Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Báo cũ / Số 64 / Đạo Phật và giáo dục

Đạo Phật và giáo dục

Nhà Phật có tiềm năng đem lại cho giáo dục ngày nay quan niệm, lý thuyết, phương pháp và kỹ thuật về các điểm : 1) thể xác và tâm thần quyện lấy nhau mà phát triển ; 2) lý trí đi đôi với trực giác ; 3) hài hoà đời sống tập thể bằng tinh thần và nguyên tắc của chữ hoà. Cũng nên thêm vào những điểm nói trên tinh thần học hỏi không biết mệt mỏi.

 

Đạo Phật
có thể đem lại những gì
cho giáo dục ngày nay ?


   

bùi mộng hùng

 

Bài này đã được trình bày trong hội thảo Hướng phát triển Phật giáo Việt Nam (Trúc lâm thiền viện, Pháp, tháng 9.1996). Đây là bản có sửa đổi viết cho bạn đọc Diễn Đàn.

   

Giáo dục căn bản là truyền đạt. Thế hệ này truyền lại cho thế hệ khác kinh nghiệm sống của một cộng đồng. Những lý thuyết, những thực hành, những thủ thuật trong nghề nghiệp để sinh nhai kiếm sống, đó là một phần rất thực tiễn, không thể thiếu của giáo dục. Nhưng chỉ là một phần mà thôi.

Vì sống chính là quan hệ mình với mình, mình với người, mình với vạn vật với thiên nhiên. Chỉ một trong những quan hệ ấy không được hài hoà là cuộc sống mất an lành. Mình mà không yên được với chính mình thì có trốn cách nào, bằng say sưa, bằng trác táng hay bằng hành động ; có trốn đi đâu, vào rừng sâu, ra hải ngoại, thì ngày đêm vẫn không khỏi mặt đối mặt với chính mình. Kinh nghiệm sống làm sao cho yên vui, cũng thiết yếu chẳng kém gì cơm ăn, áo mặc. Cái đó cũng là giáo dục truyền lại. Khuôn khổ bài báo quá hạn hẹp để bàn về quan hệ với thiên nhiên của đạo Phật. Xin đề cập hai quan hệ : mình với người, mình với mình.

Kinh nghiệm này, nhà Phật có trên hai ngàn năm bề dày.

Bài này không có tham vọng trình bày hệ thống giáo dục theo nhà Phật. Mà chỉ nêu lên vài nét lớn có thể bổ ích cho chúng ta ngày hôm nay. Nói vậy có nghĩa là chỉ bàn đến những nét khác với cái giáo dục mà bạn, tôi, con em chúng ta thường tiếp thu.

  

I. Quan hệ người với người : chữ hoà

   

Cạnh tranh là một nguyên tắc trong các xã hội, ở khắp nơi ngày nay ; trẻ con ngay từ thuở thơ ngây đã tập tành tranh đua. Tranh đua, giành dựt, lấn áp để qua mặt người. Khôn khéo ra thì bàn tay có thể bọc nhung, nhưng mà bên trong thường là bàn tay sắt.

Nhà Phật khác thế. Lấy chữ hoà làm nguyên tắc sống chung.

Nói hoà là trước hết hàm ý khác biệt. Đường không phải là nước thì mới hoà với nước. Giống y như nhau thì gọi là đồng, rót nước lã vào nước lã thì đã chẳng dùng tới chữ hoà. Điểm khác nghĩa giữa hai chữ này ta thấy rất rõ trong câu của đạo Khổng “ Hoà nhi bất đồng, đồng nhi bất hoà ”, hoà mà không giống nhau, giống mà không hoà với nhau.

Như vậy, nói hoà tức là chấp nhận sự khác biệt của nhau.

Chính vì tính cách khác biệt của các thành phần cho nên hoà hợp mới có thể nảy sinh ra những đặc tính khác lạ, không sao có được nếu chỉ đem cộng lại với nhau các đặc tính riêng của mỗi đơn vị thành phần. Hoà cácbon với sắt thì ra thép, độ bền chắc, độ sắc bén khác hẳn với cácbon, với sắt tinh chất.

Cái quý của hoà cũng chính là ở chỗ đó. Chẳng những nhân khả năng lên mà còn tạo nên những khả năng mới, nên sức mạnh mới, hệ quả của sự tổng hợp thành công.

Nhà Phật xác định sáu nguyên tắc để sống trong hoà hợp. Vốn là để cho tăng già, nhưng nới rộng ra, đối với bất cứ một nhóm người cùng chung sống nào, những điều này vẫn giữ nguyên giá trị :

 
1. Một là cùng nhau chung sống, thân hoà đồng trú. Mới xem qua dường như là một ghi nhận thường tình. Nhưng chính vì không lưu tâm đến điểm thường tình này mà các khu chung cư chuồng thỏ chỉ có chức năng cho người người về ngủ ban tối, ban ngày bôn ba đi kiếm sống ở những đâu đâu, đã đưa vào thế bế tắc khó xử cho nhiều ngoại ô các tỉnh lớn trên thế giới, như Paris, Lyon ở Pháp ngày nay. Không nơi cùng nhau chia sẻ sinh hoạt thường ngày, làm lụng, ăn học, mua bán, nhậu nhẹt, tán gẫu, thể thao, giải trí, vân vân và vân vân thì dù là đường phố dinh ốc có quy hoạch đẹp đẽ như Brasilia, người nào có điều kiện đi nơi khác được cũng đều bỏ ra đi. Vì đó chỉ là những dãy nhà không hồn, không sao biến thành khu phố, thành thị xã, sinh động như những khu xóm cổ truyền bình thường. Đã gọi là sống chung thì phải có nơi có chốn thích nghi cho sự chung sống.

 
2. Hai là không cãi cọ nhau, khẩu hoà vô tranh. Không cãi để mà cãi, nhưng cũng chẳng phải cái tinh thần “ ba phải ”. Chẳng phải cái hoà cả làng của “ dĩ hoà vi quý ”, sao cũng được, cũng cam chịu, chỉ có việc ngậm miệng cúi đầu. Chắc chắn là chẳng phải cái thái độ mà bề trên kẻ cả nhồi vào đầu óc đám thấp cổ bé miệng trong làng trong nước.

 
3. Vì là đã khác nhau thì cái nhìn – kiến – khó mà giống nhau được. Không cách nào khác là bàn bạc thảo luận – trong tinh thần hoà nhã – nhưng phải đến nơi đến chốn mới cùng nhau “ giải ”, nghĩa là vượt mâu thuẫn, đi tới một cái nhìn tổng hợp sự việc, đầy đủ hơn, phong phú hơn cái nhìn riêng của mỗi người. Ấy là nguyên tắc kiến hoà đồng giải.

 
4. Bốn là có lợi thì phải cùng chia đều với nhau, lợi hoà đồng quân. Với các nhà tu hành nguyên tắc này đã là cần luôn luôn nhắc nhở thì đối với những người sống trong thế tục nó lại càng đáng được lưu tâm tôn trọng biết chừng nào.

 
5. Năm là trong quan hệ cộng đồng cần có luật lệ, nghĩa là những qui định được mọi người đồng thuận chấp hành, ai ai cũng phải tuân thủ. Đối với người tu hành thì những luật lệ đó là giới luật chung cho tăng già, vì vậy chữ là giới hoà đồng tu.
   

6. Sáu là luôn luôn ý thức vui vẻ với nhau, ý hoà đồng duyệt.

 
Cạnh tranh là một hiện trạng tiềm tàng trong quan hệ xã hội, nhất là vào thời đại ngày nay. Tuy nhiên, cá nhân khó mà một thân một mình làm cho nổi đình nổi đám nên một công trình bề thế. Một cây làm chẳng nên non. Phải nhiều người cùng nhau chung sức mới làm ra chuyện đáng kể.

Vì thế mà ngay trong trường học, giáo dục Tây phương đã tập cho học sinh thói quen họp nhau thành nhóm cùng học, cùng giải quyết vấn đề.

Trong xí nghiệp, trong công sở thường cũng có những khoá đào tạo bổ túc cho các nhân viên có khả năng được đưa lên nắm chức vụ điều khiển. Một trong những môn bổ túc này là động thái nhóm (dynamique de groupes), một môn tâm lý học thực dụng tập cho học viên nhận định và tìm hiểu cơ chế sinh hoạt khi chung sống với những người khác thành một nhóm. Tập cho học viên nhận ra cơ chế làm cho ý của nhóm thường vượt qua ý của cá nhân thành viên. Biết tôn trọng những sáng kiến trước một vấn đề đặt ra cho nhóm, hiểu rằng trong thực tế chính thành viên có sáng kiến ấy là người dẫn đường (leader) cho nhóm khi ấy. Nghệ thuật điều khiển là hoà hợp các sáng kiến, cho các leaders khi thì hợp lực khi thì thay phiên nhau hướng cả nhóm tiến đến mục tiêu chung.

Đời sống xã hội bắt buộc phải có phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa cá nhân và tập thể. Nhà Phật tóm gọn tinh thần và nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn ấy trong chữ hoà.

Chữ hoà nhà Phật với nội dung cụ thể của nó, chấp nhận khác biệt, bàn bạc thảo luận bình đẳng rốt ráo, công bằng phân chia quyền lợi, luật pháp công minh ai ai cũng phải tuân thủ, chữ hoà ấy đáng được đề nghị làm giá trị cho xã hội chúng ta ngày nay.

   

II. Quan hệ mình với mình

   

Nhà Phật không tách rời cá nhân với tập thể. Cá nhân tu chỉnh hoàn thiện bản thân mình không ngoài cuộc sống, nghĩa là trong đời sống hàng ngày với tập thể. Chính trong đời sống xã hội ấy mà mỗi cá nhân soi mình trong người khác để cho quan hệ mình với mình mỗi ngày được thêm hài hoà. Xin bàn riêng về hai điểm độc đáo của nhà Phật : quan hệ với thân xác, với trí tuệ.

   

II.1. Thân xác

   
Hơn bao giờ, ngày nay thân xác được trau chuốt. Thể thao được tôn vinh, cùng với các nhà vô địch mà truyền hình, mà quảng cáo nâng lên hàng thần tượng cho quần chúng. Lịch sử thể thao là hàng chuỗi kỷ lục với những bảng phong thần tên tuổi đi vào truyền thuyết.

Ký ức chúng ta ghi nhớ những thân hình đẹp chẳng khác thiên thần trong những động tác tuyệt diệu, như thách thức, như siêu thăng các quy luật thiên nhiên gò trói thân xác mỗi người chúng ta.

Nhưng khi qua rồi cái khoảnh khắc tuyệt vời và huy hoàng của thành tích, im đi cái hào nhoáng ồn ào của thông tin đại chúng, những thiên thần trong giây lát ấy về lâu về dài thành ra những con người như thế nào ?

Ngay trong thế vận hội Atlanta 1996 vừa rồi ta được thấy tận mắt hình hài của Mohamed Ali Cassius. Trong đầu nhiều người chúng ta còn nhớ như in một vô địch thế vận quyền Anh hạng nặng Cassius Clay dũng mãnh như bò tót, nhanh nhẹn như hổ báo, cú đấm sấm sét thôi sơn, di động uyển chuyển như bay trên võ đài tưởng rằng địch thủ không sao đánh trúng. Vị thiên thần Cassius Clay mới ngày nào ấy, hôm nay trên truyền hình là một Mohamed Ali già trước tuổi, thể xác đờ đẫn, hai bàn tay lẩy bẩy bệnh liệt rung Parkinson, hệ quả của các trận đấu những năm hào hùng.

Cái câu hỏi sau đỉnh cao của thành tích, những nhà vô địch, những nhà thể thao cừ khôi sống thế nào, thể xác, tâm thần họ ra sao, chẳng bao giờ được thấy thông tin đại chúng đề cập một cách nghiêm túc. Đó là một sự kiện cho ta thấy rằng sự phát triển hài hoà của thân thể và tâm thần, nhất là óc phê phán và trí xét đoán, chẳng phải là vấn đề quan tâm lớn của quan niệm về thể dục thể thao hiện hành ngày nay.

Mà cho có thật tình lưu tâm thì cũng chẳng biết phải làm thế nào. Vì thể xác là một đàng, tâm thần là đàng khác, mỏi mắt trông tìm chẳng thấy đâu là nhịp cầu bắc ngang, một quan niệm mà thật ra thể thao chỉ rập theo triết học Tây phương. Nhưng là quan niệm chính thức hiện hành về thể dục và thể thao trên khắp toàn cầu.

Nhà Phật thì khác. Thể xác tâm thần là một, trong lý thuyết, phương pháp, kỹ thuật giáo dục con người. Với những phương pháp giản dị của nhà Phật bất cứ ai ai trong chúng ta cũng có thể cảm nhận trong thân xác ảnh hưởng của tình cảm, của tư tưởng xuất hiện và biến đi trong tâm thần. Và từ thân xác tác động ngược lại vào tình cảm vào tư tưởng. Tác động vòng tròn qua lại này là cơ sở cho một chương trình huấn luyện toàn diện thể xác, tình cảm, tâm trí con người.

Xin không bàn vào chi tiết của phương pháp cùng cơ chế sinh học của nó đã được đề cập trong bài Thân xác trong đạo Phật (Diễn Đàn số 50, 1.3.96 ; Hương Sen số 61, 2.6.96). Chỉ nói rằng với phương pháp nhà Phật ai ai trong chúng ta, không cần một dụng cụ nào, chỉ mình với thân mình, bất cứ nơi nào, trong rừng sâu hay giữa đám đông thành thị, bất cứ lúc nào trong ngày, ở vào lứa tuổi nào, ai ai cũng có đầy đủ khả năng luyện cho thể xác tâm thần tráng kiện, minh mẫn, thanh thản.

   

II.2. Trí tuệ

 
Trong một thời gian dài xã hội cổ truyền Việt Nam trọng cái học từ chương. Cái gì đã in trong kinh sách của thánh hiền thì là chân lý, không luận bàn, bài bác, đặt lại vấn đề. Thui chột mất đi cái khả năng suy luận.

Chúng ta đã bỏ cái lối giáo dục ấy. Dù rằng đâu đó đôi khi vẫn còn rơi rớt cái xu hướng tôn sùng lý lẽ của uy tín, nhưng chúng ta đã bỏ lối học từ chương, ít nhất là trên nguyên tắc.

Và cũng đã từ nhiều thế hệ chúng ta học theo lối học của phương Tây. Phát huy suy luận, phát triển lý tính.

Đó là một điều hay, nhất là cho chúng ta. Trọng lý trí là phải, điều đáng nói là tuy rằng về lý luận vấn đề trực giác có được đặt ra, cái giáo dục chúng ta học được theo khuôn mẫu Tây phương duy lý trí đến mức độ cực đoan. Xem như sự thật chỉ có thể là kết quả cuối cùng của một quá trình tư duy. Quên rằng chỉ lạnh lùng lý trí là sẽ mù loà trước những sự kiện, nhất là trong quan hệ người với người, mà chỉ con mắt của tấm lòng mới thấu đáo được. Quên rằng ngoài lý trí, con người còn tiếp xúc sự vật, tiếp xúc đồng loại bằng tình cảm, bằng trực giác. Chương trình giáo dục hiện hành chỉ chuyên trau dồi lý luận, không chút ngó ngàng đến trực giác. Chẳng mấy ai mà cái hồn nhiên trực giác chẳng bị quên lãng, sứt mẻ đến thui chột sau những năm dài học theo các chương trình giáo dục ngày nay.

Nhưng thử hỏi có sáng tạo nào mà không có phần của trực giác chăng. Dù là trong nghệ thuật hay trong khoa học. Nhà nữ triết gia Hannah Arendt tâm tình với cô bạn Mary Mac Carthy : “ Theo ý tôi, ảo tưởng lớn chính là chỗ nghĩ rằng Chân lý là kết quả cuối cùng của một quá trình tư duy. Trái lại, Chân lý luôn luôn là khởi thuỷ của Tư tưởng. Hành động tư duy bắt đầu sau khi một nghiệm sinh chân lý loé sáng.” (1) Nhận định xuất phát từ kinh nghiệm sống của bản thân nhà triết gia xuất sắc. Đáng tiếc cho giáo dục hiện hành không lưu tâm đúng mức đến quan hệ trực giác và lý luận trong tiến trình đi tìm sự thật. Hầu như hoàn toàn bỏ qua một trong những phương tiện tri giác của sinh vật trong con người.

Nhà Phật trân trọng phân biện lý luận. Đọc Long Thọ bồ tát (Nagarjuna) thì đủ thấy lý luận tinh tế tới đâu. Tuy nhiên cái tri thức thấu đáo đến gốc rễ vấn đề, nhà Phật gọi là tuệ chẳng phải là đơn thuần do lý luận.

Theo Trường bộ kinh “ Tuệ nảy sinh do suy luận, do những gì nghe được, do trau dồi tâm thần ” (D III 219). Vậy yếu tố thứ nhất của tuệ là trí năng phân biện, lý luận. Yếu tố thứ nhì là tri thức do học hỏi. Nhưng chẳng phải là cái học kinh sách thuộc lòng chất đầy bụng : “ Có những kẻ ngu xuẩn đi học thuộc lòng giáo lý... ; họ chẳng tìm hiểu giáo lý bằng trí tuệ, và vì vậy chẳng bao giờ thấu hiểu giáo lý ” (Trung bộ kinh, M I 133). Yếu tố thứ ba của tuệ là “ trau dồi tâm thần ” tạm dịch từ “ bhavana ” dùng cho các trường hợp tu luyện thiền quán. Đó là phần trực giác được phát huy bởi các phương pháp ấy.

Tuệ, cái tri thức nhạy bén, thấu đáo quan hệ, quy luật che lấp sau hiện tượng của sự vật là kết tinh của học hỏi, suy luận và trực giác. Phương pháp, kỹ thuật nuôi dưỡng, phát triển trực giác, phát triển trí tuệ của nhà Phật là kinh nghiệm quý báu trong kho tàng văn hoá chung của loài người.

   

Nhà Phật có tiềm năng đem lại cho giáo dục ngày nay quan niệm, lý thuyết, phương pháp và kỹ thuật về các điểm : 1) thể xác và tâm thần quyện lấy nhau mà phát triển ; 2) lý trí đi đôi với trực giác ; 3) hài hoà đời sống tập thể bằng tinh thần và nguyên tắc của chữ hoà.

Cũng nên thêm vào những điểm nói trên tinh thần học hỏi không biết mệt mỏi.

Một trong những truyền thống nhà Phật là lòng tin vào tâm Phật hằng có nơi mỗi người, bất cứ nơi đâu, bất cứ thời đại nào. Đó chính là cơ sở của truyền thuyết cho rằng lời đức Phật từ đỉnh núi Linh Thứu còn mãi mãi vang vọng khắp thế gian. Nói thế, có nghĩa là tâm Phật không ngừng vận hành. Ngoài kinh điển lưu truyền, mỗi thời còn mỗi mở mang thêm tri thức giải đáp các vấn đề đặt ra cho thân phận luôn luôn biến chuyển của con người.

Chính trong tinh thần ấy mà người phật tử tâm nguyện hàng ngày : “ Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học ”.


bùi mộng hùng

(5.1997)

    

(1) A mon avis, la principale illusion consiste à penser que la Vérité est le résultat ultime d'un processus de pensée. La Vérité, au contraire, est toujours le début de la Pensée. L'acte de pensée commence après qu'une expérience de vérité a fait mouche. (Correspondance 1949-71)

Các thao tác trên Tài liệu

được sắp xếp dưới:
Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss