Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Hồ sơ / Hồi ức tuổi thơ - Văn Ngọc / Hồi ức tuổi thơ: Phố tôi ngày ấy

Hồi ức tuổi thơ: Phố tôi ngày ấy

Dần dần, những tư tưởng "đánh Pháp, đuổi Nhật" cũng thâm nhập vào đầu óc các thanh thiếu niên phố tôi.

- Chương 03 -

Phố tôi ngày ấy


Văn Ngọc


Tôi sinh ra và lớn lên ở phố Hàng Bát Đàn (còn được gọi là Hàng Bát Cũ), một trong những phố buôn bán cổ của Hà Nội, thuộc khu Đông Thành.
Không biết xưa kia ra sao, nhưng ít ra từ đầu thế kỷ XX, từ lúc bố tôi đến lập nghiệp ở đây, phố này đã chia ra làm hai dãy, dãy số chẵn cùng khối với các phố Hàng Bát Sứ, Hàng Phèn và Hàng Bút, chuyên bán đồ sứ; còn dãy số lẻ thuộc cùng khối phố với Hàng Thiếc, Hàng Nón và Hàng Điếu (Nhà Hoả), thì phần lớn lại bán đồ da. Có thể, ngày xưa phường hàng hòm, hàng da bao gồm cả nửa bên này của phố tôi, vì phố Hàng Hòm, Hàng Da, và Ngõ Trạm, cũng nằm không xa.
Sau này, khi Cách mạng lên, Hà Nội được chia thành 3 Liên khu, thì khu Đông Thành thuộc Liên khu I, và sẽ là Liên khu "nóng" nhất trong những ngày đầu kháng chiến.

Trên bản đồ, phố tôi nằm ngang theo hướng đông-tây, trên cùng một trục với phố Cửa Đông, phố Hàng Bồ và phố Hàng Bạc; phía đông giáp với các phố Hàng Bồ, Hàng Bút, Hàng Thiếc; phía tây giáp với các phố Hàng Bát sứ, Hàng Điếu (còn được gọi là phố Nhà Hoả), phố Tiên Sinh (nối với phố Hàng Gà / Hàng Cót) và phố Cửa Đông, phố này chạy thẳng vào Đường Thành, nơi có đường xe lửa đi Nam chạy ngang qua. Đằng sau bức tường đá, thực ra là một cái cầu cạn xây cuốn, ở trên có đường xe lửa chạy - thường được gọi là "cầu Cửa Đông” - là khu vực thành nhà Nguyễn, khi Pháp chiếm được Hà Nội vào năm 1884, thì lấy làm trại lính. Chỗ cổng ra vào của trại lính, chính là Cửa Đông của thành nhà Nguyễn, không hiểu sao dân hàng phố lại quen gọi là “Cổng Tỉnh".
Hướng phố tôi rất dễ nhớ: phía đông, phía mặt trời mọc, là phía Hàng Bồ, Hàng Bạc, cũng là phía sông Cái. Trăng rầm, mỗi lần mọc lên cũng từ phía đó. Hình ảnh mặt trăng, to bằng cái nia, màu ngà, từ từ nhô lên khỏi những cột giây điện và những mái nhà phố Hàng Bồ, Hàng Bạc, là một hình ảnh tuyệt đẹp, luôn luôn gây cho chúng tôi một ấn tượng kỳ ảo ! 

Còn phía tây, phía mặt trời lặn, mỗi chiều đi học về từ phía ấy, là bóng lũ chúng tôi, với những cặp giò khẳng khiu, lại ngả dài lung linh trên hè phố. VietnamtoVietnamese
Đó cũng là lúc chúng tôi sung sướng nhất, không phải chỉ vì đã ra khỏi lớp học, mà vì đã về được tới nơi hè phố ấm áp, thân quen. Phía tây, đối với chúng tôi, cũng còn là phía "cầu Cửa Đông", nơi mà khi Cách mạng lên và Nam bộ bắt đầu kháng chiến, các anh lớn đã viết lên đó bằng sơn trắng, hay bằng vôi, một khẩu hiệu khổng lồ, nhìn từ tít đằng xa cũng đọc được. Đó là khẩu hiệu " VIETNAM TO THE VIETNAMESE". Lúc đầu chúng tôi không hiểu tiếng Anh, cứ đùa nghịch đọc theo tiếng Việt là :”Việt Nam to thế Việt Nam mẹ sề", để rồi cùng nhau cười rũ.

Sở dĩ tôi phải nói dông dài về cái không gian khu phố tôi, cũng như về cái hướng của phố, vì đó chính là cái sân khấu, nơi diễn ra tất cả quãng đời thơ ấu của tôi, gắn liền với những kỷ niệm về Cách mạng tháng Tám, và về những ngày Hà Nội khói lửa, mà tôi muốn ghi lại ở đây.
Trục đường Cửa Đông - Hàng Bát Đàn - Hàng Bồ - Hàng Bạc, là trục thẳng nhất, đi xuyên suốt chiều ngang của khu phố cổ cho tới bờ sông. Trước tác chiến, trong những ngày quân đội Pháp cố ý khiêu khích, thường hay cho xe camion, hay xe jeep ra phố tôi giả bộ mua hàng, nhưng sự thực là để cướp giật, rồi cho xe chạy thẳng vào trong thành. Các anh tự vệ nôn nóng nhất ở trong phố đã có lúc định phục sẵn đề bắn theo, nhưng rồi cũng phải nhẫn nhục, không làm. Mãi sau này, gần đến ngày nổ súng, các anh mới quyết định đào một cái " giao thông hào " băng ngang qua đường, chỗ đầu phố, phía ngã tư phố Hàng Bát Đàn - Cửa Đông - Nhà Hoả - Tiên sinh, để chặn xe tăng, và lập ụ cát ở góc phố, đặt người canh gác có súng ống hẳn hoi, lúc đầu chỉ canh trong ban ngày, sau phải chia nhau canh gác cả vào buổi tối, cho đến tận nửa đêm.
Thời gian này cũng là thời gian các nhà trong khu phố tôi mỗi nhà phải đục một lỗ tường để có thể đi thông từ nhà này sang nhà khác. Cũng nhờ có những lỗ tường này, mà ngày 18-12-1946, gia đình tôi mới rút đi khỏi được khu phố, băng qua Hàng Thiếc, Hàng Nón, Hàng Hòm, để ra ga Hàng Cỏ, đáp chuyến tàu cuối cùng tản cư về quê nội ở Hà Nam.
Sau này, theo lời kể của anh Vũ, anh ruột tôi, ở lại chiến đấu cho tới ngày 15-1-1947 mới rút ra ngoài, thì các anh tự vệ đã phải đào thêm một giao thông hào thứ hai nữa ở ngay giữa phố, nối liền nhà An Lợi ở bên này phố với nhà Nguyên Cát ở bên kia phố, để chặn xe tăng và đi lại dễ dàng hơn giữa hai bên phố. Trên bức tường đá xây cuốn, gọi là " cầu Cửa Đông ", khi tác chiến, bọn lính Pháp sẽ đặt ở đó một khẩu đại liên chĩa xuống phố tôi, và sau này cả súng cối nữa để dội xuống cả khu phố. Nhưng giai đoạn tác chiến, tôi sẽ kể lại sau.

Phố tôi, như đã nói, bên số chẵn, thông ra phố Hàng Bát Sứ, chủ yếu là bán bát - ngày xưa có thể là bán bát đàn, một loại bát men thô so với bát sứ - bên số lẻ bán đồ da: va-li, hòm da. Nhưng thực ra phố tôi còn nhiều cửa hàng linh tinh khác nữa: hàng thừng, hàng giấy, hàng đàn, hiệu tạp hoá, hiệu dầu Nhị Thiên Đường, nhà ông lang Vạn Thắng, nhà Đức Bảo cho thuê xe đòn đám ma, v.v. Sau này lại có thêm mấy nhà giàu mới đến nhập cư, như nhà Nguyên Cát buôn sợi, vừa mới đến đã xây ngay một cái nhà tây cao đến ba bốn tầng, có ban-công và gác sân thượng nhìn xuống phố, một điều khá hiếm hoi ở các phố cổ thời ấy; nhà Văn Du sản xuất các mặt hàng làm bằng pha lê, một điều cũng khá mới mẻ đối với thời ấy.
Vào những năm 42, 43, lúc tôi lên 8, lên 9, cuộc sống của bọn trẻ phố tôi bắt đầu có những chuyển biến mới, mặc dầu tối đến, dưới ánh đèn phố, những chú dơi vẫn nhào lượn bắt muỗi, những con thiêu thân vẫn bay quanh những chiếc chụp đèn của các cửa hiệu mở cửa cho đến 9, 10 giờ khuya. Ông hàng phở quen thuộc vẫn đặt gánh ở giữa phố, và các hàng quà buổi tối vẫn qua lại đông vui trên vỉa hè.
Quang cảnh chung ở phố tôi, nhìn từ bên ngoài thì vẫn như những năm trước, hồi tôi còn thật nhỏ, nhưng ở bên trong bắt đầu có những thay đổi, nhất là trong các sinh hoạt và suy nghĩ của đám thanh thiếu niên lứa tuổi các anh lớn và bọn trẻ lứa tuổi tôi.
Trước kia, cứ tối đến, trẻ con phố tôi hay thích chạy đuổi, đùa nghịch, làm loạn cả phố lên. Bây giờ tối đến, các anh lớn cũng bớt dần những cuộc chơi "nhảy xút xanh", hay chơi "cướp cờ".
Bọn nhỏ lứa tuổi tôi cũng bỏ dần những cuộc chơi "trốn tìm" kéo dài cả tối, mặc dầu những trò chơi này đôi khi vẫn còn hứng thú. Tôi còn nhớ, đã có lần chúng tôi mấy đứa giả bộ "đi trốn" mà rồi chui luôn vào rạp hát Quảng Lạc ở tít tận phố Hàng Bạc để xem hát cải lương! Ban ngày, ngoài giờ đi học, chúng tôi thấy mình như đã nhớn rồi, và có một cái gì đó ở xung quanh đang làm cho chúng tôi bắt đầu suy nghĩ và bớt mải miết vui chơi như ngày trước.

Hồi đó, ở những phố buôn bán mở cửa khuya như ở khu phố tôi, cứ chiều tối đến, vào mùa Hè nóng bức, người lớn, trẻ con hay bắc ghế ra ngồi ở ngoài đường để hóng mát, nhân thể để coi cửa hàng. PhoHangBatDan
Nhà tôi có cái đặc biệt là luôn luôn có một chiếc phản gỗ đặt ở ngay dưới hiên ngoài hè, giữa hai cửa hàng. Mấy năm về trước, lúc tôi lên 5, lên 6, chiếc phản đó được dành riêng cho một mình tôi là bé nhất trong nhà làm chỗ ngủ tạm vào những buổi tối mùa Hè, chờ đến khi nào gần đóng cửa hàng, vú em mới cõng tôi lên buồng.
Tôi còn nhớ trong những lúc ngủ mơ màng, tôi vẫn nghe thấy hết cả những tiếng động ở trong phố, từ tiếng hát của người xẩm loà, đến tiếng loa kèn hát của nhà bán đĩa hát Thiên Nhiên từ trên đầu phố Hàng Bồ vọng xuống, những bài hát của Tino Rossi, Joséphine Baker, Mistinguett, Ái Liên, Phùng Há, v.v. mà các anh chị lớn trong nhà hồi đó vẫn ưa thích.
Chính nhờ được "ru" bởi những tiếng hát ấy, mà ngay từ lúc mới lên 5 tuổi, tôi đã thuộc lòng khá nhiều bài hát của Tino Rossi và thường bị /được các anh chị lớn trong nhà " bắt " hát cho cả nhà nghe.
Bắt đầu từ những năm 42-43 trở đi, chiếc phản ở trước cửa nhà tôi trở thành nơi tụ tập của trẻ con hàng phố đến đây đàn hát mỗi tối.
Ngày đó, chúng tôi hay hát những bài hát của Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước, Thẩm Oánh, v.v., những bài hát lời nhẹ nhàng, cảm động, ca ngợi tình quê hương, nhạc điệu cũng nhịp nhàng, hấp dẫn:

"Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm chạy dài trên khóm cây đàn chim ríu rít ca.
Bao người ra ngồi hay đứng bên thềm đợi chờ con mắt trông về phía trời xa...
                      (Hoàng quý, Quê nhà tôi, 1940)
hoặc:
"Xuân về rồi muôn đoá hoa đào tươi cười trong nắng sáng trong
Buông mành tơ liễu soi hồ gương vờn ánh xuân vừa sang
Ngàn muôn tiếng vang ầm ca chim ghép đôi trên trời bay mòn mỏi
Và âu yếm bên ngàn hoa trai gái đang mơ màng trong tỉnh say..."
                           (Thẩm Oánh, Xuân về, 1937)

Trong cái kho bài hát hãy còn nghèo nàn của thanh thiếu niên ngày ấy, cũng có một vài bài hát, nhạc và lời hùng tráng, như: Bóng cờ lau, Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng (1940), Lên đàng (1943), Thăng Long hành khúc ca, (1944), v.v.
Có những bài hát buồn hơn, lãng mạn hơn, mà chúng tôi cũng rất ưa thích, như: Con thuyền không bến, Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, hay Thu trên đảo Kinh Châu của Lê Thương, song những bài hát đó, chúng tôi và nhất là các anh chị lớn, thường chỉ hay hát ở những nơi vắng vẻ, yên tĩnh, đặc biệt là ở trên các gác sân thượng, những chiều tối đẹp trời, hoặc những đêm sáng trăng, mọi người thường hẹn nhau lên đấy để ngồi quây quần kể chuyện và ca hát với nhau.

Đàn chim bay thướt tha trên núi cao miền xa
Mang theo những nỗi buồn mộng mơ ngày thảm sầu đã qua
Khi ta đi liễu đương còn xanh tốt
Trong khóm hoa tiếng hót của vàng anh dịu dàng mấy câu
Ngày nay khúc đắm sầu hoa héo khô vì đâu
Trên hoa dưới lá cành đào non giọt sương sầumuôn rơi
Sông Kinh châu có con buồm trắng
Gió thu mang người biệt ly vào cảnh sầu đó chăng"

        (Lê Thương, Thu trên đảo Kinh Châu , 1940)

Nhiều bài hát của Văn Cao, như: Buồn tàn thu, Thiên Thai, Trương Chi, v.v., mãi sau này, đến những năm 44-45 mới được giới trẻ biết đến.
Dạo ấy còn có phong trào thổi kèn Harmonica. Các anh lớn ở trong phố người nào cũng biết thổi kèn. Chúng tôi cũng a dua học theo. Tối đến, phố tôi vang lên tiếng kèn và tiếng hát. Sau này, đến gần Cách mạng tháng Tám chúng tôi có thêm cả đàn banjo và mandoline nữa.
Mặc dầu chưa thấy hết được ý nghĩa và mục đích của việc tập hát này, nhưng mỗi đứa chúng tôi đều thích hát một cách say sưa, tự nhiên, không cần phải ai thúc giục. Hình như có một bản năng nào đó đã cho phép chúng tôi cảm thấy có cái nhu cầu phải cất cao tiếng hát, cho căng buồng phổi, cho thấy mình được tự do hơn, cho thấy mình cũng có khả năng làm nên được một cái gì đẹp đẽ, mới mẻ.
Lúc bấy giờ chúng tôi chỉ biết nghĩ có thế, và cũng không ngờ rằng những buổi tụ họp nhau hát hỏng vô tư này lại là những buổi chuẩn bị đầu tiên, mà rồi sẽ có ích cho những ngày cách mạng sắp tới.

Trong phố tôi không phải gia đình nhà nào cũng giống nhà nào, và không phải ai cũng thân với ai. Trước hết, vì khung cảnh xã hội nước ta lúc đó là một nước còn đương bị đô hộ, ảnh hưởng của phong kiến còn nặng, sau là vì hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình cũng không đồng đều, các ngành nghề buôn bán ở trong phố cũng khá linh tinh và không dựa vào nhau được. Người cùng phố nhìn nhau với tất cả sự dè dặt và lòng tự ái của những con người cũ, với những nếp sống và suy nghĩ cũ. Tâm hồn họ còn còn bị ràng buộc, gò bó bởi nhiều thứ xiềng xích vô hình.
Cũng may mà bọn trẻ chúng tôi đã vượt khỏi được tất cả những khuôn phép và thành kiến để ít nhất cũng cùng chơi đùa, ca hát, và thân với nhau, không kể giàu nghèo và màu da. Chúng tôi sang nhà nhau chơi là sự thường, mặc dầu các bậc cha mẹ không bao giờ nghĩ đến chuyện làm thân với nhau.
Ngày ấy, mỗi phố ở Hà Nội như thể một cái ốc đảo nhỏ, chứ không phải như một cái làng, cái xóm: người ở đầu phố đôi khi không biết đến người ở cuối phố. Thậm chí, hai nhà ở đối mặt nhau có khi cũng không quen biết nhau. Người lớn không bao giờ bước từ hè phố bên này sang hè phố bên kia để làm gì. Hai nhà xưa nhất ở phố tôi là nhà cụ Tường Long (thầy tôi), bán đồ da, và nhà cụ trưởng Đào bán đồ sứ, ở ngay trước mặt nhau, mà mỗi năm hai cụ chỉ bước sang chào nhau có một lần vào dịp Tết, và mỗi cụ chỉ bước có đến giữa đường để vái nhau từ xa mà thôi, xong lại lùi lại, vừa lùi vừa vái ! Có lẽ các cụ cho thế đã là "đủ lễ" và "quý hoá" lắm rồi.
Hình như những khuôn sáo của xã hội cũ đã không cho phép con người ta bộc lộ một cách giản dị những tình cảm của mình, dù cho đó là những tình cảm chân thành nhất. Người ta âm thầm giữ kín ở trong mỗi gia đình những nỗi khó khăn, lo lắng, và cả những sự bất hạnh của mình. Nhìn vào từng gia đình ở phố tôi ngày ấy, tôi thấy mỗi nhà tuy có một hoàn cảnh khác nhau, nhưng dường như đều có cùng một số phận giống nhau: không có nhà nào là không có những chuyện lục đục, xích mích, những chuyện ngang trái, bất công, hoặc những chuyện quái gở như con cái dở điên, dở khùng. Tất cả vì đâu ?
Ngày ấy, với đôi con mắt còn thơ dại, chúng tôi chỉ biết ghi nhận một số sự kiện cụ thể đã xảy ra gần mình nhất, nghĩa là những chuyện xảy ra trong gia đình, mà ở một mức độ nào đó chính mình cũng là những nạn nhân: những chuyện vợ cả, vợ lẽ, anh chị em cùng máu mủ ghen ghét lẫn nhau, chỉ vì tranh giành quyền lợi; con cái không biết thương yêu bố mẹ chỉ vì bố mẹ quá nghiêm khắc, hoặc quá chú tâm lo lắng về chuyện làm ăn, đến mức không bao giờ có thì giờ để gần với con cái, để truyền cho chúng cái tình thương cất giấu quá kín đáo của mình.

CacOngDoĐi ngược trở lên, tôi cho rằng chính cái cơ cấu "đại gia đình" và lễ giáo phong kiến đã là một trong những nguyên nhân của những hiện tượng tiêu cực này. Lẽ dĩ nhiên, còn có những nguyên nhân khác nằm ở ngay trong chính sách đô hộ của thực dân thời bấy giờ: chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục, đối với dân bản xứ.
Ngoài ra, giữa phố này với phố khác cùng khu với nhau cũng không có được một sợi dây liên lạc mật thiết nào cả. Không có một cơ cấu nào tạo điều kiện cho người ta làm quen với nhau, chỉ trừ khi bọn trẻ chúng tôi có bạn học ở phố nào thì thỉnh thoảng đến phố ấy chơi, thế thôi. Không những thế, ở khu phố tôi, còn có một tệ nạn nữa là trẻ con phố này hay đi đánh nhau với trẻ con phố khác, nhiều khi tự nhiên đi khiêu khích nhau, rồi dàn trận ra đánh nhau bằng gậy gộc, có khi đến đổ máu mới thôi.
Chính trong cái bối cảnh chung đó, mà chúng tôi đã có được những nhận thức đầu tiên về những sự bất công, ngang trái, xảy ra hàng ngày trong gia đình và ngoài xã hội. Những tình cảm bất bình, phẫn nộ, cũng dần dần nảy nở trong đầu óc trẻ thơ của chúng tôi.
Ý thức về công bằng xã hội, về lòng bác ái, đi đôi với ý thức chống áp bức, thương nước, thương dân, được nhen nhóm từ những ngày ấy, như những đốm lửa cháy âm ỉ trong lòng mỗi đứa trẻ chúng tôi và chỉ chờ dịp để bùng lên.
Nhiều sự kiện dồn dập xảy ra hàng ngày trong những năm tháng ấy, đã góp phần biến những tình cảm của chúng tôi thành hành động cụ thể ngay từ trước ngày Tổng khởi nghĩa.

Tôi còn nhớ một buổi sáng, chúng tôi đang ngồi học trong lớp ở trường Cửa Đông (tức trường tiểu học Bùi Xuân Phái), bỗng nghe thấy tiếng người chạy rầm rập ở ngoài đường và tiếng hô hoán "Cộng sản, cộng sản !..”. Một lát sau, các thầy giáo xì xào với nhau, rồi bảo học trò ngồi yên, không được ra ngoài sân chơi như mọi khi. Về nhà, tôi hỏi chị tôi : "Cộng sản là gì, hả chị ?". Chị tôi trả lời gọn một câu : "Sao mà mày ngốc thế, Cộng sản là đánh Tây, đuổi Nhật, chứ còn gì ! ".
Một hôm khác, chúng tôi cũng đang ở trong lớp, thì nghe thấy nhiều tiếng ồn ào từ phía trường Thăng Long vọng lại (trường Thăng Long cũng nằm trên phố Đường thành). Sau đó tôi được biết đấy là đám tang của ông Phan Thanh, một nhà trí thức cách mạng được mọi người quý mến và cũng là giáo sư trường Thăng Long. Các anh chị và các cháu tôi ở trong nhà đều đi dự đám tang, về kể lại cho biết là ông Võ Nguyên Giáp, lúc bấy giờ là giáo sư ở trường Thăng Long, đã đọc một bài điếu văn rất hùng hồn và cảm động.
Trường Thăng Long lúc bấy giờ có nhiều thày giáo và học trò đi theo cách mạng. Một cháu lớn con anh cả tôi, cháu Liên (sau đổi tên là Thể), học ở đó, cũng "thoát ly" gia đình ngay từ những năm 42-43. Thể lẳng lặng đi lính cho tây, không để cho một ai ở trong nhà biết hết. Vốn người lực lưỡng, lại gan dạ và thông minh, nên vào lính, Thể được "lên lon" rất nhanh. Sau này, khi Cách mạng lên, chúng tôi không lấy làm ngạc nhiên khi được biết Thể đã trở thành một trong những người huấn luyện viên đầu tiên của trường võ bị Trần Quốc Tuấn ở trên Sơn Tây.
Phong trào Việt Minh hoạt động công khai ngày càng mạnh, người ta nói đến ngày càng nhiều. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại trông thấy truyền đơn của Việt Minh dán ở các góc phố trên đường đi học, hoặc đi chơi. Ở phố tôi, một vài anh cũng bỗng nhiên đi biệt tích, mãi sau Cách mạng ít lâu mới quay trở về với gia đình, với phố, người thì trở thành du kích quân, người thì trở thành bộ đội. Các anh về phố với những bộ quân phục màu nâu, màu chàm, gợi lên trong trí tưởng tượng của chúng tôi những cảnh "rừng xanh nước độc", làm chúng tôi vừa khâm phục, vừa ái ngại. Có anh mặt bủng ra, hoặc hốc hác đi, vì sốt rét ngã nước, có anh bị lao phổi, mỗi ngày phải ngồi phơi nắng một lúc để tĩnh dưỡng. Mặc dầu vậy, các anh vẫn gần gũi với chúng tôi, "cố vấn" chúng tôi trong những công việc hàng ngày ở phố. Trong đáy lòng, tôi biết rằng các anh đã nếm trải một cuộc sống khác, một thực tế khác rồi: cái thực tế của chiến tranh mà chúng tôi chưa hề biết.

Dần dần, những tư tưởng "đánh Pháp, đuổi Nhật" cũng thâm nhập vào đầu óc các thanh thiếu niên phố tôi. Các anh lớn bắt đầu tập thể dục thể thao ráo riết. Mấy anh thường rủ nhau đi tập ở bãi "Xếp tô (Septo), phố Hàng Bột, vào lúc sáng sớm. Sau này, chúng tôi cũng được đi theo. Riêng anh tôi, cùng với một anh nữa, còn học cả Võ Việt Nam, lúc đó vừa mới mở khoá đầu tiên, với ông thầy võ tên là Lộc.
Tôi không còn nhớ rõ phong trào "Khoẻ Vì Nước" đã được phát động từ năm nào, có lẽ cũng khoảng năm 1943, chỉ nhớ một tối, trên tấm phản đầu hè, anh Nhượng, một anh lớn ở phố mà chúng tôi vẫn quý mến, nhìn thẳng vào mắt chúng tôi, rồi nghiêm nghị hỏi :

- "Thế các em có muốn đánh Pháp, đuổi Nhật không ?".
Chúng tôi đồng thanh trả lời : "".
- "Thế thì các em phải khoẻ, mà muốn khoẻ thì phải làm gì ? Phải tập thể dục, thể thao".
Một số các anh lớn ở trong phố và mấy phố bên đã tập luyện từ nhiều năm trước, nên trông người đã có gân cốt lắm rồi. Các anh thường hay rủ nhau lên trên các gác sân thượng, giữa trưa nắng, để đọ bắp thịt lưng, đếm lằn bụng, đo chiều cao, vật tay, v.v. Sau này một vài anh sẽ được nhận vào học ở trường võ bị Trần Quốc Tuấn khoá đầu tiên. Chúng tôi coi đó như một vinh dự cho cả phố, và rất mừng cho các anh.

Hồi đó, các anh lớn trong phố tôi hình như cũng biết rằng trong một tương lai gần, thế nào rồi cũng "đánh nhau", và thế nào rồi cũng phải đi bộ đội, cho nên phần đông các anh cũng không tha thiết lắm với việc học, trừ một vài trường hợp đặc biệt, như anh Huân, tức anh Nguyễn Trần Huân, lúc đó học thuốc, sau này đi kháng chiến và cuối cùng, không biết trong điều kiện nào, đã sang định cư ở Pháp, và trở thành một học giả nổi tiến; anh Đức con ông giáo Phúc, sau này dạy ở Chu Văn An; anh Hợi nhà Đồng Đức, cũng học thuốc, sau này vào bộ đội; anh Phong nhà Hưng thịnh, cũng là một nhân vật đã từng hoạt động bí mật, sau này đứng trong hàng ngũ lãnh đạo của phong trào hướng đạo toàn quốc.
Chuyện trốn học để đi bơi, hay đi "bát phố" của các anh lớn ở phố tôi là chuyện cơm bữa. Có lẽ các anh cũng không thấy con đường học vấn của mình dẫn tới đâu trong cái hệ thống giáo dục không có "đầu ra" ấy. Gần như không có một thanh niên nào trong phố tôi có được một nghề nghiệp cụ thể, ngoài việc đứng bán hàng và đi đưa hàng giúp cha mẹ. Cho nên, không lấy gì làm lạ là đến khi Cách mạng lên, trong cái không khí căng thẳng vì mối đe doạ của chiến tranh và những khó khăn về kinh tế, phần lớn các anh ở phố tôi đều chọn con đường đi bộ đội. Mà tôi nghĩ như vậy cũng phải thôi: nếu không có Cách mạng, chắc các anh ấy cũng sẽ chỉ sống "phất phơ" như ngày trước, và chắc sẽ chẳng bao giờ được thoát ly để sống thực sự cái tuối thanh niên của mình. Anh Vũ, anh ruột tôi, có cái may là được nhận vào học ở trường Mỹ thuật, đúng ngành mà anh thích, ngay từ năm anh mới 16 tuổi, cho nên anh đã say sưa học với các thầy Cẩn, thầy Nhị, thầy Vân, chẳng bù với những ngày còn học ở trường Pasteur, anh chỉ hay đi bơi và đi bát phố !

V ào giữa năm 1945 (Ất Dậu) , một sự kiện ghê gớm đã diễn ra dưới mắt chúng tôi mỗi ngày: nạn đói.
Hàng ngày đi học ở dưới làng Tương Mai (trường chúng tôi lúc đó còn ở dưới này để tránh bom Mỹ -Nhật), chúng tôi chứng kiến những cảnh chết chóc trông thật sót xa. Những chiếc xe bò chở xác từ trên các phố đưa xuống tận gần chỗ chúng tôi học, xác được đổ xuống những cái hố lớn, và được rắc vôi bột lên trên.
Người ta bảo đói là vì mất mùa, vì Nhật đốt thóc và Pháp tích trữ gạo, cấm không cho chở gạo từ trong Nam ra.
Chúng tôi ở trong phố hăng hái tham gia công việc của Đoàn Khất Thực, mỗi ngày đi xin cơm thừa ở từng nhà, gom lại để đem ra chợ Hàng Da phát cho những người bị đói. Nhưng rõ ràng là phong trào khất thực đã bất lực trước một vấn đề quá lớn đối với sức mình, và những người được phát chẩn cũng chỉ sống được qua vài bữa, rồi cũng không sao tránh khỏi bệnh tật và cái chết chờ đợi họ ở những ngã ba đường.
Nạn đói khủng khiếp đã làm cho hơn 2 triệu dân chết đói. Những cảnh thương tâm không thể nào quên được, đã làm cho chúng tôi thức tỉnh hẳn.
Chính trên tấm màn phông đen tối đó, và nhân lúc tình hình thuận lợi, Nhật vừa hàng Đồng Minh, mà cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 đã bùng nổ, trong niềm khát khao mong đợi của hầu hết các tầng lớp xã hội.
Riêng ở phố tôi ngày ấy, Cách mạng tháng Tám đã đến với chúng tôi như một sự giải thoát, phá bỏ mọi xiềng xích bấy lâu nay vẫn đè nặng lên nếp sống và tâm hồn chúng tôi, đồng thời đã mở rộng cửa tương lai cho chúng tôi nhìn thấy một chân trời sáng lạn hơn để đi tới.


Quay về:

Lời giới thiệu: Văn Ngọc - Một người Hà Nội rất Hà Nội
Chương 01: Tuổi vỡ lòng
Chương 02: Khu phố thời thơ ấu

Các thao tác trên Tài liệu

được sắp xếp dưới:
Các số đặc biệt
Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss