Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Báo cũ / Số 12 / Niềm tin khủng khiếp

Niềm tin khủng khiếp



Niềm tin khủng khiếp


Trần Đạo

 

“Văn học là nhân học” (l). Con người, con người cá nhân, thân phận của con người, sự thật, con người và sự thật, sự thật của con người...

Đó là những đề tài trọng tâm trong một loạt bài lý luận văn học chuẩn bị đại hội 4 Hội nhà văn Việt Nam. Tiếp theo những ngòi bút sáng tác, những ngòi bút lý luận trở mình.

Ta sảng khoái nghe nhà lý luận đòi văn học “ đối diện với cuộc sống”, “ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” (2), “không chỉ có nhiệm vụ phản ảnh hiện thực” “từ nhiều góc độ khác nhau”, còn “phải tham gia vào việc tạo ra môi trường đạo đức mới” (3), khẳng định “ sáng tạo là tự do”, “tự do sáng tạo là cốt lõi nhân cách của nhà văn”, “cách mạng và sáng tạo là quá trình tự phủ định” (4), tố cáo thói suy nghĩ “muốn mọi con người phục tùng những chân lý trừu tượng, rập khuôn vĩnh cửu, bất chấp quy luật, lẽ đời, càng bất chấp cá tính con người” (5), kêu gọi nhà văn chấm dứt dùng con người làm “ phương tiện để trình bày lịch sử”, đòi hỏi “ quan sát và khám phá về con người”, “mô tả con người”, “giúp con người trở thành con người” xuyên qua “ nhận thức toàn bộ sự thật” “con người là một điều bí ẩn”“ con người với tất cả quan hệ của nó, thân phận và cuộc đời của nó chính là đối tượng và cũng là nội dung đặc trưng cơ bản nhất của văn học” (6).

Lê Ngọc Trà (6) còn vạch rõ, mô tả con người “ đây không phải vấn đề miêu tả tâm lý nhân vật mà cơ bản là chủ nghĩa nhân văn, là quan niệm về con người”, và khuyến khích sử dụng những phương pháp “của thế kỷ chúng ta là thế kỷ tư duy phân tích” trên “con đường khổ ải của tài năng, của ý thức con người trong cuộc hành hương đi tìm tự do, chân lý và lẽ phải” để “ hình thành nhân cách và cá nhân con người, củng cố ý thức về phẩm giá và tự do của mỗi con người sống trong xã hội”. Như vậy, dưới ngòi bút nhà văn “ nỗi đau riêng mới trở thành nỗi đau nhân loại”, “một cuộc đời mới được so với vũ trụ và mỗi con người ra đi là cả một thế giới mất đi, không gì bù đắp nổi”“ con người là chủ thể của lịch sử”, vì “ hạnh phúc, tự do và sự phát triển của con người là cái đích của mọi cuộc cách mạng”.

Nếu ta thấy những điều ấy đương nhiên, ta phải giật mình: ở nước ta chúng không đương nhiên; bản thân những bài đó là bằng chứng! Tại sao? Tại sao có tình trạng phải đấu tranh cho những chuyện hiển nhiên đó?

Nhà văn thật khó hiểu. Trong nghìn kế sinh nhai sao lại chọn “nghề” quái dị này? Mà có thể gọi nó là “nghề” chăng? Sản phẩm của nó là gì? Ở đâu? Cuốn sách là sản phẩm của nhà in, ta có thể tính giá thành, giá bán, lời, lỗ; ta có thể cầm trong tay, thấy nặng nhẹ; ta có thể dùng nó để phục vụ một nhu cầu bình thường trong cuộc sống: nó có giá trị sử dụng, có giá trị trao đổi, nó là hàng hoá, một sản phẩm của lao động sản xuất xã hội. Còn “cái” núp trong sản phẩm kia, làm sao phát hiện, xác minh sự hiện thực của nó? lấy đơn vị đo lường nào đo sự nặng nhẹ, giá trị sử dụng, giá trị trao đổi? Bí quá, ta chấp nhận: nó là sản phẩm tinh thần, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người. Và ta tôn trọng nhà văn như nhà nghiên cứu khoa học, những người hiến thân cho sự thật cho con người, với sự dũng cảm của những kẻ “ hành hương đi tìm tự do, chân lý và lẽ phải”...

Nếu động cơ đó khiến nhà văn lao vào “nghề”, tại sao có người biến thành công cụ minh hoạ, bồi bút, quan văn áp bức người khác? Vì tha hoá? Thật khó tin: ở nước ta thiếu gì lãnh vực dễ thành công và bổ béo hơn cho sự tha hoá, dại gì thí thân vào trận địa vô cùng ngột ngạt, nguy hiểm và tiền còm này? Và sao đông thế? Sự kiện này phải hiểu trên cơ sở: họ chân thành. Chính niềm tin vào sự thật đã dẫn dắt họ. Chính niềm tin của đảng CSVN vào sự thật là nguồn gốc của những chính sách văn hoá dẫn tới tình trạng hôm nay. Và biết đâu, chính niềm tin vào sự thật sẽ dồn những tác giả trên vào một sự bế tắc tương tự?

Sự thật là gì? Phương pháp nào cho phép phát hiện nó? Làm sao chứng minh nó? Và sự thật của con người?

Như Lê Ngọc Trà nhận xét, thế kỷ này là thế kỷ tư duy phân tích. Trong lối tư duy đó người ta xác định sự thật bằng một tiêu chuẩn: thực nghiệm. Một giả thuyết về một sự vật hay sự kiện được coi như đúng trong một hoàn cảnh cố định khi, áp dụng nó, ta tiên đoán được đích xác sự phát triển của sự vật hay sự kiện trong hoàn cảnh đó. Sự thật đó đòi hỏi một đối tượng, một hoàn cảnh rõ ràng, công cụ xem xét và đo lường, phương pháp phân tích và quá trình thể nghiệm. Con người “ quan sát”, đo đếm, “mô tả”, và “ phân tích” đối tượng đó trong hoàn cảnh đó, vạch ra “ bí ẩn” của nó: quy luật phát triển của nó trong hoàn cảnh ấy. Thí dụ, ta quan sát con người “từ nhiều góc độ”, phân tích cơ cấu của nó bằng nhiều phương tiện kỹ thuật khác nhau, rút ra giả thuyết: bắn cho nó một phát súng ngay tim, nó sẽ gục, giẫy, và tắt thở. Thể nghiệm giả thuyết đó sẽ xác minh được một sự thật.

Loại sự thật này ai cũng có thể nhìn thẳng, không cần dũng cảm. Nói chung, mọi hiện thực khách quan trên đời, dù muốn dù không, con người đều phải nhìn, phải thấy, phải gánh. Hơn nữa, dù quan sát chúng từ 360 góc độ khác nhau, dù phân tích chúng sâu sắc đến đâu đi nữa cũng không thể nào tả và hiểu cho cạn được. Cứ thử tả một khúc gỗ tới tận cơ cấu tế bào, hạt nhân thì thấy.

Một vật vô tri vô giác đã vậy. Còn con người, “cái” bí ẩn nấp sau khối xương thịt “có” thật chăng, “là” cái gì, dùng công cụ nào để quan sát, đơn vị đo lường nào để “đánh giá”, phương pháp nào để phân tích và quá trình thể nghiệm nào để xác định đúng sai? Trên cơ sở nào con người có quyền làm những việc ấy đối với người khác? Trên cơ sở sự thật?!

Đối với những câu hỏi ấy, qua lịch sử, có mấy cách trả lời cơ bản: tôn giáo, khoa học, văn học.

Với tôn giáo, con người “là” giá trị tuyệt đối vì nó “ có” sự thật, nó “là” sự thật, do Thượng Đế. Thượng Đế quá siêu, người thường không hiểu nổi. Trong khi chờ đợi ngày phán xét cuối cùng, thế gian cần những vị thánh, những thầy tu dìu dắt con chiên trên đường hành hương đi tìm chân lý. Trên cơ sở đó một số vị tự thấy có nhiệm vụ, có quyền quan sát, đánh giá, lãnh đạo người khác, và... thể nghiệm một con đường đi “về” chân lý.

Đối với một số nhà “khoa học” mác xít, sự thật của con người ở ngay trong quá trình hình thành, phát triển của loài người, trong lịch sử nhân loại. “Lịch Sử” là sự thật của con người. Lịch sử không là một mớ bòng bong rối loạn. Nó phát triển theo quy luật. Nắm được quy luật ấy thì hiểu được xã hội, hiểu được từng người, hướng dẫn, điều khiển được loài người tới chỗ hoàn mỹ ngay trên trái đất này. Với niềm tin ấy một số người tự thấy có nhiệm vụ, có quyền quan sát con người từ nhiều góc độ (thể xác, kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng...) phân tích, tổng kết toàn diện, vạch ra những đường lối khoa học, đúng đắn, kịp thời... để cải tạo, lãnh đạo con chiên tới sự thật.

Lối suy luận đó về con người là nguồn gốc của tham vọng “ lãnh đạo” văn học nghệ thuật, “uốn nắn sai lầm”... Nó là cơ sở cho quan điểm, chính sách “ lý lịch” trong quản lý xã hội. Đó là một loại “ khoa học gà nòi”. Đối tượng của nó là con người kinh tế - chính trị, phương pháp phân tích của nó là duy vật “biện chứng”, công cụ đo lường của nó là lý lịch, phương tiện thực nghiệm của nó là bạo lực. Những cuộc thể nghiệm lớn nhất, triệt để nhất do Staline, Mao, Pol Pot, Ceaucescu... tiến hành.

Những người ấy đã từng thành công, đã từng nếm thuở vàng son: không phải chuyện tình cờ. Lối suy luận đó có phần đúng: con người muốn sống phải ăn, muốn ăn phải sản xuất, sản xuất phát triển phải có phân công, trao đổi, có quan hệ sản xuất, có giai cấp, v.v... Nó đúng với một khía cạnh của con người: con người lệ thuộc thiên nhiên, con người lệ thuộc con người. Trong phạm vi đó, có một loại quy luật theo số đông mà bất cứ chế độ, bất cứ chính trị gia nào cũng biết vận dụng. Tuy vậy những kiến thức ấy chưa bao giờ dẹp được những khủng hoảng cơ bản trong lịch sử. Bởi vì, nếu con người chỉ “là” vậy, bản thân những quy luật ấy vô nghĩa: muốn có được khái niệm quy luật, ít nhất, mặt nào đó, cũng phải nằm ngoài vòng kiềm chế của quy luật! Vì vậy sự “thành công” kia chỉ tạm thời và phải có ngày suy sụp.

Dĩ nhiên, những tác giả trên không là tín đồ môn “khoa học gà nòi”. Tuy vậy, dùng những từ mang và truyền bá những khái niệm ấy lẫn lộn với một số khái niệm đối kháng thật đáng ngại. Nếu ta suy luận, tranh luận, đối thoại trong lòng những khái niệm ấy, khả năng dậm chân không nhỏ. Phê bình và lý luận văn học khó lòng đổi mới nếu không đổi mới cách đặt vấn đề, khái niệm, ngôn từ.

Mô tả hiện thực là chuyện không ai, không bao giờ, làm trọn được. Nhìn thẳng hiện thực từ nhiều góc độ khác nhau, phân tích nó để khám phá bí ẩn của nó chẳng thể cho ta gặp sự thật của con người. Đó là công việc của nhà khoa học, nhà báo, quan toà, không phải công việc của nhà văn.

Vấn đề ở đây không là nhìn hay không nhìn (không nhìn cũng là một cách nhìn rồi), hoặc nhìn dưới góc độ nào, mà là nhìn với “thái độ” nào: trìu mến, thương xót, phẫn nộ, lạnh lùng, khinh bỉ, căm hận... Thái độ đó là một sáng tác tuyệt đối bất chấp mọi quy luật, nó là tự do, là con người. Nó không có sự thật vì nó là nền tảng của mọi sự thật. Nói đúng hơn, con người vô giá vì nó là nền tảng của mọi giá trị trên đời. Chính đôi mắt ta tạo sự ghê tởm của hành động kia, chính đôi mắt ta tạo vẻ đẹp mê hồn của người đàn bà nọ. Sự sáng tạo đó, vì nó là con người, không có quy luật hay sức mạnh nào dập tắt được, trừ khi giết nó. Vì vậy, mọi quyền lực độc tài tôn giáo cũng như “Lịch sử”,... đều sợ hãi một tình cảm hồn nhiên như tình yêu. Vì vậy, viết văn là khẳng định “chủ nghĩa nhân văn”, “ quan niệm về con người”, là “ tham gia vào việc tạo ra môi trường đạo đức mới”, vì “sáng tạo là tự do”, “ tự do sáng tạo là cốt lõi nhân cách của nhà văn”.

Sự thật đau nhất của con người là nó không “có” sự thật. Không “có” chân lý nào, dù tiềm tàng hay ẩn nấp, đằng sau tim sọ của nó. Tâm hồn nó trong veo, trong suốt, trong tới mức khả nghi! Tâm hồn ấy lại không thể tiếp cận bất cứ một hiện thực nào mà không đồng thời sáng tạo một hình thù, màu sắc, âm hưởng, cảm giác, không sáng tạo hay tái tạo cả một thế giới giá trị, khiến hiện thực kia đượm nhân tình. Nhìn một người ăn mày hay ngoảnh mặt đi đã là lựa chọn, sáng tạo một bộ mặt của nhân loại, của thế giới. Có thế “ mỗi cuộc đời mới được so với vũ trụ và mỗi con người ra đi là cả một thế giới mất đi, không gì bù đắp nổi”. Tâm hồn ấy chính là tự do. Con người chỉ có thể đi tìm tự do vì chính nó (là) tự do. Trong trái đất, ngoài nó ra, không có gì tự do cả. Và con người phải đi tìm tự do vì tự do (là) sáng tạo. “ Văn học là nhân học” trong nghĩa đó: thân phận con người là phải tìm con người, phải tìm chính mình.

“Tìm ở đâu? Tìm cách nào?” Vì con người, tự do, sáng tạo, đồng nghĩa nên những chữ bóc lột, áp bức, trách nhiệm có nghĩa. Không ai bóc lột cỏ cây gia súc. Không ai áp bức sỏi đá. Con người chỉ có thể áp bức con người vì chỉ có con người mới có một cái gì cho người khác áp bức: tự do. Đã (là) tự do, con người trách nhiệm tất cả: thấy hay không thấy người ăn mày bên hè phố, thấy hay không thấy bức tường Berlin sụp đổ... Con người không “phản ánh hiện thực” như một mắt kính. Phản ánh hiện thực vừa là tiếp cận nó, vừa là “phản” nó, không cho nó phép chỉ là nó, tiếp tục là nó, buộc nó “đượm” ánh mắt của ta. Ánh mắt đó là nhân tình của vũ trụ. Dẹp nó đi chỉ còn lại ngổn ngang một đống vật chất rụng rời. “Cách mạng và sáng tạo là quá trình tự phủ định” chính vì chúng là hành động của con người, và con người, ngoài khả năng tự phủ định ấy, chỉ là một khối thịt bọc một mớ xương. Khả năng tự phủ định có ý thức ấy còn gọi là... tự do.

Những người lao mình vào một cuộc chiến đấu hầu như vô vọng cách đây năm, sáu chục năm hẳn là những người yêu tự do, giàu lòng nhân ái, dũng cảm, có đủ trí tuệ để tiếp thu những hiểu biết cần thiết về thời đại để chiến đấu và chiến thắng. Vì sao họ biến thành tín đồ môn “khoa học gà nòi”? Vì danh vọng, quyền lực? Tất nhiên không thể coi thường những tham vọng ấy. Nhưng xưa nay vẫn vậy mà chẳng mấy khi dẫn tới ảo vọng “uốn nắn” tình cảm, lý trí của con người, coi dân tộc như lũ trẻ ngây ngô cần được che chở, bảo vệ, cần phải trường kỳ giáo dục, cải tạo... Cuồng vọng ấy chỉ có thể xuất phát từ một khát vọng cơ bản, thiết thân hơn cả danh vọng, quyền lực, khát vọng đã khiến họ bất chấp mọi quyền lực lao vào cách mạng: nhân cách!

Con người, một bi kịch hài hước! Nó là nền tảng của mọi sự thật, thế mà bản thân nó không có sự thật, không là sự thật. Nó phủ cả vũ trụ với nhân tính, nó sáng tạo mọi giá trị trên đời, nhưng, một mình, nó không tự tạo nhân cách và giá trị được: nó là một sự thiếu hụt trường kỳ, vĩnh viễn. Nói như Marx: nó là “toàn bộ những quan hệ xã hội của nó”, hay như Sartre: “un homme fait de tous les hommes” cũng vậy: nhân cách của nó không chỉ tuỳ thuộc nó, nhân cách của nó còn tuỳ thuộc người khác và người khác, cũng như nó, khủng khiếp thay, là... tự do. Tuy nó là nó mà nó cứ phải chạy theo nó xuyên qua lòng người khác để trở thành nó! Bộ mặt thật của nó do bàn tay ai đâu khắc đẽo. Nói như nhà văn nọ, con đường dẫn ta “tới” ta đi qua lòng em. Chuyện “ giúp con người trở thành con người” có thật, không kém chuyện ép con người trở thành con vật: con người là “kết” quả của một cuộc sáng tạo không ngừng của chính nó và của đồng loại. Do đó, có chuyện đi tìm tự do, chân lý của chính mình, có chuyện nhân học. Con người phải và chỉ có thể tìm chính mình ở đồng loại. Chính vì nỗi đau của nhân loại xâm phạm nhân cách của ta, là nỗi đau của chính ta, mà “nỗi đau riêng” có thể “ trở thành nỗi đau nhân loại”.

Ở đây có câu hỏi hóc búa. Vì sao con người, ngay trong lúc xử sự với nhau như thú, vẫn phải thấy người khác là người, như mình, nghĩa là, xét về mặt nhân tính, ngang hàng với mình, bằng mình, “là” mình. Vấn đề triết học cơ bản này, cho tới nay, chưa có giải đáp lôgíc thoả đáng. Trần Đức Thảo là nhà triết học Việt Nam duy nhất tìm hiểu vấn đề này (“ La formation de l’homme” “Recherches dialectiques”).

Tóm lại, tự do, nhân cách, bản chất của con người, là một quan hệ giữa người với người. Nó là ta xuyên qua người khác. Ta không tự do đối với cỏ cây, thời tiết. Ta tự do đối với đồng loại, xuyên qua đồng loại. Không ai thích “làm vua gà vua vịt” (Nguyễn Huy Thiệp) vì vậy.

Hoàn cảnh éo le đó khiến khát vọng lớn nhất của con người chính là con người và sự đe doạ lớn nhất đối với con người cũng là con người. Không có đôi mắt nào đục hơn đôi mắt người yêu! Chúng chỉ chớp một cái, hạnh phúc của ta có thể tan tành. Nhưng ta cũng chỉ yêu chúng khi chúng còn khả năng chớp và, hãi hùng hơn, còn khả năng liếc người khác! Chúng cứ trong suốt, bất biến như pha lê, ta nhìn vài lần ắt chán. Khoa học và nhân học khác nhau ở điểm cơ bản ấy. Nhà khoa học tìm hiểu những quy luật điều hành sự vận động của thế giới tự nhiên. Nhà văn đeo đuổi mục đích khác: tái tạo và sáng tạo nhân giới. Có nhà bác học phi nhân, vô liêm sỉ. Có đại văn hào mù tịt về khoa học. Dùng kiến thức khoa học để phân tích, tìm hiểu, giải thích, đánh giá nghệ thuật, văn chương là chuyện phi lý. Những môn xã hội học, chủng tộc học, kinh tế học, lịch sử... có thể giúp ta hiểu một số khía cạnh phi nghệ thuật, phi nhân văn của tác phẩm. Chúng chẳng bao giờ giúp ta cảm vẻ đẹp, tình tứ của tác phẩm vì chúng xem xét và “phân tích” khía cạnh lệ thuộc của con người. Lý luận trong hướng đó, vô tình (?), ta áp dụng một quan điểm máy móc trong học thuyết của Marx: phải xem xét quá trình phát triển của nhân loại như một hiện tượng tự nhiên, độc lập với ý chí của con người. Điều này không lạ: rất nhiều môn phái “khoa học” nhân văn Tây Âu hiện nay, ít nhiều, dựa trên tiền đề ấy. Điều này lạ khi nó xuất phát từ một người mác xít: quên một quan điểm ngược lại của Marx. Nhưng, trong vấn đề này, tư tưởng của Marx nhập nhằng. Có lẽ vì, cho tới nay, khoa học chưa trả lời được ước mơ của Gerald Edelman (Nobel de physiologie et médecine, 1972): “Nếu ta không tài nào hiểu được rằng tinh thần dựa trên vật chất như thế nào, thì giữa những tri thức khoa học và sự hiểu biết về chính ta mãi mãi sẽ còn một vực thẳm mênh mông. Bắc cầu vượt qua vực thẳm ấy không phải là không được” (Biologie de la connaissance, Ed. Odile Jacob, dẫn theo Science et Avenir No 547, septembre 1992, tr. 93). Như Marx nhận xét, ngày khoa học giải thích được vấn đề này là ngày triết học cáo chung.

Vì nhân cách của con người tuỳ thuộc đồng loại, vì nó hình thành xuyên qua nhân cách của đồng loại nên có cuồng vọng kiểm soát, lãnh đạo, uốn nắn tư tưởng và tình cảm của con người. Vì con người tư duy bằng ngôn ngữ nên chuyện đầu tiên thường được thực hiện là tước đoạt ngôn ngữ, tước đoạt tự do ngôn luận, buộc con người suy nghĩ qua một ngôn ngữ cố định với ảo vọng ngôn ngữ ấy tạo nghĩa, khơi tình một cách tự nhiên như cây đâm cành cho trăm hoa đua nở ca ngợi một Sự Thật đã được Quy Luật Lịch Sử vĩnh viễn xác định. Ngôn ngữ gỗ giống ngôn ngữ tụng kinh ở mặt đó. Khốn thay, nếu việc đó thành, mục đích phải tiêu vong: mất con người tự do, con người sáng tạo, nhân cách của ta cũng chẳng còn! Còn lại một động vật lang thang giữa hoang vu, với một rừng máy.

Ta phải tìm nhân cách của ta ở đồng loại, nhưng tìm bằng cách nào? Bằng hành động! Qua hành động con người hoà nhập thiên nhiên và loài người vì hành động của con người luôn luôn hình thành và khai triển trong lòng hành động của đồng loại. Một mặt nó thể hiện toàn diện một cá nhân trước thời đại, mặt khác, kết quả thực của nó, và do đó, ý nghĩa thật của nó thể hiện cả nhân loại. Kết quả đó, ý nghĩa đó là gia tài mà ta, cùng đồng loại, gánh từ quá khứ của nhân loại trao lại tương lai. Viết văn là hành động tác động vào ngôn ngữ, môi trường chung, phương tiện chung và hình thái tồn tại sinh động duy nhất của lý trí, tư duy, tình cảm của loài người. Vì ngôn ngữ là con người, tồn tại và tái sinh qua con người, là của riêng ta và của tất cả, là ta và là đồng loại. Viết văn là một cách ứng xử, một cách sống, một cách “làm” người trong nghĩa đó.

Một con người liếc mắt nhìn đời là đã có một thế giới mới, một nhân loại mới đang hình thành. Một con người hạ bút hành văn cũng vậy. Do đó con người càng bớt lệ thuộc thiên nhiên càng cần học yêu tự do của người khác, càng cần nhân văn. Xin chúc lớp người sẽ chôn chúng ta: thế kỷ tới sẽ là thế kỷ của tự do, của sáng tạo, của tình người. Xin chúc em mãi mãi giữ cặp mắt bất ngờ, điều kiện tối thiểu của tình yêu, của hạnh phúc.


Trần Đạo

 

 

(l) Maxime Gorki.

(2) Trần Hữu Tá, Về vấn đề định hướng của văn học trong tình hình hiện nay, Sài Gòn Giải Phóng, 09.07.89.

(3) Nguyên Ngọc, Hiện thực đang thôi thúc người cầm bút, Thanh Niên, 18.06.89.

(4) Ngô Minh, Tự do sáng tạo và nhân cách nhà văn, Thanh Niên, 09.07.89.

(5) Dương Thu Hương, xem Trò chuyện với Dương Thu Hương về Những thiên đường mù: những thiên đường và những nỗi đau (Thảo Đăng, Tuổi trẻ chủ nhật, 23.04.89).

(6) Vấn đề con người trong văn học, Sài Gòn Giải phóng, 02.07.89.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss