Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Hồ sơ / Hồi ức tuổi thơ - Văn Ngọc / Hồi ức tuổi thơ: Hà Nội mến yêu

Hồi ức tuổi thơ: Hà Nội mến yêu

Hà Nội có nhiều cái đáng yêu, mà có lẽ cũng chính là những cái bền bỉ nhất. Tôi muốn nói đến cái vị trí địa dư, lịch sử, đến cái đẹp thiên nhiên của nó.
- Chương 08 -

Hà Nội mến yêu


Văn Ngọc

Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long
Huỳnh Văn Nghệ



Nhìn bản đồ Hà Nội in năm 1964, hay gần đây hơn, bạn sẽ thấy thủ đô của chúng ta được chia làm bốn quận nội thành : Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, và năm huyện ngoại thành :NhaThoLon Trong cuốn sách "Đi thăm đất nước" xuất bản năm 1978, ông Hoàng Đạo Thuý cũng dựa theo cách chia này để miêu tả thành phố Hà Nội.
Ngày nay, có thêm một vài quận huyện mới ở ngoại vi, như : Tây Hồ, Long Biên, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai, v.v.
Thực ra, người Hà Nội, cho tới những năm 50 vẫn "chia" thành phố của mình ra thành những "khu phố" nhỏ hơn, thân mật hơn và dễ nhớ hơn : Đông Thành, Quan Thánh, Chợ Đồng Xuân, Cột Cờ, Chợ Hôm, v.v.
Sau này, người ta mới dần dần quen thuộc với những cái tên khu ở ngoại thành, như : Trung Tự, Kim Liên, Vân Hồ, Từ Liêm, Mai Dịch, v.v., đó là những khu nhà ở tập thể được xây dựng sau ngày hoà bình lập lại ở miền bắc.
Năm 1946, trước lúc tác chiến, Hà Nội được chia làm 3 Liên khu, chủ yếu có tính chất quân sự : Liên khu I, gồm Khu 36 phố phường cổ, thành nhà Nguyễn (trại lính tây), ranh giới phía Nam của khu này là đường Tràng Thi - Tràng Tiền, ranh giới phía bắc là đường Cổ Ngư và đê Yên Phụ.
Liên khu II, từ đường Tràng Thi trở xuống phía nam, ranh giới phía đông là sông Hồng, phía tây là phố Hàng Lọng, sau đổi tên thành đường Nam Bộ, nay là đường Lê Duẩn.
Liên khu III ở về phía tây-nam, gồm các khu Ô Cầu Giấy, Nam Đồng, Ngã tư Sở, Trường bay Bạch Mai, v.v.
Liên khu I là nơi chiến đấu ác liệt nhất, vì nằm chặn ngay đường ra của quân Pháp. Đây cũng là nơi khai sinh ra Trung đoàn Liên khu I, và Trung đoàn Thủ đô.
Những khu phố cổ nhất của Hà Nội là khu Đông thành, khu Đồng xuân và một phần khu Hoàn Kiếm, cả ba khu này đều nằm trong Liên khu I.
Có thể lấy ranh giới phía nam của " khu phố ta " là đường Tràng Thi, bởi vì khi người Pháp đến, đã cho xây " khu phố tây " ở phía nam đường Tràng Thi.
Khu Ba Đình, trước là khu thành cũ của vua chúa nhà Nguyễn, sau đến thời Pháp thuộc trở thành " trại lính tây ", người dân thường không ai được phép vào đây. Tuy nhiên, ở phía đông trại lính, giáp với Cửa Đông, có một không gian đệm, ở đây có một con đường đầy bóng mát, dân chúng có quyền đi lại trên con đường này. Ở đây có những ngôi nhà xây theo kiểu biệt thự, phần lớn là dành cho các gia đình sĩ quan tây. Dọc theo con đường này có trồng nhiều phượng vĩ. Ở Hà Nội, có lẽ đây là nơi có những cây phượng vĩ cao lớn nhất, và mùa hè, đây cũng là nơi có nhiều ve sầu nhất, bọn trẻ con chúng tôi thường hay mạo hiểm vào đây để "dính ve sầu" và để nhặt hoa xoan tây (phượng vĩ) về chơi "chọi gà".

Trước Cách mạng tháng Tám, khi trò chuyện vui đùa giữa chúng bạn ở trường tiểu học, chúng tôi vẫn thường hay phân biệt "phố trên" và "phố dưới". Có khi nghịch ngợm, còn gọi là "xóm trên" và "xóm dưới". Kể ra cũng hợp lý, vì "phố trên" chỉ những phố ở về phía bắc đường Tràng Thi, đại khái là những phố buôn bán cổ của các khu Hoàn Kiếm, Đồng Xuân và Đông Thành. Còn "phố dưới" là chỉ tất cả những phố từ mạn chợ Hôm trở xuống. Tuy nhiên, sự phân chia đó, trong đầu óc chúng tôi ngày ấy như có một thoáng "kỳ thị" : dân phố dưới phần đông là những con nhà công chức nhỏ, hoặc buôn bán nhỏ. Tôi không nói đến những trường hợp hiếm hoi là những cô chiêu cậu ấm con nhà quan, vì đó lại là một chuyện khác, có khi họ không ở ngay trong Hà Nội, hoặc không học ở những "trường ta", ngay cả từ tiểu học. Còn dân phố trên, nếu không là con ông cháu cha, thì cũng thuộc những gia đình cổ, hoặc con nhà buôn bán có cửa hiệu tương đối lớn.
Thời ấy, dân "phố trên" chúng tôi ít khi nào thèm đi chơi xuống các "phố dưới". Mạn chợ Hôm, hồ Ha-le, Lò Đúc, v.v. đối với bọn trẻ chúng tôi ngày ấy, hãy còn là những khu phố hoang vu, vắng vẻ, mới ở ngoài lề, chứ chưa phải là Hà Nội! Mà quả thật, trung tâm Hà nội ngày ấy còn nằm ở mạn trên này. Cũng như, bọn trẻ con phố dưới có việc mua bán gì cần thiết lắm mới lên phố trên, chứ còn không thì cũng ngại, vì bọn trẻ ở các phố trên nổi tiếng là du côn !

Chính nhờ những năm tháng tránh bom Mỹ-Nhật, các trường dọn ra ngoài thành phố và được tập trung lại, mà tất cả bọn trẻ chúng tôi, không phân biệt phố trên, phố dưới, lần đầu tiên được chung đụng với nhau, cơm nắm muối vừng, ở những ngôi đình làng Hoàng Mai, Tương Mai, Quỳnh Lôi, v.v. Lúc này, các trường trung học như Đồng Khánh cũng chạy xuống Hưng Yên, trường Bưởi (Chu Văn An) chạy vào Thanh Hoá, trường lycée Albert Sarrault chạy lên Tam Đảo, trường Thăng Long chạy vào Ba La Bông Đỏ (Hà Đông), v.v.

Nhưng phải chờ đến Cách mạng tháng Tám mới có được một sự cởi mở và hoà hợp thực sự giữa thanh niên, thiếu nhi ở các khu phố Hà Nội. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh những đứa bạn không còn rụt rè nữa, lần đầu tiên lấy xe đạp đi chơi lên phố trên thăm tôi ở phố Hàng Bát Đàn, còn được gọi là Hàng Bát Cũ (tên tiếng Pháp thời Pháp thuộc là Rue Vieille-des-Tasses).

BenSongHongHà Nội ngày xưa đông vui nhất là những phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Bút, Hàng Bát đàn, Hàng Thiếc, Hàng Da, v.v. Đó là những phố buôn bán theo cấu trúc phường cổ. Sau này, do sự buôn bán có đổi khác đi, dân cư ở các nơi lại kéo đến làm ăn ngày càng nhiều, sau hai đợt nhập cư ồ ạt vào những năm tiếp theo sau 1954 và 1975, nên những khu " phố dưới " bây giờ cũng đông đúc tấp nập không kém gì những phố trên. Mặc dầu hàng hoá buôn bán chẳng có gì mấy, nhưng người ta vẫn họp chợ ở ngay vỉa hè, có khi lại còn tràn lan cả xuống đường, làm vướng xe cộ đi lại nữa. Đây là một chuyện rất chướng mắt, mà nhà nước đã phải làm ngơ đi từ nhiều năm rồi, đến nay vẫn chưa xoá bỏ được. Gần đây, vào giữa những năm 80, tôi có dịp về ở trọ ở một nhà khu Chợ Hôm, phố Trần Xuân Soạn, suốt ngày có chợ vỉa hè, tối đến rác rưởi chất đống cao bằng đầu người. Đêm đến mới có người đem xe bò đến hốt đi. Tiếng xẻng và tiếng người vừa làm vừa nói chuyện oang oang kéo dài đến một, hai giờ sáng, làm cho mọi người hàng phố không ngủ được. Nhìn về mặt vệ sinh, cũng may mà nước mình hay có những trận mưa rào, chứ những rác rưởi còn sót lại trên hè đường mà không có vòi nước để cọ rửa mỗi ngày, bị thối rữa ra, thì cũng không lấy gì làm lạ.
Hà Nội thực ra chưa bao giờ được là một thành phố sạch sẽ, nhất là ở những khu buôn bán cổ. Với hệ thống cống rãnh làm từ thời Pháp thuộc đã hư hỏng và quá nhỏ, có nhiều phố bị ngập lụt sau mỗi trận mưa to. Với cách " đổ thùng " đêm rất phiền phức và đôi khi cẩu thả, Hà Nội ngày xưa không thể nào sạch sẽ được. Thêm vào đó, đường sá trong khắp thành phố làm không kỹ, dễ bị hư hỏng, đầy ổ gà, mỗi lần xe hơi đi qua là bụi mù!
Tôi đã từng được biết cái bộ mặt của "Hà Nội lầm than", của "Hà Nội 36 phố phường" là như thế nào. Hà Nội với ăn mày, kẻ cắp nhan nhản khắp nơi. Hà Nội những năm 44-45 đói kém, với những chiếc xe chở xác, và hàng lũ người nghèo khổ từ các vùng quê Nam Định, Thái bình kéo nhau lên đây, để rồi chết đói ở các hè đường, góc phố.
Thực ra, khó mà có thể tưởng tượng được một thủ đô khang trang, khi đất nước còn nghèo khó, và nhất là khi dân trí còn chưa thật sự văn minh tiến bộ.

Tôi ra đi du học vào lúc Hà Nội còn là một thành phố bị tạm chiếm. Tuổi đời lúc đó cũng còn non nớt, nên chưa hiểu biết hết được mọi chuyện. nhưng hình như chính ở cái tuổi ấy người ta lại dễ nhạy cảm với những điều mình nhận biết, để rồi nhiều năm sau mới thấm hiểu được phần nào ý nghĩa.
Hà Nội có nhiều cái đáng yêu, mà có lẽ cũng chính là những cái bền bỉ nhất. Tôi muốn nói đến cái vị trí địa dư, lịch sử, đến cái đẹp thiên nhiên của nó.
Hồ Gươm, ở giữa trung tâm, như một trái tim trong quả tim của đất nước. Hồ Gươm như một giọt nước mắt lắng đọng, một tấm gương soi bóng bao đời.
Hồ Tây như một buồng phổi lớn, một cửa ngỏ đón lấy cái không khí trong lành cần thiết từ những vùng đồng quê xa xôi. Từ chùa Trấn Quốc, chúng tôi vẫn hay đứng nhìn về phía rặng núi Ba Vì để mơ ước đến những chân trời mà chưa bao giờ mình được đặt chân tới.
Nhưng sông Hồng mới thật là cái sức mạnh, cái nguồn cảm hứng vô tận của Hà Nội, tuy rằng nó vẫn chưa được người Hà Nội quan tâm đúng mức, như người xứ Huế đối với sông Hương, chẳng hạn.
Không lấy gì làm lạ, là khi Văn Cao sáng tác bài  “Thăng Long hành khúc ca"  vào những năm 44, anh đã bắt đầu bằng những câu : 
HoGuom
Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng
Trông khói sương chiều ám trên dòng sông
Nhị Hà còn kia, Nhị Hà còn đó
Lũ quân chàng Tôn sập cầu trôi đầy sông… "


Rồi Nguyễn Đình Thi, trong bài  "Người Hà Nội", với một mạch thơ và một nhịp điệu khác hẳn, không nhộn nhịp, bóng bẩy, nhưng cô đọng, hoành tráng :

“ Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây
Đây lắng hồn núi sông ngàn năm
Đây Đông Đô, đây Thăng Lo
ng, đây Hà Nội 
Hà Nội mến yêu !… "

Phải hiểu lịch sử đất nước, phải yêu Hà Nội lắm, mới có thể sáng tác ra được những câu hát đẹp như thế.
Tôi nghĩ rằng ngày nay còn cần phải có thêm một niềm tin nào đó, mới giữ nổi cái tình yêu trong sáng của mình đối với một nơi chốn mà mình đã từng yêu mến.
Vì Hà Nội chỉ thật sự đẹp và đáng yêu khi cái niềm tin ấy vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim ta.


Quay về:

Lời giới thiệu: Văn Ngọc - Một người Hà Nội rất Hà Nội
Chương 01: Tuổi vỡ lòng
Chương 02: Khu phố thời thơ ấu
Chương 03: Phố tôi ngày ấy
Chương 04: Những năm tháng không thể nào quên
Chương 05: Những ngày tháng chạp 1946
Chương 06: Hà Nội những ngày khói lửa
Chương 07: Ăn Tết làng dừa

Các thao tác trên Tài liệu

được sắp xếp dưới:
Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss