Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Báo cũ / Số 7 / Yêu cầu tối thiểu của ngày mai nhân bản

Yêu cầu tối thiểu của ngày mai nhân bản

 
 

Yêu cầu tối thiểu
của ngày mai nhân bản

 

Đơn Hành

 

Chế độ hiện hành ở Việt Nam còn được duy trì nhờ sự sợ hãi, nhờ sự giả dối của con người với chính mình: bản thân nó là một sự giả dối. Vì thế hai chính sách cơ bản của nó là đàn áp và ngu dân, ít nhất trong lãnh vực văn hoá và chính trị. Đàn áp và ngu dân nuôi sự sợ hãi, sự sợ hãi nuôi sự giả dối với chính mình, sự giả dối với chính mình lại gia tăng sự sợ hãi. Đó là bản chất của chế độ. Đó là nguồn gốc của thái độ của nhiều người Việt Nam trước thời cuộc. Đó là nguy cơ kìm hãm Việt Nam trong vòng chậm tiến và lệ thuộc.

Trong lịch sử cận đại, nhiều người Việt Nam đã chấp nhận và trả giá cho ba sự giả dối lớn, có lúc vì yêu nước, có lúc vì sợ, có lúc vì không hiểu.

Sự giả dối thứ nhất: để giành độc lập, không có con đường nào khác ngoài sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và học thuyết Mac-Lênin. Về mặt lý trí, đây là một sự giả dối. Ấn Độ đã giành được độc lập không cần những thứ đó, mà ít tốn xương máu hơn. Nhiều nước khác cũng giành được độc lập, không cần những thứ đó, có khi chống lại những thứ đó. Dù sao lịch sử là lịch sử. Mỗi thế hệ trả lời và trả giá cho thời đại của mình. Chẳng ai sống thay ai được. Chẳng ai sống ngược dòng thời gian được. Từ 1930 đến 1975, Đảng cộng sản đã nắm ngọn cờ dân tộc, đã chiến thắng, đã nắm chính quyền trên toàn quốc. Điều đó không có nghĩa là luận điểm nói trên là đúng. Nó có nghĩa là trong suốt thời gian đó, trong dân tộc Việt Nam không có người nào, đảng nào đã có đủ bản lĩnh thực hiện một cuộc giải phóng dân tộc theo đường lối nào khác, như Gandhi chẳng hạn. Sự giả dối ở đây là biến một khả năng đã hiện thực thành một sự tất yếu lịch sử, thành nền tảng của tương lai.

Sự giả dối thứ hai kéo dài tới 1986: một mặt Đảng lãnh đạo được độc quyền tổ chức, quản lý toàn bộ sinh hoạt xã hội trong tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, thậm chí cả đời sống và tình cảm cá nhân, mặt khác cơ sở kỹ thuật, hệ thống thông tin và trình độ quản lý không cho phép Đảng làm chủ được giá thành của một hạt gạo. Dĩ nhiên những người bảo vệ duy trì chế độ phải tự dối mình: ăn nói, hô hào, diễn văn rất đúng lập trường, nhưng để sống, phải làm ngược lập trường, hoặc chẳng làm gì, hoặc dựa vào nó mà thủ lợi riêng. Dĩ nhiên, những người phải tồn tại dưới chế độ đó phải giả dối với chính mình: mặt ngoài tôn trọng nó, bên trong, ngày ngày, hoặc uất hận, nhục nhằn, đói khổ, hoặc luồn lách qua những kẻ hở tất yếu của nó mà tồn tại. Hình ảnh những nhân viên hàng tuần đảm bảo vài giờ canh gác điện thoại cơ quan rồi đi kiếm ăn hay làm việc khác khá điển hình cho nếp sống đó.

Sự giả dối thứ ba bắt đầu từ năm 1986. Một mặt đi vào kinh tế thị trường, chấp nhận quyền tư hữu, kêu gọi đầu tư của tư bản quốc tế, mặt khác duy trì một chế độ chính trị theo kiểu xã hội chủ nghĩa xưa!

Người cầm quyền nói một đằng, làm một nẻo. Nói: xã hội chủ nghĩa tới cùng, chuyên chính vô sản muôn năm. Làm: mời các ngài có khả năng khai thác theo kiểu tư bản chủ nghĩa nhào vô miễn sao chia lời (cho tư bản quốc tế, tư bản bản xứ, và con em các ngài). Giải thích: lắm đĩ điếm, ăn mày, tham nhũng, buôn lậu... thật, nhưng, dù sao, dân cũng bớt khổ! Than ôi, đánh thực dân đế quốc làm gì? Cứ để kệ cũng tới đó: một nước chậm tiến, lệ thuộc kinh tế bình thường. Tất cả chỉ để thay mấy tay mại bản cũ bằng mấy tay mại bản mang huân chương cộng sản?

Quần chúng lao động cũng giả dối, nhưng sự giả dối ở đây có tính chất nụ cười của cuộc sống: anh muốn làm xếp, tôi để anh làm xếp vì anh có súng, nhưng lời nói của anh như nước đổ lá khoai, tôi cứ làm như tôi cần làm để tồn tại, tôi né anh, nếu cần, tôi mua anh là xong.

Đau khổ nhất là người trí thức há miệng mắc quai và do đó cứ phải tự biện minh. Có người biện minh theo ngắn hạn: trước mắt không có phương án thiết thực nào khác, phải can trường khuyên can, dâng sớ. Họ vẫn suy luận như trong thế kỷ 19. Tiếc thay, ngày nay, cả dân tộc huy động trí tuệ và khả năng của mình chưa chắc đã thoát được cảnh chậm tiến, huống hồ một minh quân, một đảng! Có người biện minh theo lối dài hạn: dân tộc Việt Nam còn ở trình độ thời Trung cổ, phải im lìm cố gắng nâng nó lên trình độ của thời đại thì mọi chuyện sẽ tự giải quyết, cứ cặm cụi dạy nó toán, khoa học, văn chương, nghệ thuật... sẽ có ngày. Nhưng có ai chấp nhận sống theo sự sợ hãi và giả dối mà đạt được đỉnh cao của trí tuệ hay nghệ thuật?

Vấn đề lớn nhất của Việt Nam hôm nay là thoát cảnh chậm tiến. Con đường xã hội chủ nghĩa theo kiểu Liên Xô hay Trung Quốc đã phá sản. Hiện nay có vẻ như có ba con đường:

1. Sự phát triển của kinh tế thị trường sẽ dẫn tới sự xung đột có thể đẫm máu giữa giai cấp nắm kinh tế và một nhà nước lỗi thời. Sự xung đột này có thể kết thúc bằng một bước lùi về ngõ cụt trước thời 1986 hay bằng một chế độ độc tài của giai cấp tư sản mới, gắn liền với các lực lượng tư bản quốc tế để khai thác Việt Nam. Mô hình Thái Lan, Nam Triều Tiên, Đài Loan.

2. Chính guồng máy đảng biến thành cái cầu cho tư bản quốc tế khai thác Việt Nam, thành lập một chế độ độc tài quân phiệt gắn liền với các lực lượng kinh tế tư bản. Vẫn mô hình Thái Lan, Nam Triều Tiên, Đài Loan... Đó cũng là giấc mộng của các nhà cầm quyền hiện nay. Trong hướng đó, Đảng và Nhà nước vẫn là một, dù phải nhỏ đi vì kinh tế Việt Nam và kinh tế các nước sẽ đầu tư vào Việt Nam không thể nuôi cái guồng máy khổng lồ hôm nay. Lúc đó Đảng chỉ còn là cây cảnh cho một tập đoàn nửa tư sản dân tộc nửa tư sản mại bản. Lúc đó 50 năm kháng chiến chỉ để thực hiện giấc mộng của Thiệu Kỳ. Đây là khả năng lớn nhất: guồng máy Đảng cộng sản Việt Nam đang thực hiện nó với sự đồng tình của thế giới tư bản và, bất kể họ nghĩ gì, các lãnh đạo lịch sử của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc đã và đang bất lực trước guồng máy đó.

3. Dân tộc Việt Nam tự mình xây dựng một Nhà nước hiện đại. Một Nhà nước hiện đại là một Nhà nước huy động được tới mức tối đa lý trí, tài năng, sinh lực của toàn bộ xã hội vì nó giải quyết được một cách hoà bình và ổn thoả, trong điều kiện của thời đại, những mâu thuẫn nội tại của xã hội. Dĩ nhiên, đó là một Nhà nước dân chủ, pháp quyền. Ai có thể xây dựng một Nhà nước như vậy? Chắc chắn không phải Đảng. Một mặt, hiện nay Đảng và Nhà nước là một. Quá trình hình thành của Nhà nước Việt Nam hôm nay cũng là quá trình phát triển của Đảng: Đảng lập chi bộ đến đâu, Nhà nước lập cơ quan đến đó. Mặt khác, cả hai đều là con đẻ của chiến tranh. Quyền lực của chúng là quyền lực của chiến tranh: quyền sinh sát! Cuối cùng, Nhà nước thực của một xã hội gắn liền với ý thức chính trị của người dân.

Xem lịch sử Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay, những cuộc vùng dậy của nhân dân đều là những cuộc vùng dậy của nông dân. Mục đích của chúng vẫn là: thay một ông vua, một ông chúa bạo tàn bằng một vị minh quân, minh chúa, hay đánh đuổi ngoại xâm để lập một triều đình mới dù triều đình ấy mang tính chất tập thể. “ Ý dân là ý trời” đúng trong hai nghĩa: 1/ không chế độ nào mất lòng dân mà không sụp, 2/ khi một chế độ còn tồn tại được ấy là vì dân chẳng biết muốn gì hơn. Chỉ có ngày nào ý dân không còn là ý trời nữa, chỉ là ý dân và, với tư cách ấy, bắt thực tế thay đổi, bắt lịch sử xoay chiều, thì Việt Nam mới có cơ ra khỏi thời Trung cổ. Muốn có một chế độ dân chủ pháp quyền, điều tiên quyết là phải xây dựng được ý thức công dân trong xã hội. Ai có thể làm chuyện ấy? Không có gì ngăn cản Đảng cộng sản làm chuyện ấy. Và cũng không có gì cho phép ta mơ hồ nó muốn làm: điều đầu tiên phải làm là huỷ bỏ chuyên chính vô sản của nó, giải thể cái Nhà nước toàn quyền sinh sát của nó. Điều đó có thể có nhiều người cộng sản tán thành, nhưng không bao giờ cái bộ máy cầm quyền kia hưởng ứng. Như thế, người duy nhất có thể làm chuyện ấy chính là người dân. Muốn thế, điều đầu tiên là thoát ly khỏi sự giả dối: chế độ này không tất yếu, nó tồn tại vì ta chấp nhận nó tồn tại. Để thoát ly sự giả dối ấy, tất nhiên phải chế ngự được sự sợ hãi. Đó là chuyện lương tâm của mỗi người, vì sự sợ hãi ấy muôn mặt: cơm áo, tương lai con cái, sự an nhàn của lương tâm... Đấy là ý nghĩa cơ bản của con người, cuộc sống, lời nói và hành động của Dương Thu Hương: đừng sợ, đừng giả dối với chính mình.

Một chế độ dân chủ, pháp quyền có khả năng đưa một dân tộc thoát khỏi sự chậm tiến không? Câu hỏi này cách đây vài năm chẳng ai thèm đặt. Công nghiệp của Liên Xô xây dựng dưới Stalin. Bốn con rồng Đông Nam Á tuy ít đẫm máu hơn cũng chẳng tự do dân chủ gì. Không kể tới các boom kinh tế của Brazil và vài nước châu Mỹ La tinh mà người ta tán tụng cách đây vài năm khi chưa phá sản. Không kể các nước Arap và châu Phi. Cái giấc mộng xây dựng một nền kinh tế hùng cường bằng một kỷ luật thép, bằng một chế độ độc tài ngày càng tan biến. Lý do khá đơn giản. Ngày nay rừng vàng biển bạc và lao động rẻ không còn là yếu tố quyết định trong cuộc cạnh tranh không thương tiếc của thị trường quốc tế. Dầu hoả, hầm mỏ, nhân công rẻ của biết bao nhiêu nước được ưu đãi hơn Việt Nam nào có cho phép họ thoát cảnh chậm tiến. Còn như Nhật, tài nguyên có gì mà chinh phục cả thế giới về kinh tế? Trong kinh tế ngày nay, trí tuệ là yếu tố quyết định. Phải có nó mới vận dụng hữu hiệu được mọi yếu tố thuận lợi khác và hạn chế được các yếu tố bất lợi. Dân tộc Việt Nam vận dụng tột độ trí tuệ của mình chưa chắc đã tìm được con đường bước vào thế kỷ 21 một cách bình đẳng với các nước phát triển trên thế giới huống hồ một minh quân, một minh đảng hay một nhúm người! Nhưng cũng không gì chứng minh rằng sáu, bảy mươi triệu người Việt Nam tự do lại ngu muội và bất lực hơn một dân tộc khác trên thế giới ngày nay. Con đường thoát sự chậm tiến, lệ thuộc là con đường nhân loại còn phải sáng tạo. Ai có thể sáng tạo trong sự sợ hãi, trong sự giả dối với chính mình?

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss