Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Báo cũ / Số 13 / Mấy điều tâm đắc về Bác Hoàng Xuân Hãn

Mấy điều tâm đắc về Bác Hoàng Xuân Hãn

Điều mà tôi quý trọng nhất ở bác, đó là cái phong thái bình dị, « an nhiên tự tại » của bác : khi nói về mình, về những người cùng thời hay ngay cả về thời cuộc, bao giờ bác cũng khách quan, chính xác, mực thước, ôn hoà.


    Mấy điều tâm đắc
về bác Hoàng Xuân Hãn



Nguyễn Trọng Nghĩa



Cách đây hơn mười sáu năm, lần đầu tiên tôi được may mắn hầu chuyện bác Hoàng Xuân Hãn vào một đêm hè oi bức ở Paris. Mối cảm tình - hay đúng hơn, sự cảm phục – của tôi đối với bác toát ra khá rõ nét từ bài tường thuật đã đăng trong Đoàn Kết (1).

Sau đó, mỗi năm đôi lần, tôi gặp bác thoáng qua trong các buổi sinh hoạt của cộng đồng mà bác tham dự khá đều.

Cách đây hơn ba năm tôi lại được vinh dự phỏng vấn bác trong suốt hai ngày (tháng 5.1989).

Điều mà tôi quý trọng nhất ở bác, đó là cái phong thái bình dị, « an nhiên tự tại » của bác : khi nói về mình, về những người cùng thời hay ngay cả về thời cuộc, bao giờ bác cũng khách quan, chính xác, mực thước, ôn hoà.

Đối với tôi bác là một trong số rất ít những bậc « chính nhân quân tử » mà tôi được gặp cho đến cái tuổi đáng ra phải « tri thiên mệnh » này : bác là hiện thân của sự tổng hợp hài hoà giữa « tây học » và văn hoá truyền thống.

Bác là nhà tây học : điều đó đã quá hiển nhiên ! Sau khi đậu tú tài tây (1928), bác sang Pháp học các lớp dự bị ở trường Saint-Louis, Paris (1928-1930) rồi thi đỗ cùng lúc vào trường Cao đẳng sư phạm (Ecole Normale Supérieure) và trường Bách khoa (Ecole Polytechnlque). Bác chọn trường Bách khoa vì nghĩ rằng cái học ở đây có ích hơn cho đất nước (1930-1932). Sau khi tốt nghiệp trường Cầu đường (Ponts-et-Chaussées, 1934), bác về nước nhưng không thể làm công việc kĩ sư vì sự phân biệt đối xử của chế độ thực dân. Bác lại sang Pháp học tiếp và đậu thạc sĩ toán học (1936). Quá trình đào tạo đó đã cho phép bác nắm vững tinh thần và phương pháp khoa học rồi đem ứng dụng vào việc nghiên cứu lịch sử và văn học Việt Nam.

Trong lời « tựa » của quyển La Sơn phu tử, bác trình bày một cách cô đọng quan niệm viết sử của mình : " Tôi đã tham khảo các sách, so sánh với quốc sử và gia phổ. Tôi tìm cách đoán chỗ thiếu, chữa chỗ sai, giữ lấy những lời tục truyền có lí, bác điều vô lý hay đính chính nó lại. Tôi không nói một điều gì mà không dẫn chứng. Có việc gì mà phải đi tới nơi tra xét, tôi cũng không quản ngại (...) Trong khi nền sử học ta mới phôi thai, tôi đã gắng để tránh cái hoạ lẫn sử ký với tiểu thuyết, và để tránh cái tật bạ đâu lấy đó " (2).

Quan niệm này lại được bác khẳng định và phát triển thêm trong bài « tựa » của quyển Lý Thường Kiệt : « Những việc tôi kể trong sách hoàn toàn có chứng và được dẫn chứng (...) Không bịa đặt, không tây vị, hết sức rõ ràng; đó là những chuẩn thằng tôi đã theo, trong khi viết cuốn sách này " (3).

Những tiêu chuẩn (hay « chuẩn thằng ») mà bác nêu ra đó (nói có sách mách có chứng, đính chính tư liệu, khách quan, rõ ràng) cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị và đáng ra phải là những lời tâm niệm của mọi nhà nghiên cứu Việt Nam trong các ngành khoa học xã hội.

Cho mãi đến khoảng 9, 10 tuổi bác mới bắt đầu học chữ Pháp. Thời thơ ấu bác học chữ Hán trong nhà với cụ đồ. Và sau khi ra học ở Vinh, rồi Hà Nội, trong mỗi dịp hè, bác lại về quê (Yên Hồ, La Sơn, Hà Tĩnh) đắm mình trong nền văn hoá truyền thống. Chính nhờ thế mà bác đã thông thạo rất sớm chữ nho, chữ nôm cũng như những lối thi, phú cổ điển. Do đó ta không lạ gì khi thỉnh thoảng đọc dưới ngòi bút của bác, một nhà tân học, những câu văn biền ngẫu hoài cổ, trau chuốt không thua gì một vị túc nho :

« Hai ngôi mộ lấp trong làn cỏ ấy ; mấy gian đền trơ trên núi không cây. Thành Lục Niên lác đác đã rêu xanh, khe Bộc Bố vọt tung vòi nước trắng. Trước mặt, núi nhấp nhô đàn ngựa chạy ; sau lưng, đã sừng sực bức tường ngăn.
Đấy là cảnh tiêu sơ làm cho khách qua thăm phải động lòng trắc ẩn
» (LS, tr. 5).

Và khi làm thơ, bác thường chỉ chọn các lối hát nói, thất ngôn, tứ tuyệt hay bát cú, chứ hầu như không thấy bác làm thơ mới đã rất thịnh vào lúc bác về nước dạy học (từ năm l936).

Với một nhân cách, bản lĩnh và văn hoá như thế, bác đã ứng xử ra sao vào một « thời kỳ mà dân ta đang vùng vẫy, lấy sự hành động làm ý nghĩa đời mình, và đang tung hoành trong cơn lửa đạn, mưu sự sinh tồn cho đất nước », một thời kỳ có « những biến cố làm trời long đất lở » (LS, tr. 9).

Trong lời « tựa » của quyển La Sơn phu tử, viết vào tháng 5.1945, tức là trong khi tham gia chính phủ Trần Trọng Kim với tư cách bộ trưởng giáo dục, bác cũng đã tự đặt cho mình câu hỏi đó : « Nước ta đương qua một thời kỳ biến, nền độc lập mới xây. Từ hồi Pháp thuộc, đến lúc thoát ly, có nên xuất xử thế nào, cũng có lắm người nghị luận. Họa chăng gương phu tử sẽ đủ cho người soi » (LS, tr. 7).

Nhưng cái gương ấy là gì ?

Trong lời « tựa thứ hai » của cùng quyển sách, viết hơn năm năm sau đó (9.1950), bác trả lời : « Trong cơn giông tố, gốc đại thụ đứng im ; giữa dòng nước cuốn, cột đá chân cầu không chuyển ; đó tại đặc tính chắc rắn của gốc cây, cột đá » (LS, tr. 9).

Cái gương của La Sơn phu tử, theo bác, là dù bị « thử thách trong những trường hợp éo le, nhiều khi mâu thuẫn cùng nhau, thế mà chung qui vẫn trọn khí tiết » (LS, tr. 9). Hay nói rõ hơn, « phu tử đã trải qua biết bao cảnh ngộ khó xử, mà phu tử đã xử một cách ung dung, chứ không phải như những người nhờ tài biện luận, dùng mưu mô, miệng lưỡi mà qua được. Phu tử chỉ trọn đời dốc một lòng mộ đạo và tìm phương hành đạo. Hành không được là tại không gặp thời » (LS, tr. 205).

Trong một chừng mực nào đó, tôi nghĩ cái cảnh ngộ, cái tâm sự của bác Hãn hơi giống La Sơn phu tử mà bác là hậu duệ.

Trong Một vài kí vãng về Hội nghi Đà Lạt, bác đã nhận định như sau về mình : « Trong hồi làm giáo toán học, tuy tôi không làm chính trị nhưng cũng không hề giấu ý kiến về chính trị và thời thế, khi có dịp bày tỏ ý mình. Cũng nhờ vậy mà tránh được mọi cạm bẫy hư danh chính trị » (4).

Đúng như thế ! Bác không phải là nhà chính trị và càng không phải là nhà hoạt động cách mạng : trước sau, bác vẫn chỉ là một nhà trí thức độc lập, không đảng phái, thiết tha với độc lập và thống nhất. Do đó bác hành động theo lương tri và lương tâm của mình, hoàn toàn không câu nệ.

Trong thời Nhật chiếm Đông Dương, chính khách Pháp tại đây đã để ý đến bác và một số bạn hữu. Thỉnh thoảng toàn quyền Đông Dương Decoux mời bác đến gặp. Bác giao thiệp cả với tướng Mordant, người cầm đầu phe kháng chiến Pháp ở Đông Dương.

Với Decoux hay Mordant, bác đều nói rõ lập trường của mình là chỉ khi nào « chính phủ Pháp đổi hẳn chính sách đối với các nước Đông Dương thì những người như (bác) mới hợp tác về chính trị được » (KV, tr. 15). « Lập trường hợp tác có điều kiện » (hợp tác nếu Việt Nam được hứa trả độc lập thống nhất) của bác chắc chắn là không được sự đồng tình của phần lớn các đảng phái lúc bấy giờ, đặc biệt là của Việt Minh chủ trương « đánh đuổi cả thức dân Pháp lẫn quân phiệt Nhật ».

Cũng chính vì có lập trường như thế nên sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9 .3 . 1945), và « tuyên bố để Việt Nam tự chủ vận mệnh của mình » (KV, tr. 11 ), bác đã chấp nhận tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, được thành lập ngày 17.4.1945.

Có lần tôi hỏi bác về chính phủ Trần Trọng Kim, bác cho biết mục đích của chính phủ này là tránh cho đất nước tình trạng vô chính phủ rất nguy hiểm cho tương lai chính trị của Việt Nam, dù lúc đó mọi người đều biết là thế nào Nhật cũng sẽ bại trận.

Trong cuộc gặp cụ Hồ vào chiều ngày 13.10.1945, bác cũng đã trình bày những ý kiến tương tự : « Chủ trương của mặt trận (Việt Minh) là chống Pháp và chống Nhật. Chống Pháp là chí nguyện tất nhiên chung cho cả nước. Chống Nhật cũng là tất nhiên cho cách mạng và thuận với Đồng minh đang thuận với độc lập Việt Nam. Vậy cả hai khẩu hiệu ấy là hợp. Nhưng trong hành động, sau ngày Nhật diệt chính quyền thực dân Pháp và tuyên bố để Việt Nam tự chủ vận mệnh của mình, tự nhiên rằng người cách mạng chống Nhật không thể ra công khai nhận lấy chủ quyền cho nước. Con thuyền bị buộc đã được cắt dây. Nước tự hào có lịch sử vẻ vang, gồm hăm lăm triệu người, há lại để thuyền trôi không lái. Cả Nhật, Pháp, và Đồng minh sẽ đánh giá lòng yêu chuộng độc lập của dân ta ra sao ? Vì vậy đã có chính phủ Trần Trọng Kim. Chỉ tiếc rằng Mặt trận không làm dễ cho chính chủ công khai quản lí việc dân và dự bị sự giao tiếp khi quân Nhật tất phải đầu hàng. Dẫu sao, sau khi Nhật đầu hàng, Mặt trận ra nắm chính quyền là hợp lẽ và có thế lợi cho độc lập được nhìn nhận. Nghĩ như vậy, chính phủ Trần Trọng Kim đã có động tác cuối cùng là khuyên cựu hoàng mời các nhà cách mệnh ra chính thức lập chính phủ, nhưng thiếu chuẩn bị, sự ấy không thể thành. Kết quả là những tổn thất về vật chất và tinh thần trong khi cướp chính quyền và không thể lợi dụng sự hoang mang của quân nhân Nhật khi được lệnh phải đầu hàng » (KV, tr. 11).

Ta có thể bàn luận xem những tính toán ở trên đây có phù hợp với thực tế chính trị lúc đó hay không nhưng ta không thể không cho rằng những lời nói của bác Hãn là chân thành.

Nhận định sau đây của Philippe Devillers về chính phủ Trần Trọng Kim rất đáng cho chúng ta suy nghĩ : « Gồm những người trẻ tuổi, được đào tạo theo tây học và có chất lượng, chính phủ này sẽ gánh vác ba nhiệm vụ : nhanh chóng lấy từ tay người Nhật sự chuyển giao quyền lực chính trị và hành chính, và sự thanh toán bộ máy của phủ toàn quyền, tiếp theo là việc thực hiện sự thống nhất của Việt Nam, tức là trao lại Bắc Kì và, sau đó, Nam Kì cho chính phủ Huế. Từng giai đoạn, họ muốn lấy từ tay người Nhật điều họ đòi hỏi. »

« Cuối cùng họ muốn thổi vào trong toàn dân tinh thần dân tộc tình yêu nước được xây dựng trên một nền giáo đục hoàn toàn mới ».

« Thực ra, những người này biết rằng chiến tranh đã đi đến một khúc ngoặt quyết định và Nhật chắc chân sẽ thú nhận bại trận. Trước khi cuộc xung đột chấm dứt, cần phải tạo ra cho được một tình hình không thể đảo ngược (situatlon irréversible), làm hồi sinh một nước Việt Nam, một nhà nước Việt Nam thống nhất có đủ phương tiện đòi bắt Liên Hiệp Quốc phải nghe mình vào lúc giải quyết (vấn đề Việt Nam) » (5).

« Chính phủ Huế, vào các tháng 7 và 8 đã đòi được từ Nhật nhiều nhượng bộ quan trọng : vào tháng 7, phá vỡ bộ máy của phủ toàn quyền (Gouvernement général) và chuyển giao cho Việt Nam những dịch vụ nhà nước, và, sang đầu tháng 8, trả lại Nam Kì cho Việt Nam. Những khâm sai được bổ nhiệm ở Bắc Kì và Nam Kì. Ngày 8.8, sự thống nhất của Việt Nam đã được thực hiện » (sách đã dẫn, tr. 69).

Tất cả vấn đề là từ đầu tháng 8, chính phủ Huế và ngay cả quân Nhật không còn kiểm soát được tình hình trong khi đó Việt Minh hoạt động mạnh mẽ khắp nơi.

Có lẽ vì không theo đảng phái nào cả và vì đã tham gia chính phủ Trần Trọng Kim nên, sau khi chính phủ dân chủ cộng hoà được thành lập, bác đã « được bỏ quên, yên phận sửa soạn thi hành sự dạy và viết sách môn toán học bằng tiếng Việt và nỗ lực cứu vớt những sách tàn giấy cũ mà bấy giờ nhân dân cho đã lỗi thời, đưa bán làm hồ, làm giấy lộn khắp đường Hà Nội » (KV, tr. 8).

Nhưng trước sự « kình thị và công kích và công kích giữa các đảng phái » mà nếu « khuếch trương thành đại loạn thì nước Việt Nam không còn hi vọng gì sống lại nữa », bác đã đến gặp cố vấn Vĩnh Thuỵ và đề nghị cựu hoàng « nên khuyên chính phủ dàn xếp một cách ổn thoả và chính đáng với những người yêu nước thuộc những đảng khác để cùng đối phó với thời cơ cực kì gian nan » (KV, tr. 9).

Do sự trung gian của cố vấn Vĩnh Thuỵ, chiều 13.10.1945, bác đã gặp chủ tịch Hồ Chí Minh trong hơn một giờ và nói với cụ Hồ những ý chính sau đây :

- « Nay ta chưa độc lập, đang cần dư luận ngoại bang bênh vực. Nếu tỏ ra bất lực, hoặc có thái độ độc tài thì khó lòng họ giúp mình » (KV, tr. 10).

- Bác đề nghị « hợp tác thành thật » với Nguyễn Hải Thần.

- « Nói về chính phủ (Hồ Chí Minh) thì chủ trương đại thể chính trị hợp lẽ, nhưng hành động hình như tưởng đã thành công cho nên sợ chia trách nhiệm và chính quyền. Chắc riêng chủ tịch hiểu rằng đường đi đến độc lập và thống nhất còn dài và khó, nhưng đại đa số còn lầm tưởng gần xong » (KV, tr. 11).

Khi từ giã cụ Hồ, bác « cảm động vì đã có dịp tỏ nhiều lời tâm huyết, vì thấy vận mệnh của dân nước đè trên vai một vị cách mệnh thâm niên gầy ốm, nhưng tinh thần tinh anh, mặc tĩnh, thâm trầm và cử chỉ ôn tồn, gãy gọn và kiên quyết » (KV, tr. 11).

Tiếp sau đó là một loạt sự cố quan trọng đã xảy ra :

- 6.1.1946 : bầu cử quốc hội với 70 ghế đại biểu dành cho các nhóm Quốc dân đảng và Đồng minh hội.

- 3.3.1946 : thành lập chính phủ « đoàn kết kháng chiến » (chủ tịch : Hồ Chí Minh ; phó chủ tịch : Nguyễn Hải Thần ; bộ trưởng nội vụ : Huỳnh Thúc Kháng ; bộ trưởng ngoại giao : Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh)...)

  • 6.3.1946 : ký kết Hiệp định sơ bộ.

    Nhận định về Hiệp định sơ bộ 6.3, bác viết : " Lấy tình cảm mà xét, hầu hết quốc dân đã thất vọng hai ước nguyện ĐỘC LẬP và THỐNG NHẤT có thời gian tưởng đã đạt, nay bị tiêu tan » (KV, tr. 6). Nhưng bác cũng thấy rằng " trước thái độ hững hờ của các cường quốc, biết binh lực mình còn non nớt không thể công nhiên đương đầu với cơ khí của Anh, Mĩ mà quân Pháp được trang bị, chính phủ liên hiệp kháng chiến chỉ có hai đường : một là chống lại bằng vũ lực nhưng rồi phải bỏ các đô thị để kháng chiến một cách anh dũng nhưng tối tăm như các tiền bối Trương Công Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám ; hal là chịu lép đương thời để được Pháp và quốc tế nhìn nhận có nước Việt Nam, rồi tựa vào dư luận dân Pháp và dân toàn cầu và nhất là vào sự đồng tâm kiên quyết không chịu nô lệ của quốc dân, để tái lập dần dần sự hoàn toàn độc lập » (KV, tr. 7).

    Chính vì chọn lựa con đường thứ hai nên bác đã chấp nhận tham gia phái đoàn Việt Nam ở Hội nghị Đà Lạt (18.4 – 11.5.46), do Nguyễn Tường Tam làm trưởng đoàn và gồm 24 trí thức có tên tuổi thời bấy giờ.

    Đối với bác, ba tuần thương thuyết ở Đà Lạt là một chuỗi ngày đầy đau đớn và phẫn nộ trước thái độ phá hoại có hệ thống của phái đoàn Pháp, nhưng đồng thời cũng đầy hy vọng về khả năng hợp tác đoàn kết giữa những nhân vật, đảng phái thuộc khuynh hướng khác nhau, vì quyền lợi dân tộc.

    Về điểm sau này, lịch sử đã chứng minh là bác quá lạc quan. Bi kịch mà nhân dân Việt Nam đã sống trong gần nửa thế kỷ nay đã đành chủ yếu phát xuất từ cuồng vọng thống trị tại Việt Nam của Pháp bằng chính sách chia để trị và bằng võ lực nhưng ta cũng không chối cãi được rằng song song với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, còn có cuộc đấu tranh giành quyền bính và ngay cả độc quyền chính trị.

    Trong cuộc tranh giành quyền bính đó, một trí thức như bác thật khó tìm ra chỗ đứng phù hợp với lập trường ôn hoà, độc lập của riêng mình.

    Giả sử người Pháp lúc đó ít khinh thị, ngoan cố (6) hơn đối với dân tộc và chính phủ Việt Nam, chấp nhận để Việt Nam từng bước thực hiện độc lập và thống nhất trong khuôn khổ của Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp (theo văn bản và tinh thần Hiệp định sơ bộ 6.3), có lẽ chiến tranh Việt-pháp đã không xảy ra : cuộc diện chính trị của Việt Nam, Đông Dương, Pháp và ngay cả thế giới vì thế chắc sẽ khác đi nhiều lắm !

    Nhưng ta không thể làm lại lịch sử !

    Tiện đây cũng nói thêm rằng trong Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt, bác đã vẽ phác vài bức chân dung thú vị :

    Võ Nguyên Giáp : « Lần này là lần đầu tiên tôi biết cá nhân Võ Nguyên Giáp. Trái với những tiếng đồn là người róng riết, Giáp đã tỏ thái độ nhã nhặn, có tình cảm nhiều, nhưng ý tưởng thì rất cương quyết. Trong ba tuần ở cùng nhau, làm việc cùng nhau, xa không khí sôi nổi ở thành thị dưới đồng bằng, tôi đã nhìn thấy rõ cái bản lệnh (personnalité) đặc biệt của nhà cách mệnh trẻ tuổi này " (KV, tr. 22).

    Trong phiên họp cuối cùng ngày 11.5.46 bàn về vấn đề thống nhất ba kì, trước những luận điểm quá khinh miệt của Torel, Pignon..., « Giáp ngồi trên cạnh tôi cạy cựa, coi chừng không thể nín giận được nữa. Bèn đứng phắt dậy, ôm cái cặp nặng, đi chóng ra cửa, trước mặt các hội viên sửng sốt. Khi ra khỏi cửa rồi, ảnh đóng cửa cái sầm ! » (KV, tr. 18). Đối với bác, « đó là tiếng sấm đầu tiên trong cơn giông tố(...) sẽ lôi cuốn dân Việt vào một cuộc chiến tranh bắt buộc để giành Độc lập và Thống nhất cho Tổ quốc " (KV, tr. 69).

    Nguyễn Tường Tam : « Ảnh người cao nhưng gầy, mặt dài má lép, chút râu trên mép, đôi mắt to nhưng ra vẻ mệt nhọc hay chán chường. Cử chỉ lễ độ, ăn nói chững chàng (. . . ) đoan nghiêm và đúng mức. Không làm thẹn chức vụ bộ trưởng ngoại giao và chủ tịch phái đoàn Việt Nam » (KV, tr. 44). Lúc bấy giờ, Nguyễn Tường Tam đang đứng vào một « địa vị rất khó ». Với tư cách là trưởng phái đoàn Việt Nam, ông phải bảo vệ lập trường ôn hoà chứa đựng trong Hiệp định sơ bộ mà các đồng chí của ông vẫn gọi là « bán nước ». Qua các cuộc hội đàm, ông thấy rõ là trước thái độ của phái đoàn Pháp, việc bảo vệ lập trường đó thật không dễ chút nào. Hơn nữa ông cũng ý thức được cái thế yếu của đảng ông trong cuộc tranh thủ quần chúng với Mặt trận Việt Minh. Do đó mà có hôm ông nói với bác Hãn : « Những việc chính trị, thôi để các anh làm. Còn tôi thì về với văn hoá mà thôi » (KV, tr. 59).

    Về phần bác Hãn, sau buổi họp báo cáo của phái đoàn ở phủ chủ tịch (13.5.46), bác lại « được rút lui về chăm việc văn hoá » (KV, tr. 76).

    Hành động chính trị chính thức cuối cùng của bác có lẽ là việc tham dự cuộc đón tiếp đô đốc d'Argenlieu của cụ Hồ (19.5.46).

    « Tôi ngồi một góc, nhìn hai chủ khách mà ngán cho cái trò điển lễ ngoại giao. Một bên đắc thế, muốn bóp cổ người, mà vẫn làm như thân thiện. Một bên biết vậy, mà phải có thái độ hồn nhiên.

    Cụ chủ tịch hồi đó khí sắc trông đã vững. Kinh nghiệm đưa đón của một quốc trưởng đã khiến cụ có đáng điệu chững chàng tuy giản dị. Cái trách nhiệm bảo vệ nền tự chủ bấp bênh đang đè nặng trên vai, mà cụ không tỏ vẻ lo âu, bực tức chút nào » (KV, tr. 77).

    Nhìn chung có thể nói rằng quan niệm hành động của bác không khác với lẽ « xuất xử », « dụng nhi tắc hành xả nhi tắc tàng » của nho sĩ ta thời xưa là mấy. Quan niệm đó có lẽ không còn hợp với đời sống chính trị ngày nay chủ yếu dựa trên quan hệ hợp tác hay đối kháng giữa những đảng phái chính trị, nhưng không phải vì vậy mà không có cái cao đẹp của nó.

    Giai đoạn « xuất » của bác dài chỉ hơn một năm (17.4.45 - 19.5.46) : trong cả hai lần được mời ra làm việc nước (tham gia chính phủ Trần Trọng Kim và Hội nghị Đà Lạt), bác đều không được toại chí nhưng điểm lại cũng chẳng có điều chi để tự trách mình vì trong cả hai lần bác đều chỉ nhắm góp phần giành lại độc lập và thống nhất.

    Trong giai đoạn « xử » kéo dài cho đến nay (gần nửa thế kỷ), song song với những công trình nghiên cứu về lịch sử và văn học Việt Nam, bác vẫn không ngừng quan tâm theo dõi những thăng trầm của vận nước và vẫn chờ cơ hội ra giúp nước.

    Trước sau như một, bác vẫn thiết tha với hai mục tiêu độc lập và thống nhất.

    Trong lời tựa của quyển Lý Thường Kiệt, viết vào năm 1949, bác cho biết : « chính cuộc chiến tranh giành độc lập của dân tộc ta (. . .) đã giục tôi vội đưa bản thảo hiến độc giả » và bác mong « ai nấy thấy rằng lòng dũng cảm, chí quật cường của dân tộc ta ngày nay có cỗi rễ rất xa xăm » (tr. 14).

    Bác cũng « mong ai nấy nhận thấy một cách rõ ràng, cụ thể, sự nguy hiểm của một cuộc ngoại xâm, nhận thấy sự lo việc nước không phải chỉ ở đầu lưỡi, mà cần hết cả lòng hi sinh, trí sáng suốt để xếp đặt, tính toán ».

    Là một công trình sử học công phu, quyển Lý Thường Kiệt còn chứa đựng cả một bầu tâm sự mà bác muốn gửi đến người đọc : « Đọc xong đoạn sử này, độc giả sẽ thấy, cách đây ngót nghìn năm, cha ông ta đã đủ tài năng, nghị lực để xây dựng, tổ chức và gìn giữ khoảnh đất gốc cỗi của tổ quốc ta ngày nay ; độc giả sẽ nhận thấy huyết quản của chiến sĩ bây giờ vẫn chan hoà máu nóng của tổ tiên, máu nóng mà không lẽ có người không mang một giọt. Dẫu trong nhất thời, có kẻ lỡ lầm làm hại nước, hoặc con dân một nước có ý tưởng dị đồng, trước nạn bại vong, giọt máu ấy cũng đủ gây nên chí quật cường, lòng tương ái.

    Vẫn biết tương lai là thế giới đại đồng ; nhưng trước lúc ấy nước mình phải là một nước thật » (LTK, tr. 15).

    « Một nước thật » nghĩa là gì ? Trong nhiều thập kỷ, đối với dân tộc Việt Nam, đó là một nước độc lập và thống nhất.

    Sau hơn một thế kỷ đấu tranh, Việt Nam đã được độc lập, thống nhất và, kể từ khi quân đội Việt Nam rút khỏi Cam bốt, hoà bình : đó là những dữ kiện cơ bản không thể nào quên được khi suy nghĩ về những vấn đề chính trị của Việt Nam.

    Cơ bản nhưng chưa đủ vì vào cuối thế kỷ XX này, đồng bào ta còn cần cơm no, áo ấm... và - tại sao không ? - cả tự do, dân chủ nữa .

    Năm nay bác Hãn đã 85 tuổi ta. Tôi viết mấy dòng này để chúc thọ bác và đồng thời để ôn lại những bài học mà tôi tâm đắc được về bác: khách quan, ôn hoà, mục thước ... và an nhiên tự tại. Âu đây cũng là dịp để răn mình.


    Nguyễn Trọng Nghĩa

    (bài đã đăng Diễn Đàn số 13, 11.1992)


      (1) N.M., Ba giờ với giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Đoàn Kết ngày 3.7.1976, tr. 3.

      (2) La Sơn phu tử (viết tắt LS), Minh Tân, Paris, 1952, tr. 6,7.

      (3) Lý Thường Kiệt (viết tắt LTK), Sông Nhị, Hà Nội, 1950, tr. 14.

      (4) Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt (viết tắt KV), Tập san Sử Địa số 23&24, Sài Gòn, 1971, tr. 14.

      (5) Paris-Saigon-Hanoi. Les archives de la guerre 1944-1947, présenté par Philippe Devillers, Gallimard-Julliard, Paris, 1988, tr. 58.

      (6) Thái độ đó hiện rõ trong bức thư đề ngày 5.5.46 của Max André, trưởng đoàn Pháp, gửi chủ tịch Hồ Chí Minh với cái giọng mà bác Hãn cho là « trịch thượng tột bực » : « Nước Pháp mới không tìm cách thống trị Đông Dương nhưng nhất quyết có mặt tại đó. Nước Pháp mới không cho rằng công việc của mình đã chấm dứt, không chịu từ bỏ sứ mệnh văn hoá của mình và cho rằng chỉ có nước Pháp mới có thể đảm bảo việc đẩy mạnh và phối hợp kĩ thuật, kinh tế, ngoại giao và quốc phòng. Cuối cùng, nước Pháp sẽ bảo vệ quyền lợi tinh thần và vật chất của dân mình » (KV, tr. 61).

  • Các thao tác trên Tài liệu

    được sắp xếp dưới:
    Các số đặc biệt
    Ủng hộ chúng tôi - Support Us
    Kênh RSS
    Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

    Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

    www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss