Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Báo cũ / Số 7 / Người anh họ chưa hề gặp mặt

Người anh họ chưa hề gặp mặt


 

Người anh họ chưa hề gặp mặt
Bonjour Mon Cousin

 

Phan Tam Khê

 

Đặt điện thoại xuống tôi bỗng thấy bồi hồi. Lòng thẫn thờ vì vừa tìm ra được một “cousin” không biết thuộc hệ nào của gia tộc. Một người anh họ chưa hề gặp mặt. Giọng anh trầm buồn mang nhiều thiện cảm. Tôi cố tạo ra một khuôn mặt để được gần gũi hơn.

“Cousin” của tôi đã được nước Pháp đưa về mẫu quốc trong diện con lai vào những năm 1954-1960. Anh điện thoại để mời chúng tôi ăn Tết với nhóm người này.

Ngày hẹn đã đến, chuông gọi mở cửa vừa reo lên, tôi bật dậy như một chiếc lò xo. Nhìn nhau ngại ngùng: “Bonjour mon cousin” – “Bonjour ma cousine”. Anh vào nhà. Vốn liếng tiếng Việt của anh thật hạn chế và giọng điệu đã lạc lõng đi nhiều. Quanh quẩn vài câu về liên hệ máu mủ – mà chính tôi cũng chẳng biết giải thích liên hệ này ra làm sao – chúng tôi chẳng biết nói gì hơn. Câu chuyện thật rời rạc.

Trước khi đến Chelles để ăn Tết, chúng tôi ghé thăm nhà anh. Căn nhà được xây cất theo lối cổ điển Tây phương, gọn, đẹp, ngăn nắp, nhưng cách trang trí thì rặt toàn một màu sắc Việt Nam: Trên lưng cặp trâu đen đối diện nhau ở tủ chè là hai chú mục đồng ngất ngưởng với chiếc sáo trên môi. Cành tre lả ngọn bên sông như đưa đẩy thuyền ghe xuôi ngược, một cụ đồ hí hoáy viết thư xuân, ba cô gái của ba miền nước Việt bằng tranh ghép gỗ treo ở cuối phòng, và chính giữa nhà là ba ông Phước-lộc-thọ ngự trị nghiêm trang. Tất cả có một cái gì vừa thiết tha vừa lỗi nhịp. Phải chăng những vật trang trí kia đã không cho thời gian xoá nhoà trong ký ức anh kỷ niệm của những ngày thơ ấu và đã gợi cho vợ con anh một vài ý niệm khái quát về phong thổ quê hương?

Đến Chelles, chúng tôi hết đỗi ngạc nhiên vì đây không phải là một cuộc họp bạn đơn giản như anh phác hoạ, mà lại là một cuộc lễ được tổ chức rất qui mô. Bạn bè từ bốn phương kéo về, lại có cả những người Việt sống ở Đức và ở một vài nước Đông Âu nữa. Ít ra thì cũng phải có đến 300 người. Nghe đâu, vì tình hình kinh tế khó khăn nên năm này còn ít đông hơn năm ngoái. Rồi lại có cả hệ thống truyền hình A2 đến lấy hình ảnh nữa. Tôi cảm động đến lặng người vì vừa mới khám phá ra được một cộng đồng khác, một cộng đồng có liên hệ máu mủ với dân Việt – dù chỉ 1/2, 1/3, 1/4 hay 1/6 đi nữa. Một giọt máu đào hơn ao nước lã. Để ý làm chi cái nhóm máu đang lưu hành trong huyết quản, điều quan trọng ở đây là nhóm máu ấy còn giữ được hình ảnh một nước Việt Nam trinh nguyên.

Qua câu chuyện, tôi được biết là sau khi về Pháp họ được tập trung về Touraine để đi học. Hè đến, các sân trường chỉ còn lại bọn họ, không cha không mẹ không bà con thân thuộc, họ quây quần bám lấy nhau để sống và chỉ sống nhờ vào những kỷ niệm 1. Vì thế không khí đêm nay rộn ràng tình huynh đệ.

Tôi xúc động nhìn những khuôn mặt già có, trẻ có, không hẳn một gốc gác nào: Rằng Âu thì chẳng ra Âu mà Á cũng chẳng ra Á. Sự pha trộn chủng tộc làm cho khuôn mặt của họ có những đặc thù ngây ngô, đẹp và cảm động.

Âm nhạc trỗi dậy cho cuộc vui bắt đầu. Từng cặp từng cặp họ vui đùa vừa nhảy nhót vừa trò chuyện nhỏ to. Hầu như tất cả đều quen biết nhau. Các bà vợ đầm làm dâu thật ráo riết, gắp tiếp cho chồng và khách từng miếng ăn, kể lại những kỷ niệm của chồng cho chúng tôi nghe, như là những kỷ niệm của chính họ vậy. Rồi xổ số tombola, rồi bánh chưng xanh thịt mỡ dưa hành, rồi rượu đỏ rượu trắng. Tối nay, không gian này mang hình ảnh của các buổi giỗ tổ của các giòng họ lớn mà ta thường thấy ở Việt Nam: con cháu bốn phương rần rật kéo về.

Tôi lõm bõm nghe được vài câu chuyện thật mủi lòng. Bà gia của một chị đầm nọ, trước lúc từ trần nói trối lại là bà muốn nghe các bài hát của quê hương. Tang lễ được cử hành với những bài hát thời tiền chiến tuy lời ca chẳng ăn nhằm gì với không khí tang chế, nhưng nghe đâu họ vừa hát vừa khóc. Chỉ tưởng tượng thôi, tôi đã thấy nghẹn nghẹn ở cổ rồi.

Một anh nha sĩ với giọng trầm buồn đã tâm sự: “ Cuộc đời của chúng tôi đã ngưng lại ở tuổi 13, 14. Tuy lớn lên, học hành và lập nghiệp ở nơi này, nhưng lúc nào mình cũng có cảm tưởng như một người bị đày. Và chắc anh cũng biết “L’exilé partout est seul” chứ? Nhiều khi tôi tự hỏi “Mình làm gì ở đây khi suốt đời chỉ biết lo làm, ăn, rồi ngủ?” Có lúc gặp khó khăn với chủ, tôi nhắm mắt lại, thả hồn về quê cũ, mặc cho ông chủ múa may quay cuồng, chẳng có một câu nào lọt vào tai tôi cả. Lòng tôi bỗng trầm xuống và dịu lại, bao nhiêu bực tức tan nhanh như sương mai dưới ánh mặt trời, và nhờ thế tôi tránh được nhiều cãi vã bất lợi.”

Một thái độ vừa cao siêu vừa ngạo mạn.

Tụm năm tụm ba đâu đâu cũng nghe họ kể lại dĩ vãng, những ngày tháng êm đềm xa xưa. Họ nhắc đến các miếng ăn và những trò chơi non trẻ, như thả kiến trên lá tre lúc trời đổ mưa. Có người nào đó lại cao hứng ngâm luôn mấy câu thơ của Nguyễn Bính làm tôi giật mình:

Có hai em bé học trò
Xem con kiến gió đi đò lá tre

( Bên sông , Nguyễn Bính 1937)

Rồi từ đó anh thao thao bất tuyệt về các loại kiến, về các trận mưa thúi đất ở miền Trung, chị vợ kiên nhẫn mỉm cười như thầm bảo: “ Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, vì hình như câu chuyện này cứ được lặp đi lặp lại mỗi lần anh nhắc đến Việt Nam.

Chẳng thấy một ai đề cập đến chính trị. Tôi hỏi họ về hội hè, về báo chí; họ lơ đãng lắc đầu. Hình như với họ những điều này không mấy quan hệ.

Tôi bỗng thấy hiểu biết của mình thật là hạn hẹp. Cho đến bây giờ, với tôi cộng đồng người Việt ở hải ngoại chia làm hai khối: Bên ni và Bên nớ. Bây giờ thì vừa khám phá ra là có những người chẳng ở bên nào hết mà họ cũng yêu nước như ai, họ yêu theo lối yêu của họ, một lối yêu thầm lặng không cần hô hào, cổ võ. Một lối yêu trong suốt như “nước trong nguồn chảy ra”. Ôi! đẹp làm sao?

Tháng tư này, trong bọn họ, sẽ có một đoàn 40 người trở lại Việt Nam lần đầu tiên. Tôi cảm thấy lo lo cho chuyến đi này. Biết đâu, nước Việt với “ 20 năm nội chiến từng ngày” sẽ không làm mất đi những hình ảnh trinh nguyên của tuổi 13?

Đêm nay Paris dày đặc sương mù. Tôi nhắm mắt lại cố hình dung ra một trời rực rỡ của tháng tư đang chiếu sáng trên phi trường Tân Sơn Nhứt, một con chim sắt khổng lồ vừa hạ cánh, các cầu thang được lăn đến và Đàn chim Việt thanh thản đặt chân xuống đất mẹ sau gần ngót 40 năm xa cách. Xa xa, thoảng nghe tiếng nhạc thiết tha: “ Tổ quốc ơi có bao giờ đẹp như hôm nay”.

Paris ngày 20.01.92

(l) Hội của những người này là Association FOEFI

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss