉ duy nhất có một bài thơ mang tên “Tổ quốc”. Đó là bài thơ tôi viết vào tháng 2/1979.

Đó là thời gian tôi đang nằm điều trị trong viện quân y 17 Đà Nẵng, sau một tai nạn giao thông rất nặng.

Sau Tết Kỷ Mùi 1979, bệnh viện quân y nơi tôi nằm không còn yên tĩnh nữa. Những dòng thương binh từ các sư đoàn của quân khu Năm đang tham chiến ở chiến trường Campuchia đổ dồn về bệnh viện, có những lúc cảm giác như bệnh viện quá tải. Cùng là bệnh nhân với nhau, nhưng tôi bị tai nạn, còn các em lính trẻ thì bị thương, chủ yếu bị cụt chân do mìn zip của Trung Quốc. Thứ mìn này rất ác độc, khi đạp phải nó bật lên khoảng tầm ngang đầu gối và nổ. Người bị mìn này sát thương có thể không chết, nhưng bị mất một chân, có khi mất cả hai chân. Mục đích những kẻ sử dụng loại mìn zip là khiến nạn nhân của nó mất một phần thân thể dẫn tới mất sức lao động, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội sau khi chiến tranh kết thúc.

Những ngày đầu tháng 2 đó, bệnh viện quân y C17 tất bật và căng thẳng. Thương binh về từ chiến trường phía Tây Nam, tin tức xung đột vào từ biên giới phía Bắc. Có một khoảng lặng nào đó báo trước cơn bão dữ sẽ ập đến.

Cơn bão từ những binh đoàn, sư đoàn quân xâm lược Trung Quốc đã cùng lúc ập đến trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam vào ngày 17/2/1979.

Tất cả thông tin về cuộc chiến tranh biên giới mà bệnh nhân chúng tôi nghe được đều từ radio phát các bản tin và bình luận của Đài tiếng nói Việt Nam, và tin tức ít ỏi từ bạn bè vào bệnh viện thăm tôi.

Các nhà văn nhà thơ ở Trại sáng tác quân khu Năm cùng tôi đã kẻ trước người sau lên đường đi Campuchia, đi chiến trường biên giới phía Bắc. Tôi thì chỉ nằm ở bệnh viện, không đi đâu được.

Bài thơ “Tổ quốc” được tôi viết ra trong khoảng thời gian cuối tháng 2 năm 1979 dồn dập tin chiến sự ấy.

Vào lúc đó, con trai đầu lòng của tôi, do mẹ cháu còn học ở Hà Nội nên được ông bà nội chăm nuôi cũng vừa giáp thôi nôi, tròn một tuổi. Bài thơ bắt đầu từ câu chuyện gia đình tôi, giống như hàng triệu gia đình Việt Nam thời điểm ấy. Bữa cơm hàng ngày độn bắp độn sắn, độn bo bo tới 70 %. Vừa qua khỏi cuộc chiến tranh, lại tiếp tới ngay một cuộc chiến khác. Sau khi thắng cuộc chiến tranh với Mỹ, rất ít người Việt Nam nghĩ mình lại sắp phải đối đầu một cuộc chiến tranh mới. Vậy mà tất cả những điều ít nghĩ tới ấy đã xảy ra.

Trong trạng thái vừa xúc động vừa xót xa, nhưng lại vừa rất trầm tĩnh, tôi đã viết được bài thơ “Tổ quốc”. Những ký ức về Lạng Sơn của tôi được huy động, những hình ảnh cuộc chiến tranh chống Mỹ còn nguyên vẹn trong tôi đã khiến bài thơ được viết rất nhanh. Cùng tin tức về những trận đánh bảo vệ Tổ quốc từ chiến trường biên giới phía bắc được Đài phát thanh loan báo kịp thời, tất cả đã khiến cho những người Việt Nam sống trong thời điểm ấy trở nên cứng rắn, bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình thế nguy nan nhất.

Bài thơ của tôi được viết trong tinh thần đó, nó là những cảm xúc hoàn toàn được kiểm soát.

Có một hình ảnh anh lính trẻ người H’Mông ở cuối bài thơ, đó là hình ảnh hoàn toàn văn học, mang tính tượng trưng mà tôi đã viết. Nhưng thật lạ lùng, nhiều năm sau, khi gặp và chơi thân với nhà thơ Trần Hùng ở Cao Bằng, anh Trần Hùng đã kể tôi nghe về trận đánh sau ngày 17/2/1979 ở cửa ngõ thị xã Cao Bằng. Một chiếc xe tăng Trung Quốc mang số hiệu 406 chạy thoát từ phòng tuyến Đông Khê lên Cao Bằng theo đường số 4, khi chạy qua thị xã, vượt cầu sông Hiến lên phía bắc, đã bị đại đội 1 tiểu đoàn 40 pháo phòng không 37 ly của tỉnh đội Cao Bằng hạ nòng pháo, thay đạn nổ bằng đạn xuyên, và bắn cháy. Anh Trần Hùng còn kể : “ Lúc đó chúng em thấy phía trước chiếc tăng này có một người chạy bộ dẫn đường. Chúng em xác định ngay, đó là một tên phản quốc người bản địa nên rất thạo đường.”

Đúng là có câu chuyện một chiếc xe tăng xâm lược bị bắn cháy bằng… pháo phòng không 37 ly hạ nòng, nó rất gần với hình ảnh này trong bài thơ của tôi :

Phút người lính đứng bật lên cắm chặt chân vào đất

Phút ấy, đất dưới chân anh là Tổ Quốc

 

Quả đạn rời nòng trong chớp mắt

Xe tăng cháy ngang đồi lũ giặc lùi xa

Anh lính trẻ mỉm cười lau mồ hôi trên mặt

Gương mặt dịu lành như Tổ Quốc chúng ta


Gương mặt dịu lành ấy, chúng ta có thể thấy ở bất cứ người lính Việt Nam yêu nước nào. Năm ấy, nhà thơ Trần Hùng cũng còn rất trẻ. Anh mới 22 tuổi. Và mới là người lính, chưa phải nhà thơ.

Bốn mươi năm đã trôi qua. Tôi đã 73 tuổi. Người lính Trần Hùng năm xưa ấy đã thành nhà thơ nổi tiếng, và cũng đã về hưu. Nhưng trong chúng tôi, những ký ức vẫn còn lại. Còn nguyên.

Thanh Thảo


NGUỒN : Tác giả gửi ngày 15.2.2019


Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss