Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Báo cũ / Số 27 / Cố Điện 2/5

Cố Điện 2/5

Chuyện Cố Điện không chỉ như chuyện Cống Quỳnh, là một chuyện ông đồ nho ngạonghễ, mưumô, thích châmbiếm mà thôi. Tôi sống tiếp sinhthời ông và quêquán gầngụi với ông, cho nên tôi nhậnđịnh rằng ông là một nhânvật phảnảnh vừa một thờiđại chínhtrị, vừa một địavực rất độcđáo của đất Hàtĩnh : huyện Lasơn.


Cố Điện (2/5)




Hoàng Xuân Hãn



Chuyện Cố Điện không chỉ như chuyện Cống Quỳnh, là một chuyện ông đồ nho ngạonghễ, mưumô, thích châmbiếm mà thôi. Tôi sống tiếp sinhthời ông và quêquán gầngụi với ông, cho nên tôi nhậnđịnh rằng ông là một nhânvật phảnảnh vừa một thờiđại chínhtrị, vừa một địavực rất độcđáo của đất Hà Tĩnh : huyện La Sơn. Thờiđại là lúc triềuđình nhà Nguyễn để Tây hoàntoàn chiếm nước và nôlệhoá nhândân, rồi chạy tới nấp trong rừng Hà Tĩnh và tuyên chiếu ''Cần vương''. Trong dânchúng và sĩphu hưởngứng hănghái, có rất nhiều dân huyện La Sơn, và nhất là dân các làng quêquán quan Đình, tức là đìnhnguyên Phan Đình Phùng, và cố Điện.

Trước hết, ta ôn chóng lại lịchtrình mất nước bởi triều Nguyễn. Từ cuối thếkỷ 15, chiến hạm Bồ Đào Nha mở đường vòng quanh Nam Phi để sang Ấn Độ và Đông Nam Á, nước Pháp, cũng như các đếquốc thựcdân khác, theo dấu mà mởmang truyềnbá đạo Datô và xâmchiếm đất người, buônbán và lợidụng nhâncông rẻ để khaithác đấtđai. Cuối thếkỷ 18, Pháp đã lập các cơsở trong bể Ấn Độ và chiếm đất lớn trên đất liền Ấn Độ. Ở nước ta, nhân chúa Nguyễn bị anh em Tây Sơn triệthạ, giámmục đạo Datô, De Béhaine, thuộc dòng Pháp, quản lí dân Việt theo đạo vùng Gia Định, khuyên đừng nhận viện của các nước Bồ và Anh, rồi dẫn con chúa Nguyễn Ánh sang Paris, điềuđình xin viện với vua Louis XVI. Gia Long hứa nhận lời cho giáosĩ người Pháp tựdo truyềnbá và quảntrị đạo Datô trên đất ta, nhận nhượng đứt cho Pháp đất Côn Đảo và đất Hội An, để làm căncứ thôngthương và binhbị, và cuối cùng nhận hoàntoàn chịu phítổn và giúp Pháp nếu Pháp có chiếntranh trên vùng Đông Nam Á.

Vì cuộc Cáchmệnh 1789, mà hiệpước trên (28.11.1787) không thànhquả. Tuy vậy, De Béhaine tựliệu cũng đem về giúp riêng Nguyễn Ánh một vài chiếc tàu bọc đồng và một vài thuậtgia chuyênmôn. Nguyễn Ánh đã thắng Tây Sơn, thành vua Gia Long, caitrị cả nước Việt Nam. Từ đó, triềuđình Việt mới thấy rõ hànhđộng thựcdân của tất cả người Âu Châu trên đất Đông - Á, và tintức nộibộ đều bởi các giáosĩ, sống lâu trong nước, lại có vây cánh trungthành, đem lại. Kếtquả là ta cảnhgiác đối với người Âutây, và khekhắt đối với các giáosĩ và bổndân theo họ. Cũng như ngày nay các cườngquốc đòi quyền « canthiệp » vì lẽ « nhânquyền », lúc bấy giờ, các nước Âutây lấy cớ « tựdo truyềnbá đạo độctôn Datô » để canthiệp bằng vũlực vào Trung Quốc và Việt Nam. Sau hai lần hạmđội Pháp phá dễdàng cảng Hội An, hoàngđế Napoléon III và vợ, người Tây Ban Nha, mới dùng thuỷquân Pháp và Tây, đánh chiếm thành Gia Định, và chiếm ba tỉnh miền Đông Namkì (hoà ước 5.6.1862 kí tên Bonnard và Phan Thanh Giản) và được các quyền tựdo, như buônbán ở Bắc kì. Sau đó, các đôđốc Pháp tại Sài Gòn tự làm chínhsách « tàmthực », buộc chínhquyền Paris phải theo. Tự Đức sai Phan Thanh Giản sang Paris, xin chuộc ba tỉnh đã mất với số tiền rất lớn, nhưng phái quânnhân Pháp không ưng. Không những thế, viên thốngđốc Sài Gòn đem quân chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kì (1867 ; Phan Thanh Giản tựtử). Triềuđình Huế cũng không thể cầu viện với Trung Quốc, vì Thanhtriều vừa bị loạn Tháibình rồi lại bị ngoạixâm. Tuy có nhânvật cônggiáo áiquốc, như Nguyễn Trường Tộ, cảnhcáo và khuyênlơn, nhưng sự rất cấpbách, triềuđình Huế không kịp trở tay đốiphó với chínhsách thựcdân tinhvi của chínhquyền cộnghoà Pháp, mong xâmnhập đất Trung Quốc sau khi chiếmcứ Bắc Kì. Duyêncăn canthiệp tìm cũng dễ. Bấy giờ, một lái buôn lậu súng đạn cho Vân Nam, là Dupuis, dựa vào thếlực Sàigòn mà dùng sông Hồng Hà với binhlực riêng bảovệ. Chínhphủ ươnhèn Huế không tự ngăncản nó, lại tốcáo với Sài Gòn. Pháp bèn sai Garnier đem quân ra Bắc, tiếng là để hỏi tội Dupuis, mà thật là để khiêukhích chiếntranh. Quân Pháp tuy ít nhưng lấy được Hà Nội (11.1873. Nguyễn Tri Phương bị thương, bị bắt, rồi nhịn ăn mà chết) ; rồi hợptác với nhóm cônggiáo Phát Diệm, lập chínhquyền riêng. Triềuđình Huế giao binhquyền Bắc Kì cho Hoàng Kế Viêm ở Sơn Tây và thudụng dưđảng của quân Tháibình, là quân « Cờ Đen » thuộc Lưu Vĩnh Phúc. Gamier bèn bị tử trận. Pháp đành phải bỏ chínhthể riêng đã lập ở Bắc Kì, nhưng ép được vua Tự Đức kí một hiệpước mới, vừa nhìnnhận nhượng cho Pháp toàn xứ Nam Kì, nhận Pháp bảohộ antoàn đối trong lẫn ngoài, vừa nhận theo chínhtrị ngoạigiao của Pháp và để người Pháp độcquyền buônbán (hiệpước 15.3.1874 kí tại Sài Gòn bởi Dupré và Lê Tuấn).

Sự trởngại lớn còn lại cho thựcdân Pháp có hai điều : một là nộitrị ở Bắc và Trung còn trong tay triềuđình Huế ; hai là mặc dầu hiệpđịnh 1874, Trung Quốc với Việt Nam vẫn giữ tình liênlạc cũ. Nhất là, sau khi vua Tự Đức sai pháibộ Nguyễn Thuật sang tuếcống tại Bắc Kinh năm 1879, và các dưdảng quân Tháibình, Cờ Đen, Cờ Vàng đều được coi như là quân nhà Thanh, chính quyền Sài Gòn lại càng tìm cách củngcố thếlực ở Bắc. Cuối năm 1882, sai Henri Rivière, dẫn quân ra Hànội, rồi đầu năm sau, đánh chiếm các thành Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, nhưng liền bị tửtrận. Lại thấy binh chínhqui các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây vào làng Pháp, chínhquyền Paris, phen nầy, phái đạiquân sang với ba mụctiêu : ép Thanhtriều gọi quân mình ở Việt Nam về, đánh bại liênquân Thanh - Việt và chinhphục hoàntoàn triềuđình Huế. Harmand dẫn hạm đội Pháp tới đánh cửa Thuận An, vào Huế ép ta huỷ ấn « Việt Nam quốcvương » của vua Thanh ban, và định chitiết chínhsách ''bảohộ'' (Hiệpước Harmand rồi hiệpước Patenôtre kí tại Huế, tờ trên vào ngày 25.8.1883 bởi Trần Đình Túc và Harmand, tờ dưới vào ngày 5.6.1884 bởi Nguyễn Văn Tường và Patenôtre)

Còn một sự gai mắt nhất cho quânnhân Pháp là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, hai phụchánhthần, tiêubiểu quân dân Việt Nam. Tướng De Courcy mới được đềbạt làm toànquyền, liền đưa thêm quân vào Huế, định bắt tù Tôn Thất Thuyết, ép Hàm Nghi phải xin phép Pháp mới được làm vua, và tỏ nhiều cửchỉ sỉnhục tànphế triềuđình ta, khiêukhích chiếntranh để lập chínhquyền hợptác bảohộ. Quânđội Pháp, trangbị khígiới tinhnhuệ, được caiquản tốt, lại đóng sẵn trong thành Huế ; cho nên ngày 5.7.1885 chiếm Kinhthành dễdàng. Tôn Thất Thuyết đem Hàm Nghi với tànquân chạy qua Lào về sơnphận Qui Hợp thuộc Hà Tĩnh. Bấy giờ đã vào đầu tháng 8 năm 1885. Một mặt, Tôn Thất Thuyết ra chiếu ''Cần vương'' (11.8.1885), một mặt cho lệnh Hoàng Kế Viêm và các tỉnhtrưởng dọc biêngiới Trung Quốc chuyển cho các tổngđốc Vân - Quí và Lưỡng – Quảng lời tốcáo và lời cầuphong của Hàm Nghi. Bộ ngoạigiao Đài Loan còn giữ được nhiều côngvăn về việc ấy. Trong các thư có đoạn (dịch sau đây, những chữ trong vòng đơn là lời chúthích của tôi):

«...trộm nghĩ nước tôi đã được Thiêntriều phong vào hàng phiênphục đến nay đã vài (?) trăm năm. Phụvương xưa tôi, Nguyễn Phúc Thì (Tự Đức) bị bệnh đã mất từ lâu, vào ngày (16) tháng 6 năm Quangtự thứ 9 (1883). Quốcnhân bầu người em, là Nguyễn Phúc Thăng (Hiệp Hoà) tạm coi việc nước. Rồi Nguyển Phúc Thăng tự liệu ốmyếu, gánh không nổi chứctrách. Ngày mồng 1 tháng 11 năm ấy, đã nhường việc cho con trai cả của Phụvương xưa, tên là Nguyễn Phúc Hạo (Kiến Phúc), tức là anh ruột tôi đây Nguyễn Phúc Minh (Hàm Nghi). Trong tháng 6 và tháng 11 năm Quangtự thứ 9 (1883), đã có tờ bày giải duyêndo các việc xẩy ra, trình quan tuầnphủ Quảng Tây và quan tổngđốc Lưỡng - Quảng xét và thay mặt Víệtnam tâu lên Cửutrùng. . . Rồi đến ngày mồng 10 tháng 6 năm Quangtự thứ 10 (1884), anh xưa tôi, Nguyễn Phúc Hạo, lại bị bệnh mất, để lờl dặn lại rằng, theo thứtự thì tôi, Nguyễn Phúc Minh, đáng được nối ngôi Phụvương xưa . Ngày 12 tháng ấy, tôi đã tạm coi việc nước, để đợi mệnh Thiêntríều. Khốn nỗi ! Các tỉnh Bắc Kì giáp Nộiđịa đã bị Pháp chiếm, mà các cảng ven bể lại bị nó ngăn ; đến đỗi các đường thuỷ bộ đều bị nghẽn, khiến tình hình chúng tôi không thể trình lên.

« Vả chăng, mấy năm nay, binhthuyền Pháp đã gây nhiều chuyện ở nước tôi. Trong tháng 7 năm Quangtự thứ 9 (l883), toànquyền Pháp Hàramăng (Harmand) đem binhthuyền thìnhlình vào cửa Thuận An ngoài quốcđô, đánh phá các đồn luỹ ép lập 27 điềuước thay cựuước năm Giáp-Tuất (1874). Thượng tuần tháng 5 Quangtự thứ 10 (1884), toànquyền Pháp Bađứcna (Patenôtre) lại đem nhiều binhthuyền tới cửa Thuận An. Bộbinh bèn áp tới bờ sông ngoài đôthành, bày súng đạibác, yêucầu đổi 19 khoản trong điềuước (Harmand) kí tháng 7 năm Quangtự thứ 9 (1883). Nó lại bức lấy quốcấn mà Thiêntriều đã cấp phong, đem nung hủy cho chảy. Lại ép hủy hết các cỗ súng trong các đồnluỹ ngoài thành. Rồi nó lại phái một quan binh 5 khuyên (đạitá) đem mấy trăm lính ép chúng tôi cho vào đóng trong thành, tại Trấnbìnhđài (Mang Cá) ở góc hữu thành. Lại ép chúng tôi cấp tốc triệthạ 200 cỗ đạibác đặt trên mặt thành. Các cỗ súng này nặng, chúng tôi khiêng bỏ không kịp ; thì chúng nó sai binh tựtíện đóng đanh sắt cho tắc lỗ tim (lỗ châm lửa) của vài mươi cỗ. Vả lại chúng tựtiện đặt hay bỏ các quanlại tại các tỉnh Bắc Kì (như dùng Nguyễn Hữu Độ và Hoàng Cao Khải) và bắt nhiều đến hàng vạn dânphu mà xua vào trận địa.

« Khi quan binh Thiêntriều sang dẹp chúng, đến đâu cũng có quanlại nhândân chúng tôi giúp, hoặc dẫn đường, hoặc theo gánh gồng lươngthực, đạndược, hoặc thămdò tin tức. Chúng cho thámtử rìnhmò, hễ bắt được thì trị tội rất nặng. Ví dụ, tuần phủ Hưng Yên Nguyễn Văn Thận bị chúng bắn chết ; tuầnphủ Quảng Yên Hoăng Văn Vi, tuầnphủ Hải Dương Nguyễn Văn Phong, tổngđốc Hải An Hà Văn Quan đều bị chúng bắt đem xuống hoảthuyền chở đi mất. Các xã thôn cũng nhiều nơi bị giết, đốt rất khổ.

« Ngày 21 tháng trước (tháng 5 năm Ất Dậu, tức 3.7.1885), đôthống chúng (tướng De Courcy) lại đem 6 chíếc tàu lớn vào cứa Thuận An. Hơn nghìn lính đổbộ lên Trấnbìnhđài tại góc hữu trong thành, đóng cùng lính đã phái đến đó từ trước. Chúng nó hoànhhành ápbức như thế. Chúng tôi chịu nhịn muôn bề không nổi. Đêm 22 tháng trước (4–5 tháng 7) chúng tôi đã chiến đấu với chúng, từ giờ Sửu (quá 1 giờ sáng) đêm ấy đến giờ Thìn đêm 23 (quá 7 giờ sáng đêm 5-6 tháng 7) , giết được hơn nữa binhlính chúng. Khổn nổi ! Súng trái phá của chúng bắn dữdộí, mà súng đạibác của chúng tôi không địch nổi. Tôi đã đem thầnliêu ra phía Bắc thành, xếp đặt các tỉnh, cứhiểm đóng quân, khuyếnlệ thầndân lo việc khôi phục... »

Bức thư nầy là trích từ Tưliệu Trung-Pháp-Việt giaothiệp, tập 5, trang 3250, chuyển về Bắc Kinh bởi tổngđốc Vân Quí. Sứthần ta là Nguyễn Quang Bích mang sang Môngtự địaphận Vân Nam, liền sau khi Hàm Nghi còn ở Quảng Trị. Ý chừng, Tôn Thất Thuyết mong sắc ấn mới của vua Thanh để tăng uytín cho sự kêu gọi ''cần vương''. Thật ra thì lòng cầnvương không cần gì sắc ấn của nhà Thanh. Lòng thương Vua, yêu nước, ghét Tây rồi oán lây đến giáodân, cũng đủ thổi bổng phongtrào cầnvương bấy giờ ở Nghệ Tĩnh.

Quihợp, vùng vua Hàm Nghi trốn bấy giờ, có một lịch sử lâu đời. Từ đời Đường, đường qua lại trên bộ từ miền Đông Hải đến Tâydương hay Tiểutâydương đã từng qua đó. Trong thếkỉ 12, đếquốc Chân Lạp rất thịnh, đã mượn đường nầy sang giành châu Nghệ An. Tại địahạt Hà Tĩnh ngày nay, nước dãy núi Trườngsơn chảy xuống, mượn hai ngọn sông lớn Ngàn Phố với Ngàn Sâu (xem phụđồ). Ngàn Phố hướng Tây-Đông, chảy qua huyện Hương Sơn ; Ngàn Sâu hướng Nam-Bắc chảy qua huyện Hương Khê, qua chốn Vũ Quang, chỗ xưa có đồn Cầnvương Phan Đình Phùng đóng. Hai sông gặp nhau dưới chân núi Linh Cảm, thành ngã ba Tam Soa (ba nhánh), rồi hợp thành La Giang, uốn lên hướng Đông-Bắc để rót vào sông Lam Giang, chừng hơn 10 km sau Linh Cảm. Khúc trên La Giang chảy gần huyệnlị La Giang (sau đổi ra La Sơn), và phủlị Đức Quang (sau đổi ra Đức Thọ) và phần lớn « làng » Yên Việt (năm 1822 đổi ra Việt Yên).


huyenlason


Đời Nguyễn, đất ấy đã chia làm hai tổng : Kẻ Thượng ở bờ Bắc La Giang và Kẻ Hạ ở bờ Nam. Riêng Kẻ Hạ có hai xã lớn Yên Việt Hạ và Yên Tuyền (đời Thiệu Trị đổi ra Yên Đồng vì kiêng huý vua). Yên Việt Hạ gồm thôn Tùng Ảnh là quê cố Điện ; Yên Tuyền gồm thôn Yên Thái là quê chung của Phan Đình Phùng và Hoàng Cao Khải. Vùng nầy là đất phì nhiêu, chìếnlược, kínđáo. Chắc từ lâu đã có họ Phan tới ở, rồi con cháu phồnthịnh, tràn ra khaitịch những đất chungquanh. Ngày sau, trong vùng Hương Sơn, La Sơn, gần Linh Cảm có rất nhiều họ Phan mà giaphả không còn biết là cùng tổ, mặc dầu có khi ở cùng một thôn. Một sự lạ là sau khi nhà Nguyễn mở khoa thi đến năm mất nước, vùng nầy đứng đầu trong nước về khoacử, và cầm đầu là họ Phan. Chỉ mấy xã này thuộc huyện La Sơn mà có 64 vị cử nhân (28 họ Phan), trong đó gồm 15 vị đạikhoa : tiếnsĩ hay phóbảng (họ Phan có 5 tiếnsĩ và 3 phóbảng). Bảng thống kê như sau (ngoài vòng đơn : số cửnhân ; trong vòng đơn thì số không dấu là tiếnsĩ và số trước dấu chấm là phóbảng)

Nói riêng về thôn Đông Thái, có ba họ Phan khác nhau (theo giaphả) mà đều có người đậu tiếnsĩ. Phan Du (1875) chỉ một mình. Phan Nhật Tỉnh (vua Thiệu Trị cho tên Tam Tỉnh) đậu tiếnsĩ năm 1842 có con, Phan Trọng Mưu, và cháu điệt, Phan Huy Nhuận, cũng đều đậu tiếnsĩ khoa 1879. Còn Phan Đình Phùng, tuy chỉ một mình trong họ đậu tiếnsĩ, nhưng đậu đìnhnguyên và có bốn vị bà con đậu phóbảng : bác tên Văn Nhã (1829), cha tên Văn Tuyên (l844) và em tên Đình Viện (1868). Sau đây, tôi sẽ tómtắt giaphả họ Phan nầy, từ đời thứ 8 đến đời thứ 10, với tên những người có đậuđạt hoặc liênquan đến phongtrào cầnvương.

Giaphả chép chỉ lên đến đầu thếkỉ 17, đời chúa Trịnh Tráng, từ đất Hương Sơn dời xuống ở xứ Yên Việt nầy. Đời thứ 7 có Phan Đình Tiến (1775-1816), học và có đi thi hương, nhưng mất sớm. Vợ họ Mai (1777-1856) ở goá nuôi mẹ và chăm cho năm trai ăn học ; trong đó, trừ con cả, đều có khoadanh. Ấy vào đời thứ 8 ; tôi sẽ ghi với các số 8a, 8b, vân vân.



- 8b/ Văn Nhã (1802-1877), cửnhân 1828, phóbảng 1829. Quan : Sửquán toảntu. Vợ họ Phan, sinh một trai rồi có hai cháu trai.

- 8c/ Duy-phong (1805 - 1886), tútài hai khoa 1834 và 1837, cửnhân 1840. Quan : triphủ Bình Giang. Vợ họ Phạm, có ba trai, hai gái rồi 6 cháu trai. Con gái, Thị Điểu làm vợ người cùng thôn, Hoàng Văn (đổi ra Cao) Khải, đậu cửnhân (1868), sinh Mạnh Trí (cử nhân 1897) và Trọng Phu.

- 8d/ Đình Tuấn (181O-1886), tútài hai khoa 1834 và 1837, ở làng dạy học con cháu, nhiều người thành đạt. Thiếp có con trai, Hải Châu, đậu tútài. Vợ họ Bùi, sinh 9da/ Văn Dư, cửnhân 1858, quan tuầnphủ, có vợ họ Hoàng, sinh 10dab/ Văn Du, cửnhân 1876, quan huấnđạo.

- 8e/ Đình Tuyển (1814-1864), tútài hai khoa 1837 và 1840, cửnhân 1843, phóbảng 1844. Quan : tuầnphủ Lạng Sơn, đánh dưđảng Tháibình bị tửtiết. Vợ là con gái đầu quan tiếnsĩ, thượngthư quê thôn Tùng Ảnh, Phan Bá Đạt, sinh sáu con :

- 9ea/ Đình Thông, đậu tútài, quản tàu bọc đồng.

-9eb/ Đình Thuật (1839-1881), cửnhân 1868 , quan giáothụ.

- 9ec/ Thị Văn làm vợ Lê Thống cửnhân (1868), thuộc một họ lớn tại thôn Trung Lễ gần kề.

- 9ed/ Đình Tuân (? - 1884) có con là Đình Nghinh theo chú là Đình Phùng khởi nghĩa cầnvương, và sau khi chú mất, nghe lời hiểudụ của Nguyễn Thân mà ra hàng, nhưng bị Thân giết.

- 9ee/ Đình Phùng (1847-1895), cửnhân 1876, tiếnsĩ đìnhnguyên 1877. Được bổ chứ triphủ Yên Khánh, rồi về kinh giữ chức ngựsử, tráchnhiệm tốcáo mọi sự làm trái phép nước của tất cả thầnliêu. Có lần ông được phái ra Bắc Kì khám xét sự thiêntai vì bãolụt. Về triều, ông độcnhất chống hai vị phụchánh Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết về việc phế vua Dục Đức trái lời trối của vua Tự Đức, cho nên bị cách chức đuổi về. Tuy được triệu trở lại Kinh, nhưng vì mẹ mất, ông về chịu tang.

-9ef/ Đình-Vận (1850- ? ). ông học rất thôngminh. Năm 18 tuổi, đi thi hương lần đầu mà đậu cửnhân (1867), năm sau liền đậu phóbảng. Làm quan thừachỉ Nộicác rồi triphủ Xuân Trường. Năm 1873, quân Pháp đánh phủ, ông phải giáng chức. Rồi xin về vì bệnh. Vợ là con gái ông giảinguyên bốchánh Lê Kiên quê thôn Trung Lễ đã thấy trên, cũng là chị Lê Ninh, người đầu tiên theo chiếu cầnvương mà tổ chức võ bị .



(còn tiếp)


Hoàng Xuân Hãn


(bài đã đăng Diễn Đàn số 27, 02.1994)


Images

Các thao tác trên Tài liệu

được sắp xếp dưới:
Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss