Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Báo cũ / Số 161 - 04.2006 / Thừa chút hương trời

Thừa chút hương trời

Truyện ngắn
 

Số 161 - tháng 04. 2006

Truyện ngắn

Thừa Chút Hương Trời

Đào Vũ Hoài

Một đêm cô gái ra giếng tắm, và từ đấy ở đâu thấy bóng dáng cô y rằng đất trời thoang thoảng hương thơm bối rối hồn người. Da thịt cô cũng từ dạo đó trở nên trắng mịn, đôi má cô hửng đỏ ánh hồng, đôi mắt cô lấp lánh làm phai nhạt những ông sao trong trời đêm vô tận ; cô gái nhón bước khoan thai như đi trên nhung lụa, ngôn từ thùy mị ai nghe cũng như mê như hoặc ; đôi môi cô chẳng cần quết trầu thắm, mái tóc cô tằm trong nẻn nhả tơ không cách nào óng ả cho bằng. Hương lân đủ hai mươi mấy mái gianh qua đêm bỗng đâu thấu cốt cuộc sống thôn quê cơ cực. Người nông dân nhìn chân tay mình nứt nẻ chai cằn, đầu bù tóc rối chấy rận râm ran ; họ tối mặt bởi những lo toan tẳn mẳn, mót mái núm nắm lấy cuộc sống, truyền kiếp tự dỗ dành một nếp an bần luốc nhuốc như lấm như bùn. Thế đấy, ông Tú ạ, cụ Phó từ quan khề khà tâm sự cùng cha cô gái, người dân quê đổ mồ hôi quấu ngón chân trên luống cày, chết ra ma vẫn sợ đói ; lòng đố kỵ so bì hơn thiệt thổ huyết cho những trói buộc tập quán để được tin vào một định mệnh. Người ta sợ những giấc mơ hão huyền hay quấy nhiễu, lấy đi lòng nhẫn nhục đã được rèn đúc qua bao đời.

Phải, qua đêm người ta vỡ lẽ rằng đích thị cô gái phong tư mỹ tú kia là mặt gương chiếu mộng. Cô đã khiến dân làng dạo này hay chép miệng, sầu muộn vô cớ nhìn xa xa những thửa ruộng cắt ngang tầm mắt thâu hẹp màn trời ; chính cô mang đến chiêm bao khi người ta thức giấc. Bọn đàn ông ra vào thở dài thườn thượt, bỏ cơm bỏ rượu, sao nhãng việc đồng áng ; vụ mùa năm nay có mòi thất bát. Nói chi bọn mày râu, trẻ ngoài đồng nhác trông thấy bóng cô gái mười thằng y cả mười đâm ngơ ngác để sổng cả trâu. Thằng Lực tuổi hoàng đinh mười bảy hừng hực sức trai, nhà hai mẫu ruộng, nằng nặc đòi u nó trầu cau biện lễ. Mẹ Noãn nhổ quết trầu, bảo của ấy rước về đội lên đầu mà thờ. Thằng Lực không nói thêm nửa lời. Nó nổi lửa đốt đình. Lửa bốc cao ngọn, nó đứng giữa đêm huơ cái rựa, chỉ mặt bọn tuần tráng bảo phen này đứa nào xen vào nó cho biết tay. Tránh voi chẳng sợ xấu mặt, đám trai làng chạy đi gọi lý trưởng. Thằng Lực rượt lão già khốn khổ chạy hết ba quãng đồng. Sáng ngày gà gáy te te một trỡ trong thôn thấy lão về đến cổng làng, áo quần ướt lướt mướt, mắt trợn tròng, da mặt vàng nghệ, ngoác mồm nói không ra hơi. Lão bệnh liệt giường có đến hơn tuần lễ. Thằng Lực bỏ làng đi biệt tăm.

Cánh đàn bà con gái trong làng tất nhiên nhìn cô gái thẹn với giấc mơ lòng ; họ căm phẫn nhìn nỗi lòng họ tênh hênh. Họ hùa cả về với nhau; nói sao cho xiết, thôi không ngớt lời xúc xiểm, trù rủa cô gái tắm giếng nay biến hình đổi dạng. Ngay đến cô Ba, vợ bé lý trưởng, cũng để tâm hờn uất : dẫu trước mặt cô lão già chối phăng mọi lời gièm pha phao phản, đã nhiều lần cô bắt quả tang lão ấy tủm tỉm cười một mình. Cô Ba ngày trước yểu điệu hoa nương, sinh sống bằng ngón nghề cầm ca ngoài Kẻ Chợ ; khi lý trưởng cưới cô về làm lẽ, nhan sắc thanh xuân của cô đã khiến bà Hai xỉu lăn ra nhà. Những kẻ lắm điều rỉ tai nhau, bảo bà Hai đã mấy lần dùng dải lụa đào thắt cổ quyên sinh, may sao cứu kịp. Nhưng giờ đây chính cô Ba đang sống những ngày táo tác, ăn không ngon, ngủ không yên ; nom cô gầy rộc hẳn đi. Riêng bà Cả nhìn sự đời rối rắm lấy làm hả dạ, nhưng đó là điều bà chẳng màng nói ra.

Cho đến cái đêm sáng trăng suông, mụ Liễn lẻn mò ra giếng quay con ròng rọc múc nước tắm gội, dớn dác thế nào quàng phải sợi chão buộc gầu nhào đầu xuống giếng, cha con ông Tú đành dỡ nhà ra ở dưới bãi sông ngoài rìa làng.

Cha con cô gái sống âm thầm từ đấy. Những buổi chợ xa, tinh mơ nghe chị em bạn họ rục rịch quang gánh ơi ới gọi nhau đằng cổng làng, cô gái mủi lòng nén tiếng thở dài ; vào những dịp vui đình đám, gái trai hơn hớn rủ nhau trẩy hội làng xa làng gần cũng chẳng ai còn nhớ đến cô. Trong làng mình thằng mõ lấn quấn đi lại túp lều vách nứa xiêu mọp ngoài đất bãi. Người trong làng nhìn mõ bĩu môi ; thằng mõ xưa nay tính nết lanh xảo, điêu ngoa ti tiện còn ai lạ gì. Cô gái nhìn mõ hăm hở giúp cô phát nương vùi khoai vun sắn, đặt đó đơm lờ bắt cá giủi tôm, cô ngẫm thương kẻ cùng đinh mang quả tim chất phác hay dè dặt lo sợ. Phần thằng mõ, chỉ cần cô gái nhoẻn miệng cười, nó thấy đời êm đềm như khúc sông hiền hòa lằng lặng đem phù sa đắp bãi. Chưa bao giờ mõ biết để mắt ngắm dòng sông quê hương nghĩ đấy hình ảnh thâm u của cuộc đời. Thằng mõ thấy một nỗi xao xuyến khôn tả xâm chiếm lòng mình.

Cô gái mồ côi mẹ từ tấm bé, cha cô đã già. Ông Tú hai mắt kèm nhèm, gia sản ông để lại cho con được mớ kinh nghĩa. Rỗi việc, cô gái ngồi bên cha khêu bấc ôn chữ cổ nhân. Quân tử hữu tam hoạn. Vị chi văn hoạn phất đắc văn dã; ký văn chi hoạn phất đắc học dã; ký học chi hoạn phất năng hành dã. Cô gái chạnh lòng ; cô thấy đời vẫn tẻ ; người cha già thông suốt lẽ đạo cuối đời chỉ im lặng thở dài, mặc nhận kiếp sống phù du huyễn hoặc. Cô gái nghe quả tim son trẻ nhói lên phản kháng. Cô lấy làm tủi hổ bởi niềm rạo rực bất hiếu ấy. Nhưng đấy là những điều cô giấu kín trong lòng.

Sông miên miết trôi với nỗi u tịch của riêng nó, cứ thế.

Lâu dần lòng người cũng nguôi ngoai những hiềm khích. Dân làng không nhắc đến cha con cô gái nữa; cũng như hàng cau sân trước, bụi chuối vườn sau, mái hiên vách chái : người ta biết có đấy nhưng chẳng khiến ai bận tâm vướng mắt thì thôi. Một năm hai vụ, cuộc sống xoay vần theo thời tiết, nhọc lòng với nắng mưa trái chứng. Đồng trên cấy vụ chiêm nom trăng tháng Tám thấy đùng đục đỏ, có quầng, thì xốn ruột lo mất mùa ; mé đồng trũng cấy vụ mùa tháng Mười ngóng hướng đông bắc mong gió bấc gió may. Tháng Hai thiếu mất mùa cà, thiếu tháng Ba mất đỗ ; những năm tháng Tư thiếu ngày nuôi tằm còn non kén tằm rữa ; tháng Bảy lại lo bão lụt, sang tháng Tám hạn hán, rét tháng Chạp táp mạ.

Qua cốc vụ hoa bí đỏ trên giàn, hoa bầu trắng xóa ; xử thử thị méo trôn đỏ da ít hột, mít tròn chơm chởm nây đều nhiều múi ít xơ.

Ngày tháng lặng lẽ qua, người ta tưởng chừng đã quên.

Vào tiết tiểu mãn năm nay đã thấy lảng tảng những ngày oi bức. Lúa ruộng chiêm cuối mang chủng gặt một trăng nữa thì xong. Làng thôn rộn rã mùa cơm mới, sang canh tư vẫn vang vọng tiếng chày ba nhịp nhàng. Chọn ngày lành, dân làng cử lễ tạ tội chư vị thánh thần cùng tổ tiên, đón các hiệp thợ về làng thi công trùng tu ngôi đình. Làng bắt vạ, mẹ Noãn buộc lòng đơm quải hai trâu, lại còn lợn gà nếp đỗ hoa quả. Dịp đó người ta rước sắc phong thần phả long trọng lắm, các vùng lân cận đổ về xem. Người ta cầu xin một cuộc sống an bình. Trăng tháng Tư hứa hẹn một vụ mùa lắm thóc.

Sông vẫn trôi với dòng thao thức của riêng nó, cứ thế.

Nhưng đất trời chợt im bặt và vạn vật nín thở từ một đêm : dưới mé sông nghe thánh thót tiếng cô gái hát. Người ngưng tay giã, kẻ thức giấc trăn trở ; lòng người tất thẩy lung lạc. Canh khuya xao xác, nghe như có cơn dông đã về ở cuối trời. Hát rằng :

Thừa chút hương trời ta bắt được
Ta đi trên một dải thiên ngân
Rắc nhẹ phấn thơm, thơm từng bước
Ngoạn du thêm đẹp giấc dương trần

Trăng với nước phù trầm đẫy bóng
Lặng yên mơ về cõi thanh tâm
Lắm cuộc gian truân
Nhiêu khê vạn dặm
Lạ nhỉ, dương đài trăng ngã sóng
Ta mơ thấy cánh hạc cung đàn

Tiếng hát là đà trong đêm tĩnh lặng, lả lướt trêu bóng con trăng khuyết một lưỡi xanh mướt dập dềnh trên nước, rồi chợt bay vút lên trong không trung, bộc phá trời khuya vỡ vụn ra muôn vàn tinh tú. Và từ trời cao thăm thẳm dư âm lấp lánh châu sa, li ti vô số vô hạn, trùng trùng rơi rắc trên thôn ấp, trên bát ngát đồng chiêm ngai ngái hương rạ. Tiếng hát xào xạc xô ngọn tre, trâu nghé trong chuồng đánh sừng cành cạch vào thanh chắn. Hấp hối tằm đỏ cổ ăn rỗi, vi vu hương ổi hương cau. Lặng nghe con tạo quặn mình sinh nở. Thằng mõ ngồi thu lu trong đám sậy, tim giật thót mỗi khi cô gái vục tay hắt ánh trăng ướt lên vai trần. Lại hát rằng :

Giật mình chợt tỉnh giấc mai
Hỏi ai đã biết thương ai gió cầm
Bạc đời vương mối đan tâm
Ngóng trông đã mỏi ngọc trầm thở than
Diên trì kiếp mọn hương quan
Tiếc trời bể rộng, quan san tít mù
Tiếc hồn lãng tử vân du
Thanh phong vùi chốn khuê tư não nùng
Phù sinh một cuộc mông lung
Lâng lâng dạ khúc vô chung nát lòng

Nỗi tâm trường mỹ từ cao xa mõ không hiểu, vả chăng thanh âm nức nở khiến mõ nghếch ngác. Thằng mõ đưa tay áo quệt nước mắt, cuộc đời nó tủi nhục khốn khó đã nhiều, nhưng mối thương lòng cô gái đang tỏ bày đây nhẹ nhàng vô định mà sao ray rứt đau đến thế. Mõ mơ cho cô gái giấc mơ sân gạch cối đá, chiếu miến chăn điều : ở đấy mõ vỗ ngực xưng ông chứ không ai gọi mõ là thằng. Con trăng khuyết đêm nay diệu kỳ, to tát quá. Và hương thơm từ da thịt cô gái cứ tỏa lan ngây ngất hồn người.

Trong túp lều vách nứa ông Tú trở mình trên chõng tre, ruột đứt khúc xót thương đứa con gái phận trớ trinh.

Hạ qua, vào tiết bạch lộ mát trời. Buổi tinh mơ hơi sương tờ mờ đất, nghe trong gió có hương rừng hoang dã. Chiều xuống xanh êm như tiếng hát bé gái ru em; biêng biếc cánh diều đơn côi căng mình đón đầu ngọn gió. Người ta nhớ năm đó vào năm Ất Hợi (1875), Tôn Thất Thuyết đã dẹp yên giặc Hoàng Sùng Anh hơn một thập kỷ qua quấy rối mạn trung du. Lưu Vĩnh Phúc và đồng bọn đã về hàng từ mấy năm trước, năm Quý Dậu (1873) theo cánh quân của Hoàng Tá Viêm phục binh ở Cầu Giấy đánh ngoại xâm. Nhưng thái độ nghị hòa của triều đình khiến văn thân sĩ phu trong nước nẫu ruột bẩy gan, và sau hiệp ước năm Giáp Tuất (1874) càng loạn lạc khắp nơi. Người vùng lên khởi nghĩa, kẻ làm giặc. Mạn thượng du thổ phỉ tràn sang cướp phá, đằng trong thực dân mưu đồ đánh chiếm lại Bắc Kỳ bằng được. Hoàng Sùng Anh cũng không về thần phục triều đình ; người ta bảo dư đảng của y một số tản mát lên mạn ngược, một nhóm theo người con trai xuôi miền bình nguyên. Huyện sức trát về làng lệnh cho ban Hội Tề tổ chức hương tuần chặt chẽ.

Buổi chiều hôm ấy khi rặng tre cuối làng cháy rực ráng đỏ, quan huyện úy xuống ngựa truyền quân xích chàng thanh niên lại. Lý trưởng dẫn đầu hương chức cùng các bậc kỳ lão khúm núm ra đón rước. Hương quản cắt cử đinh tráng luân phiên canh giữ phạm nhân. Ban hương lễ quát tháo huy động dân làng quét gian tiền tế soạn mâm chén. Đêm nay quan dừng chân nghỉ chốn này ; cũng còn đến độ ngày đường mới về đến huyện. Quan cởi đai bỏ trụ, mệt mỏi ngồi xuống chiếu. Râu tóc ông râm bạc một đời từng trải, áo ông phai bạc gió bụi ; gươm trong tầm tay, đôi mắt ông quắc sáng tinh anh quan sát bốn bề. Ông từ tốn nhấp chén, dường không để ý đến lý trưởng đang xăng xái bên ông hầu rượu. Những suy tư rã rượi trong lòng quan dồn cả vào người tù cổ mang trăng chân đóng tróng ngồi ở sân đình. Toán dân canh đốt đuốc cháy bùng bùng ; ánh lửa tỏa sáng sẫm cảnh chiều hôm, khiến cái trăng non chếch ngọn đa nhạt vầng. Chàng thanh niên dáng mạo tuấn tú, mắt long lanh điềm mạc, áo rách phanh khuy, Thái Bình Thiên Quốc xăm trên ngực. Dân làng nô nức ra xem tù. Quan sai người mang cơm nắm muối vừng cho chàng thanh niên.

Cơm nước khuýnh khoáng qua bữa, quan huyện úy ra đứng ở tam cấp ngoài hiên đình. Rệu rã ông ngẩng mặt ngắm con trăng lìa ngọn đa : một chốc nữa thôi trăng kia sẽ lơ lửng giữa mênh mông một trời. Lửa cảnh vệ nương gió hung hãn đẩy bung màn đêm ra mé đồng. Lý trưởng hai tay bâng khay rượu ngọn lom khom theo bước quan huyện úy. Rượu làng ta ngon đấy, quan khen. Lý trưởng còng lưng sung sướng, miệng bẩm quan quá lời. Trăng trên cao lẻ loi một thân nó một vầng khi tỏ khi nhòa. Một nỗi không hoãn choáng ngợp lòng, quan thấy ngực trĩu nặng. Kém ăn mất ngủ đã lâu, ông mang lá gan trung liệt làm tròn bổn phận trên những nẻo đường thảm đạm. Nguy cơ mất nước ngày một gần, vua tôi không thuận lòng hợp ý. Vâng lệnh triều đình Hoàng Tá Viêm đã phải triệt binh về Sơn Tây, Trương Quang Đản cầm quân ở Bắc Ninh đợi sắc mệnh. Quan huyện úy thở dài chua xót : triều đình chủ trương hòa nhượng, dâng đất cho giặc để cầu an. Mới năm ngoái đây, từ chín bệ lại điều binh cử tướng ra đàn áp cuộc khởi nghĩa của văn thân sĩ phu yêu nước. Quan huyện úy cầm lấy chén và chiếc be sứ, bảo lý trưởng lui vào. Tự tay ông rót rượu đưa kề miệng tội phạm. Bấy giờ trống điểm canh hai. Gió khuya nhẹ xé mỏng lá tre. Chợt ngoài bãi sông nghe tiếng hát. Hát rằng :

Hồn viễn chinh thương khóc nước non nhà
Gió heo may chẳng mưa thời cũng bão
Cất cuộc binh đao
Can chi dứt áo
Thổn thức canh khuya trống gióng nơi thôn dã
Đạm nhiên sao đặng thân côi rã rục đau
Trăng kia xẻ nửa mái gianh nghèo
Đảm phụ triều cương vận ẽo uột
Ruột mất vỏ còn
Lối mòn lắt léo
Còn bao phen gió thốc sương gieo

Quan huyện úy sững hồn ; chén rượu trên tay run run, ông tê tái nhắm nghiền mắt nghe sóng sánh lời tri tâm. Người tù mang gông khẽ cựa mình, ngoảnh mặt trông về trời phương bắc xa xăm chỉ thấy đêm đen nặng trì hai vai. Lý trưởng te te chạy đến đợi quan sai bảo. Đám lương dân chộn rộn đứng lại ngồi. Tre trong lũy trầm dũng reo với gió, phong hoa có hàng cau sân trước vịnh trăng trong âm vực của thinh không.

Khi người ta điệu cô gái đến trình quan hương thơm tỏa lan ngây ngất sân đình ; hương sực nức giăng trên mái ngói rồng chầu ngọc, quyện quanh nghê đá hạc đồng, ủ trong thớ gỗ mun bóng nhẫy. Phừng phực hơi lửa ngọt ngào hương quế hương trầm. Không ai để ý trên cao con trăng tỏ rạng. Đôi mắt cô gái nuốt thun thút ánh lửa, tóc cô buông mượt mà, đen nhanh nhánh như câu thề ước ; cô bước khẽ khàng, thanh khiết tựa những cơn mưa hứa hẹn dông bão chuyển mùa. Từ xa cô đã không rời ánh mắt tội phạm. Chàng thanh niên đau xót nhận ra trong tim mình bấy lâu có cái chết chỉ thống đi cùng : nó mang diện cụ trá hình, ẩn sâu bên trong niềm khuể phẫn. Chàng hiểu, phụ sinh có nỗi tuyệt vọng bám lấy cái chết như hình với bóng. Phần cô gái, cô giật mình thầm nhủ lòng ; cô đã nhìn kia cuộc sống sương cư tựa loài hung điểu biết nhái tiếng người. Trong một nhoáng trăng phân rỗi đôi trai gái biết mình yêu nhau. Đêm thơm có cánh hạc lẻ bạn âm thầm trở canh. Họ im lặng nhìn nhau như thế, đôi trai gái ấy ; họ biết đâu quan huyện úy bao dung ngầm mắng trăng. Rượu về khuya sủi tăm thảm trắc, chẳng ai để mắt con trăng ngả hồn say với quan. Nào ai hiểu lòng quan huyện úy đang sôi sục ngóng trông về miền châu thổ hướng tây bắc, tai nghe khí thiêng qua muôn dặm trùng trùng.

Gà gáy dứt canh đứng cổng làng còn nom thấy bóng quan quân lờ mờ trong hơi nước cuối cánh đồng. Ngoài mé sông kẻ đi đăng bì bõm nước lội đến ngực ; ở đầu làng người háo hức nhắc nhau đi sớm, phiên chợ bến Lớ bao giờ cũng đông vui. Lanh lảnh khướu hót trong lũy tre. Tinh mơ se lạnh bén như chỉ cắt, đằng đông hanh hảnh phấn hồng. Trẻ con dòng trâu ra đồng để mặc trâu ăn cỏ, tụ năm tụ bảy nhóm lửa sưởi với nhau đợi khoai lùi.

Ông Tú chong đèn đợi con không thấy cô gái về.

Tương truyền nửa đường quan thả tù rồi thúc quân đi ngược con sông Đuống.

Đào Vũ Hoài

 

© http://www.diendan.org

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss