Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Báo cũ / Số 16 / Thi giới Đặng Đình Hưng

Thi giới Đặng Đình Hưng



Thi giới Đặng Đình Hưng


Thuỵ Khuê

 

Thơ tự do không chỉ là một hình thức bãi bỏ niêm luật thông thường trong thơ cổ điển, mà còn thể hiện một nhu cầu, một đòi hỏi, một cần thiết của con người nói những điều muốn nói và nghĩ những điều muốn nghĩ một cách tự nhiên, không bị ràng buộc bởi quy luật của chữ nghĩa và lề luật của đời sống. Thơ tự do, cũng như hội hoạ trừu tượng, vì gạt bỏ những hình thức bề ngoài như niêm luật (trong thơ cổ điển), như tỷ lệ hình thái, phân lệ bối cảnh, ước lệ không gian (trong hội hoạ cổ điển), nên có khả năng mở rộng tâm giới, tìm đến cõi vô biên của tiềm thức mà không một quy luật cụ thể nào của loài người có thể giam hãm nổi.

Gạt bỏ niêm luật còn có nghĩa là tìm đến một trật tự mới cho ngôn ngữ tâm thức, trật tự do chính mình đặt ra hoặc có khi nó tự đến. Trật tự đó thể hiện sức sáng tạo của mỗi cá nhân, không ai giống ai, không ai có thể áp đặt cho ai. Tự do trong thơ hay trong nghệ thuật bao hàm ý nghĩa toàn diện, sinh động và tâm linh: con người, do đó, có thể sống hoàn toàn “tự do” trong một ngục tù hãm giam thể xác. Hoàn cảnh trớ trêu, nghiệt ngã và hạnh phúc đó, Đặng Đình Hưng đã cố gắng tìm đến, đã cố gắng vươn tới trong thi phẩm Bến Lạ 1.

Thi giới Đặng Đình Hưng nơi Bến Lạ quanh quẩn trong một quỹ đạo tròn. Tròn đây là vòng tròn tương sinh trong Xuân Thu nhã tập 2 hay sự bay bổng của tư tưởng trong vùng nội tâm. Tròn đây cũng là vòng tử sinh của một kiếp người. Và tròn đây còn là vòng tròn tù túng, chật hẹp gói trọn Đặng Đình Hưng trong cái án Nhân văn - Giai phẩm đằng đẵng suốt đời.

Đặng Đình Hưng sinh ngày 9.3.1924 tại làng Thuỵ Dương, huyện Chương Mỹ, Hà Đông và mất ngày 21.12.1990 tại Hà Nội. Thi phẩm Bến Lạ của Đặng Đình Hưng xuất bản tại Sài Gòn cuối năm 1991 là một công trình nghệ thuật khác lạ và xa lạ với chúng ta.

Qua lời giới thiệu, Hoàng Hưng viết về hoàn cảnh sáng tác dẫn vào thi giới Đặng Đình Hưng với những lời cân nhắc, hàm súc, và khó có thể chính xác hơn trong nhận định về cảm quan và thế giới quan của Đặng Đình Hưng:

“Bắt đầu làm thơ từ cuối những năm 1950, đến khi qua đời nhà hoạt động nghệ thuật Đặng Đình Hưng để lại sáu tập thơ. Tất cả đều chưa từng công bố rộng rãi, song một vài đoạn trích được in trên các báo vào dịp ông qua đời khiến công chúng thơ sửng sốt vì một tính cách thơ, một thi pháp hết sức độc đáo.

Bến Lạ là bài thơ dài tác giả viết trên giường bệnh vào lúc ông bước đến tuổỉ 60. Từ không gian chật chội cầm tù thân xác : “Tôi lại đi...jữa cái nong hình záng lưng tôi...” ông hành hương vào thế giới vô tận của nội tâm [...].

“Có lúc mỉa mai vì thất vọng, có lúc cố lấy dáng một người hùng, có lúc như lẩn thẩn, ngây dại... Tâm sự rối bòng bong ấy thật ra ai chả có. Chỉ có điều là ông thành thật nói hết. Thật với chính ông vì toàn bộ thơ ông là độc thoại trong nỗi cô đơn khó lòng chia sẻ.

“Có lẽ cái cảm giác khó hiểu khi tiếp xúc lần đầu với thơ Đặng Đình Hưng cũng từ đó. Lại thêm lối nói nhiều chiều, dấp dính, lưng chừng, mâu thuẫn, xa xôi, hàm súc, vốn là lối nói thường ngày của ông” (Tựa, tr. 5&6).

Những lời mở đầu của Hoàng Hưng, người bạn gần gụi tác giả đã dẫn đường cho chúng ta an nhiên bước vào Bến Lạ.

Về hình thức, Bến Lạ có thể gọi là thơ tự do, hay thơ văn xuôi hoặc thơ tự do làm theo thể văn xuôi. Lối cấu trúc gồm những câu đơn (mệnh đề độc lập – theo cấu trúc thơ), xen kẽ những câu phức tạp (gồm mệnh đề chính, mệnh đề phụ, chuyển tiếp bằng liên từ hay không có liên từ – theo cấu trúc văn xuôi) với một vài cách tân, đúng hơn là lập dị trong cách thay đổi mẫu tự: d viết thành z, gi viết thành j... Câu văn thường không chấm, phẩy hoặc không sắp đặt theo thứ tự lôgic: đó là ngôn ngữ riêng của Đặng Đình Hưng, lạ lùng, lập dị, không giống ai.

Dòng đầu trong Bến Lạ, Đặng Đình Hưng viết:

Tôi lại đi...

jữa cái nong hình záng lưng tôi, một bảng đen trước mặt, một vòng phấn zưới chân , zính zính... những con 8 lộn zọc nhẵn thín nam châm gói trong hạt thóc jống của không biết

Đó là một thứ ngôn ngữ bệnh não, ngôn ngữ tâm thần, tự sự nội tâm, qua lớp vỏ bề ngoài bí hiểm, lửng lơ, đứt khúc, ẩn giấu một bề trong đau thương tột độ.

Động tác đi, tôi đi hay anh đi, thông thường thể hiện hình thức tự do của con người: qua hành động đi, con người làm chủ động tác và điều khiển phương hướng theo ý mình.

Nhưng “Tôi lại đi...jữa cái nong hình záng lưng tôi, một bảng đen trước mặt, m ột vòng phấn zướí chân, zính zính... những con 8 lộn zọc nhẵn thín nam châm gói trong hạt thóc jống của không biết” thì khác. Vì động tác đi ở đây bị giới hạn trong quỹ đạo tròn, giống như cái nong – có lẽ là hình ảnh cái lưng gù của ai hay của chính tác giả. Và mỗi bước chân lại được quây kín bởi một vòng phấn. Bao vây hai lần: vòng trong vòng ngoài. Hơn nữa, tôi lại đi, khác với tôí đi. Tôi lại đi có nghĩa là tôi đã đi nhiều lần rồi và lần nào cũng chỉ có thế: chỉ đi được trong cái vòng tròn như cái nong hoặc hơn nữa là cái vòng tròn vặn chéo thành con số 8 lộn dọc, vẫn kín mít mà thôi. Không những thế còn có bảng đen chặn trước mặt, vòng phấn vẽ dưới chân, bồi thêm những yếu tố “ngoại vật”: dính dính, nam châm, gói trong... loại “ngoại vật” thu hút, không nhả ai ra cả. Và sau cùng là... không biết. Tất cả những thứ đó, nhào lên một hợp kim tù túng, một trạng thái đóng, một bi kịch của kẻ bị giam hãm chung thân không biết từ đâu và do một mệnh lệnh nào.

Hiểu được tâm trạng ấy của tác giả, chúng ta dễ dàng đi hết đoạn đường còn lại. Thong thả bước vào thế giới Đặng Đình Hưng, chúng ta lật trang thơ thứ nhì:

Tôi khắc biết mênh mông một cái bẹn Epicure ngập chìa truồng bốn fía cơn mưa tu lơ khơ xanh đỏ con sập sành – bọ ngựa bậu vào nhảy tung! cõng đi chơi trên lưng Nilông - Cactông của Định Mệnh!

Tôi hề biết
/ kể cả quả mít nứt
Tôi đã tìm ở sau cái gương / cũng không có jì hết
Tôi đã tiếp đau thươn g những nhỏ nhỏ thường thường
Đã húp ra đi từng bát những nhạt nhạt mềm mềm
.
và rất ngon

Có nhiều cách cảm nhận những dòng trên đây:

– Cảm nhận như một bức hoạ lập thể gồm nhiều lớp cảnh (plan) dồn ép, chen vai thích cánh nhau. Mỗi plan là một hình ảnh hiện ra, khắc vào tâm trí trong đơn vị nhỏ nhất của thời gian: cái bẹn Epicure, cơn mưa tu lơ khơ (tu lơ khơ là loại bài lá 56 con, khi chơi, ai đánh hết bài trước là được), con sập sành, con bọ ngựa...

– Cảm nhận triết lý: cái bẹn Epicure biểu hiện tư tưởng triết lý theo Epicure: cảm giác là cơ sở của mọi nhận thức. Mục đích của con người là tìm hạnh phúc. Mà hạnh phúc là thú vui trong cảm giác. Thú vui ở đây không có nghĩa là hưởng lạc một cách dung tục mà là tìm đến sự rung động tuyệt vời trong cảm giác: tự giải thoát mình khỏi những thành kiến, những gò bó, áp bức của xã hội như tôn giáo, cường quyền, dư luận...

Nhà thơ, trong vòng tù túng thân thế và thể xác đã tìm thấy hạnh phúc trong sự sáng suốt nhận diện cảm giác của mình và do đó tìm đến chính mình, đến bản thể của mình. Đồng thời, mỗi lúc đang sống, tức là mỗi nghiệm sinh, con người có một quyết định tự do hành động mà không một lý tính nào có thể giải thích được, theo nhân sinh quan của Sartre. Nhân sinh quan này thoát thai từ tiền đề: bản chất của cá nhân không có tính cách định mệnh. Vì thế mà Đặng Đình Hưng nói đến Định Mệnh một cách hài hước và châm biếm: Cõng đi chơi trên lưng Nilông-Cáctông của Định Mệnh.

Những dòng chữ khập khiễng, khật khờ, vô trật tự và có vẻ vô nghĩa trên đây phủ đầu cho một cách nhìn sâu sắc và có cơ sở triết học: Trên đường tìm về bản thể của mình và của sự vật, Đặng Đình Hưng đã tiếp cận, đã sờ mó được những đau thương, cụ thể hoá chúng, khiến chúng trở thành những nhỏ nhỏ thường thường và còn biết thêm rằng: đau thương không để cách đêm phải hâm lên mới dùng được. Ra đi cũng vậy. Ra đi, một hành động, nhờ sức xúc tác của đợi chờ, một trạng thái, đã biến chất thành thể lỏng khiến nhà thơ có thể húp được và thấy rất ngon. Vai trò của giác quan do đó là nguồn của mỗi nhận thức – và làm chủ cá thể.

Trong sâu lắng của tâm linh và cảm giác, nhà thơ còn tiếp xúc được với những hiện tượng bất thường và độc đáo như những chiều zài zại zột những chân trời chấm hết, những cột đèn - đã đi, những cái tôi đuổi theo níu lại hai mùa.

Ở Đặng Đình Hưng còn hiện diện một vùng thèm muốn, khát khao những cái tầm thường nhỏ nhoi như: một thỏi phấn, tắm nước nóng, cọ bàn chân khô, lau cái khăn lông, những miếng ngon & đậy lồng bàn... và những khát vọng đắm say: căng lên cái yếm thấm nồng nàn...

Ở Đặng Đình Hưng còn có những nghĩ ngợi lẩn thẩn:

Ai mà jữ lại được làn khói thuốc lá cứ cuộn khoanh đố anh vẽ nổi màu xanh?

Trong đôi guốc, tôi chú ý nhất cái chật chật của đôi quai

Sao cứ đi đi, những cái vali cứ về Bến lạ!

Ở Đặng Đình Hưng, mọi giam hãm trở thành vô nghĩa, bởi thi nhân đã thoát ra ngoài vòng kiềm toả của sức mạnh và áp bức và những khát vọng tầm thường, cơ bản của con người nếu không được thoả mãn trong cõi đời thường thì vẫn sống trong cõi đời riêng, trong vô thức. Thế giới riêng của Đặng Đình Hưng, có những đau thương rỉ máu, khô kết thành vết sẹo, bồng to, thập thò như những con ếch, gồ ghề và đầy dẫy trên mọi nẻo đường:

Hễ mưa
Một cái túi to tôi ra đường vồ sẹo

Cuối cùng Bến Lạ là gì? Bến Lạ không những lạ lùng trong bút pháp và thi pháp mà còn làm ta sửng sốt vì những hình tượng mới trong thơ; như sự tù hãm của hai chữ RA ĐI: cứ đến I tôi lại nhớ lộn về, như sự khám phá những chiều dài không kilômét, như sự bất lực của con người trước thời gian: tôi già rồi, tôi không làm gì được quyển lịch, như sự di chuyển của cố định: cột lumière cũng lễ mễ đi về Bến lạ. Như sự câm nín chung thân của những hình thù im lặng xúc lên rừng cùi dìa ký ức...

Bến Lạ, là một cứu cánh xa vời, là chân trời Đặng Đình Hưng muốn đạt đến, là một chuyến đi xa, một miền đất hứa, nhưng không thể hiện được.

Bến Lạ , cũng lại rất gần, có thể ở ngay gầm giường, bởi vì trong mỗi chúng ta đều chở một con tàu. Cho nên, nếu không thực hiện được cuộc viễn du trong đời thường thì ai cấm được ta thể hiện trong vòng nội tâm, riêng lẻ.

Bến Lạ là thơ, là Tự Do, do đó không ai rào được, không ai chấm phẩy được và cũng không có cách nào ngăn chặn được.

Đó là phong cách độc đáo của Đặng Đình Hưng, một phong cách lập dị, bí hiểm để nói những điều muốn nói, nghĩ những điều muốn nghĩ, và dĩ nhiên không phải ai cũng hiểu và ai cũng thích.

Paris , ngày 3.1.1993

 

1 Đặng Đình Hưng, Bến Lạ, Nhà xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1991.

2 Về phần lý thuyết thơ, năm 1941, nhóm Xuân Thu Nhã Tập vẽ một vòng tròn để biểu dương lập thuyết sau đây:

Đạo là căn bản phát sinh ra Âm-Dương trong vạn vật. Nhà thơ khi sáng tạo hoà mình với vạn vật, và chỉ trong cõi tạo vật huyền đồng mới có thể có Rung động. Mọi Rung động thể hiện nên Thơ. Do đó Thơ là con đường dẫn đến Đạo và Đạo lại nẩy sinh Âm-Dương. Quỹ đạo tròn ấy là vòng tương sinh trong Xuân Thu Nhã Tập.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss