Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Hồi Ký T. V. Giàu / HỒI KÝ TRẦN VĂN GIÀU (XVII)

HỒI KÝ TRẦN VĂN GIÀU (XVII)

Hoàng Quốc Việt lên án tôi là vô kỷ luật, vô chính phủ. Tôi không phải là người thiếu mồm, thiếu chữ để đáp lại Việt. Về tranh cãi, về lý luận, về đấu khẩu thì Hoàng Quốc Việt còn xa mới là đối thủ của Trần Văn Giàu. Nhưng đấu khẩu làm gì ? Hãy lo chiến đấu với địch. Khi quyết định kháng chiến ngay, đánh trả ngay, tôi đã thấy trước rằng “ số phận ” của tôi đã được quyết định, quyết định đó ở trong tay Việt. (Về sau, có người nói rằng tôi đã rút súng, dằn súng trên bàn họp. Đâu có ! Tôi đâu có võ phu đến thế, nhưng tách dĩa trên bàn có lúc cũng động địa một chút).


HỒI KÝ
TRẦN VĂN GIÀU

(XVII)


Phần thứ năm


TỔNG KHỞI NGHĨA THÀNH CÔNG :

KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP BẮT ĐẦU



15. Pháp chiếm trung tâm Sài Gòn bằng vũ lực


(1) Được sự ủng hộ của thực dân Anh, thực dân Pháp
ráo riết chuẩn bị dùng vũ lực đánh chiếm Sài Gòn


dewey
Thiếu tá A. Peter Dewey

Vì Anh và Pháp là hai đế quốc có nhiều thuộc địa nhất thế giới nên cả hai sát cánh nhau, chống phong trào giải phóng dân tộc là lẽ dĩ nhiên. Dầu Anh là trong phe “Đồng minh”, không một ai có thể mơ hồ về điều đó. Pháp sở dĩ ngồi thương lượng với ta ở Sài Gòn chẳng qua vì chúng nó muốn chờ hoàn thành nốt công việc chuẩn bị xâm lược của nó ở Sài Gòn, và chờ đại binh của chúng nó từ Pháp sang Sài Gòn mà thôi ; cũng không một ai có thể mơ hồ về điều này. Và trong mọi cuộc nói chuyện ở Sài Gòn giữa chúng tôi và đại biểu Pháp, thực dân Pháp luôn luôn bảo : Pháp trở lại Đông Dương đã, rồi sau sẽ nói chuyện về việc cho Đông Dương tự trị như De Gaulle đã hứa hẹn. Còn ta thì, trái lại, khẳng định rằng chỉ có thể thương lượng trên cơ sở nước Pháp công nhận quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hai bên có lập trường trái ngược nhau như vậy ; thương lượng không thể đi đến đâu ; không đi đến đâu mà cứ phải thương lượng ; Pháp và ta đều hiểu nhau. Mỗi bên đều “tranh thủ thời gian” để làm việc chuẩn bị đánh. Anh Thạch muốn lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh, Pháp và Mỹ về vấn đề thuộc địa. Ở Sài Gòn khi ấy, có một đại diện có uy thế của Mỹ là thiếu tá Dewey – em ruột của quan thống đốc bang New York của nước Mỹ – mà Dewey thì, một hôm tiếp chuyện với Thạch ở tại dinh Hành chánh Nam Bộ, nói Mỹ không tán thành để Pháp trở lại Đông Dương như trước, ông ta đề nghị với Thạch là nên đi Mỹ ít hôm, để nói chuyện thẳng với chính phủ Mỹ. Thạch cũng ừ à, chờ bàn lại. Thạch hỏi ý tôi ; tôi cho rằng thật có mâu thuẫn giữa Anh, Pháp một bên và Mỹ một bên về vấn đề Đông Dương, nhưng mâu thuẫn đó không cơ bản, không sâu sắc đâu, cho dù Tổng thống Roosevelt còn sống đi nữa ; dù sao thì ta vẫn có thể tìm cách lợi dụng mâu thuẫn ấy xem ra sao, nhưng việc đó là thuộc thẩm quyền của Hà Nội, ở Nam Bộ ta chỉ có thể góp phần mà thôi. Dewey có hôm bảo là nếu Thạch muốn đi Mỹ thì y có cách bí mật, ví dụ như để Thạch trong cái valy ngoại giao lớn, đưa lên máy bay, ít hôm lại trở về bằng cách ấy. Xem chừng cuộc “ đi sứ ” ly kỳ lắm ! Tôi bàn với Thạch rằng, nói chuyện với Mỹ là chuyện của chính phủ Trung ương. Thạch đi Mỹ chẳng giải quyết được gì đâu, ở lại Sài Gòn cần thiết hơn. Thạch và tôi chưa kịp ừ hử gì thì Dewey 1 bị mất tích, nghe đâu bị trúng đạn khi ông ta mạo hiểm lái xe đến ngã ba Chú Ía (đường Phú Nhuận đi Gò Vấp).

nancy

Bà Nancy Dewey, con gái thiếu tá P. Dewey, gặp ông Trần Văn Giàu năm 2005 tại Việt Nam.

Cuộc thương lượng với Pháp kéo dài nhì nhằng. Có lần, trưởng phòng thông tin của đại tá Cédile đến gặp Phạm Ngọc Thạch (có mặt tôi) y nói thẳng : “ Có lẽ các ông quan niệm rằng độc lập phải giành bằng vũ lực, bằng máu để chứng tỏ là xứng đáng với độc lập, và để chứng tỏ rằng dân nước các ông biết giành quyền độc lập ấy ; bởi vậy, có lẽ các ông quan niệm rằng dù chưa biết được thành bại ra sao cũng cứ phải chiến đấu đã ; và có lẽ các ông quan niệm rằng những hành động anh hùng sẽ bảo đảm cho tương lai, sẽ làm cho dân chúng có ý thức về sức mạnh của mình, tự biết rằng mình đã trưởng thành ; nếu quả như vậy thì không còn cần phải thương lượng giữa các ông và chúng tôi nữa ”. Chừng như hắn doạ cắt đứt thương lượng, Pháp muốn thử tinh thần chúng tôi. Thạch trả lời ngắn gọn : “ Chính là như vậy ! Ông nói đúng, chỉ sai có một điều là không phải chúng tôi không biết trước thành bại, chúng tôi biết trước rằng chúng tôi sẽ thắng, nước chúng tôi sẽ giữ được độc lập.”

Quân Pháp tại Sài Gòn mỗi ngày thêm đông. Sẵn có mười mấy ngàn lính Pháp bị Nhật bắt làm tù binh, nay được thả ra, được trang bị, tập luyện lại và rất hiếu chiến. Quân Anh, Ấn cũng càng ngày càng đông thêm.

Một tuần sau vụ xung đột đổ máu ngày 2 tháng 9, thì trưởng phái đoàn kiểm soát quân sự “Đồng minh” Anh là Gracey đến Sài Gòn xuống Tân Sơn Nhất, với một lực lượng quân sự. Tiếp theo đó, Gracey ra “bố cáo”:

- Cấm người Việt Nam mang vũ khí ; Việt Nam phải nộp vũ khí.
- Quân đội Đồng minh đã lãnh trách nhiệm gìn giữ trật tự.
- Từ nay lực lượng cảnh sát người Việt Nam là một lực lượng phụ thuộc của quân Anh.
- Cấm tất cả các báo Việt Nam.

Người 19 tháng 9, họp báo, Cédile lên chân tuyên bố : “ Việt Minh không đại diện cho nhân dân. Việt Minh bất lực trong việc giữ trật tự, ngăn cướp. Người Pháp thấy cần phải lập lại trật tự. Và chúng tôi sẽ lập một chính phủ theo tuyên bố 24 tháng 3 ”.

Thế là rõ. Người Pháp, người Anh đã ném lá bài xuống chiếu. Nói một cách trắng ra, họ sẽ dùng vũ lực lập lại chế độ thực dân. Nhà báo P. Devillers về sau có viết về tình hình lúc này như sau :

“ Dưới ảnh hưởng của những người yêu cầu ông ta phải cương quyết, Cédile dễ dàng nghĩ đến dùng bạo lực. Cédile sợ điều xấu nhất có thể xảy ra, người Việt thì lúc này sôi nổi lắm, còn quân Pháp thì chưa lấy gì làm đông, thái độ của Nhật lại mơ hồ. Tình hình vật chất và tinh thần của phái đoán Pháp rất tồi : không có văn phòng, không có dây nói, không kéo cờ Pháp lên được. Cédille có mặc cảm là đang theo đuôi người Anh. Hơn nữa người Việt bắt đầu phá hoại ở bến tàu biển, ở sân bay Tân Sơn Nhứt, giao thông với bên ngoài có thể bị nghẽn. Ngày 17 Việt Minh rải truyền đơn kêu gọi chuẩn bị bãi thị, bãi công. Nổ ra nhiều cuộc xung đột giữa người Việt với người Pháp trên đường phố. Nhiều người Việt theo Pháp bị bắt. Tất cả các cuộc thương thuyết với nhà cầm quyền Việt Nam đều không đem lại kết quả gì, Ủy ban Nam Bộ mỗi lần đều trả lời bằng cách đề nghị lại là Pháp phải đưa trở về trại những quân lính Pháp trước khi trả họ về Pháp ”.

Mấy lâu nay, có người đề nghị với tôi là trước sau gì cũng sẽ đánh nhau giữa ta và Pháp, vậy thì ta nên hạ thủ trước có lợi hơn. Tôi không đồng ý. Hạ thủ trước chỉ có lợi tạm thời, thắng không quyết định mà có hại về chính trị. Giữa Pháp và Anh, ta làm sao phân biệt ? Vả lại, ngay hồi này lực lượng của ta đối với Pháp (và Anh) không phải là có ưu thế tuyệt đối. Còn Anh sử dụng quân Nhật tới mức nào, ai lường trước được hết ? Không nên tính tới chuyện hạ thủ trước mà phải tính đến việc Pháp sẽ thình lình đánh ta, nhờ sự đồng loã của Anh, thì ta phản ứng tích cực và kịp thời như thế nào, ngăn chặn và đánh dẹp như thế nào ?

Như vậy cả Anh lẫn Pháp vừa bụm miệng ta, vừa trói tay ta và sắp tiến công đánh ta.

Sau ngày 2 tháng 9, mỗi lúc Anh, Pháp càng tăng cường gấp rút sự chuẩn bị quân sự để đánh chiếm lại Sài Gòn. Nếu kể chỉ trên địa bàn “Sài Gòn” thôi thì số quân Pháp bị Nhật cầm tù từ 9 tháng 3, cũng đã nhiều lắm rồi, chỉ cần tổ chức lại, vũ trang lại, trong lúc quân Pháp tập trung ở Ấn Độ, Madagascar lục tục sang. Đến ngày 22 tháng 9, quân số của Pháp ở Sài Gòn gồm có trung đoàn thuộc địa số 11 và trung đoàn thuộc địa số 5, cộng với từ 500 đến 1.000 Pháp kiều mới được động viên nhập ngũ. Riêng lính Gourka (người Ấn) của Anh non già 3.000 ; và Anh sử dụng 7 tiểu đoàn Nhật đông 5 nghìn quân.

Ngày 21 tháng 9, Gracey tuyên bố thiết quân luật ; ai có “hành động phá hoại” thì bị tử hình.

Và hôm 22, chúng nó chiếm Khám Lớn. Trong lúc đó thì Pháp thả tung tất cả mười mấy ngàn lính Pháp, tụi này ra tay cướp bóc : cướp tiệm vàng Kim Thịnh, cướp tiệm sơn Nguyễn Sơn Hà, cướp tiệm giày Phú Ký, phá trụ sở Tổng Công đoàn ở số 245 đường La Grandière 2


(2) Ta gấp rút hơn nữa chuẩn bị đối phó với tình thế găng sắp nổ


Hồi chưa làm khởi nghĩa thì ở hội nghị Chợ Đệm tất cả chúng tôi đã tính trước rằng quân đồng minh sẽ sớm vào Sài Gòn và miền Nam, chính thức là để giải giáp quân Nhật, thực tế là để chống phá cách mạng Việt Nam, lập lại chế độ thuộc địa của Pháp. Quân Anh vào thì trong đó có quân Pháp. Chúng vào mà khởi nghĩa chưa thành công thì chúng sẽ ngăn khởi nghĩa ; chúng vào mà cách mạng đã thành công rồi thì chúng quyết phá chính quyền cách mạng cho kỳ được. Đúng như vậy. Không thể khác. Sài Gòn, Nam Bộ đã khởi nghĩa thành công rồi thì quân Anh, Pháp mới vào tới. Vào tới thì chúng phá ngay. Chúng bắt đầu phá ngay từ buổi lễ 2 tháng 9. Ngay từ ngày 2 tháng 9, máu đã đổ trên đường phố Sài Gòn.

Sau ngày 2 tháng 9, nhất là sau khi Gracey đến Sài Gòn, thì chúng tôi càng tìm hết các cách để theo dõi hoạt động của Anh, Pháp, Nhật. Theo dõi kỹ thì hết sức khó, song những hành động của Anh, Pháp từ đó không thể nào không cho chúng tôi tin chắc rằng địch có kế hoạch sẽ “hạ thủ” sớm để chiếm lại Sài Gòn. Rất sớm thôi. Cho nên chúng tôi ở Xứ ủy và Ủy ban phải kịp thời có một loạt hành động đối phó. Nói “đối phó” là nói bị động rồi. Mà chủ động đánh trước thì, dù là đánh ngay sau 2 tháng 9, lúc địch chưa chuẩn bị tới đâu, chúng tôi cũng nghĩ rằng không nên ; không nên và không được.

Chuẩn bị đối phó với tình thế găng, sắp nổ, chúng tôi đã làm gì ?

  1. Đã “không kèn không trống” đưa các đơn vị quân đội và một số đơn vị dân quân ra ngoại thành trước khi và nhất là từ khi Gracey tuyên bố thiết quân luật.

  2. Ta đã ra sức tăng cường các đội xung phong công đoàn thanh niên và “Quốc gia tự vệ cuộc”. Riêng Công đoàn ta lập được hơn 360 tổ, đội ; lớn thì gọi là đội, nhỏ thì gọi là tổ. Việc làm này có phần công khai, có phần bí mật ; công khai thì một số đội xung phong công đoàn đến tuyên thệ tập thể trước bàn thờ Tổ quốc lập tại trụ sở Tổng Công đoàn đường La Grandière ; còn các đội xung phong thanh niên thì tuyên thệ ở trụ sở Charner và nhiều nơi khác ; thề hy sinh bảo vệ độc lập của nước nhà ; bí mật là tổ chức thành lập Mặt trận nội thành gồm 16 tiểu khu, mỗi tiểu khu gồm một số gần mấy chục đội xung phong, cũng gọi là “ổ đề kháng”, con số này cứ tăng lên mãi.

  3. Ta tăng cường chuẩn bị : cứu thương, thuốc men và dầu xăng, dầu lửa để đốt những nơi cần đốt, ta tập trung ở nhiều nơi những cưa, búa, xà beng để làm công tác phá hoại những chỗ đã tính trước.

  4. Một Ủy ban kháng chiến được thành lập. Tôi chỉ định Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Lưu phụ trách riêng nội thành Sài Gòn.

  5. Mặt trận nội thành trước hết làm nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức bảo vệ cơ quan đoàn thể, chính quyền của ta ; nó chỉ huy các tổ chức chiến đấu và các đội xung phong công đoàn và thanh niên. Mặt trận nội thành, có nhiệm vụ hoạt động ở trong thành phố. Còn ngay lúc đó, chúng tôi tổ chức ra 4 mặt trận bao quanh thành phố, cố không cho địch ra khỏi Sài Gòn. Các cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Chữ Y, cầu Tân Thuận, đường bộ vào Chợ Lớn, ra Bà Quẹo, mỗi đoạn vòng cung đều có bố trí lực lượng của ta.

Hơn 10 ngày nay, Tiểng và tôi đêm thì vào Chợ Lớn, cũng có nhiều ngày làm việc trong đó, để đề phòng địch ám sát, bắt cóc hay tập kích, nhưng cũng sắp xếp thế nào để không vắng mặt ở trụ sở.


(3) Một cái bẫy của thực dân


Xế ngày 22 tháng 9, độ chừng 14 giờ, Thạch qua phòng làm việc của tôi tại trụ sở ủy ban, tự kéo ghề ngồi (ông này ít khi ngồi nói chuyện lắm), Thạch bảo : “Nè, anh Giàu à, phái đoàn Pháp cho hai người (có một đảng viên xã hội, đều là quen biết với Thạch và tôi) tới mời tụi mình ăn cơm tối với họ và cùng họ tiếp tục thương thuyết ; họ nói tướng De Gaulle vừa gửi người đến Sài Gòn, có chỉ thị mới. “ Diner de travail ” – Thạch nói bằng tiếng Pháp – anh Giàu nghĩ thế nào ?

– Tụi nó mời ai ?

– Mời anh (Giàu) với tôi (Thạch).

– Sao không mời Bạch (chủ tịch mới của ủy ban) ?

– Ai biết đâu ?

– Ăn ở đâu ?

– Ở trụ sở phái đoàn Pháp.

– Theo Thạch thì chúng ta nên đi hay không nên đi ?

– Nên đi, đi xem tụi nó có đề nghị gì mới, chớ không còn nói gì được thêm nữa với Cédile, vả lại Cédile cũng không có đủ tư cách thương lượng ngoại giao. Theo anh thì nên đi không ?

– Tôi suy nghĩ đã.

Thạch bảo : hai thằng đem thư mời còn ở phòng bên chờ trả lời.

Tôi liền nói :

– Đi ! Mình sẽ đi với Thạch. Giữa 4 và 5 giờ (16 và 17 giờ), anh trở qua đây để chúng ta cùng bàn kế hoạch đi thế nào, nói những gì. Bây giờ tôi lo tổ chức sự “bảo vệ” đã.

Anh Thạch ra thì tôi gọi Hiền vào ; Hiền là đội trưởng đội bảo vệ, đội này gọi là “thân binh” hay là “cận vệ”, do Tiểng tổ chức. Tôi dặn Hiền : chiều nay Thạch và tôi đi ăn cơm tối với tụi Pháp tại trụ sở phái đoàn Pháp ; anh thu xếp việc bảo vệ ; qua báo cho anh Thạch biết là tôi nhờ Hiền làm việc ấy. Việc thu xếp không cần bí mật. Chừng một tiểu đội bảo vệ là vừa. Rồi tôi tiếp tục làm việc như không có việc gì xảy ra.

Quá 16 giờ một chút, Thạch lại sang phòng tôi nói :

– Làm gì mà phải lo việc bảo vệ cho mất công vậy ? Thôi, anh bảo tụi Hiền đừng đi bảo vệ nữa. Tụi mình cứ đến như tôi đến mọi lần, làm rình rang, tụi nó sẽ cho mình nhát gan. Nào, ta bàn kế hoạch.

– Thạch ơi ! Tôi cho rằng tụi mình không nên đi.

– Ủa sao vậy ? Mình hẹn rồi kia mà ! Bộ con nít sao mà lát nói có, lát nói không ? Vậy anh bảo Hiền nó chuẩn bị bảo vệ làm gì ?

– Tôi không đi ; mà anh cũng không nên đi. Không đi mà cũng không báo trước là chúng ta sẽ không đến được. Tôi bảo Hiền chuẩn bị công khai để cho tụi Tây nếu có gián điệp điều tra động tịnh của ta (mà chắc hẳn là có) thì tụi nó tin chắc rằng tụi mình sẽ tới “phó hội”. Thạch ơi ! Với những tin tức được biết về sự chuẩn bị tác chiến của Pháp, tôi đoán chắc rằng hôm nay tụi Tây bày tiệc cơm để gài bẫy bắt sống anh và tôi. Có khi chẳng có cơm nước gì cả, chúng ta vừa đến cửa salon thì tụi nó sẽ tuyên bố anh và tôi là tù binh của chúng. Anh thấy đó. Tình hình hai, ba ngày nay găng lắm, găng muốn nổ. Trong một vài hôm nữa thôi, chắc tụi Tây sẽ dùng võ lực đánh úp chúng ta, chiếm Sài Gòn. Nếu tụi nó bắt được anh và tôi thì sẽ hết sức trở ngại cho cuộc kháng chiến của nhân dân ít ra là trong lúc đầu. Không nên để mắc bẫy địch. Để cho địch bắt sống, xấu hổ lắm. Mấy đêm nay tôi ngủ trong Chợ Lớn, anh biết chỗ nào rồi. Còn anh, Thạch, tối nay, và từ nay cũng không nên về Léon Combes nữa. Bây giờ tôi đi nói chuyện với Xứ ủy, Thành ủy về tình hình có thể xảy ra. Còn Hiền thì kệ nó, nó cứ làm như tụi mình 19 giờ lên xe, nó chờ mãi đến 20 giờ tối, sẽ có người báo lại quyết định không đi ăn cơm tối với phái đoàn Pháp, nghĩa là không đi nộp mạng cho bọn Tây. Nếu đêm nay không xảy ra biến động gì, thì anh cứ đổ tại tôi gấp rút đi lục tỉnh mà anh sai hẹn, vả lại chúng mình có viết thư trả lời cho bọn Tây rằng chúng mình đồng ý với cái “diner de travail” của tụi nó đâu ? Tôi thì có 100 lý do khác nhau để giải thích tại sao không về kịp để “hội yến hồng môn”.

Tôi thấy Thạch không bằng lòng mà cũng không cản tôi được. Nhưng tình hình thế, ứng xử phải thế, chớ làm sao được ? Giữ chữ tín với bạn là đúng, giữ lời hứa với bọn gài bẫy mình là dại. Tôi về Chợ Lớn theo đường vòng vèo và bố trí canh gác từ xa và gần.


(4) Pháp dùng vũ lực chiếm trung tâm Sài Gòn đêm 22 tháng 9


Đúng là tối hôm đó, Pháp xua quân đánh chiếm :

– Trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ.
– Trụ sở Quốc gia tự vệ cuộc
– Nhà đèn.
– Trụ sở Bưu Điện.
– Đài phát thanh.
– Mấy bót chính.

Và lính Pháp đi ba-trui 3 suốt đêm ở phần chính trung tâm Sài Gòn. Tiếng súng nổ, nổ càng lúc càng nhiều. Các tiểu đội bảo vệ cơ quan đều chống cự mãnh liệt với địch tới viên đạn cuối cùng, tự vệ khu phố cũng nổ súng bắn trả bọn ba-trui Pháp hung hăng. Cả Sài Gòn không ngủ.

Tôi được Tiểng báo tin chiến sự bắt đầu vào lúc 11 giờ hơn.

Và từ giờ đó, tôi viết lời kêu gọi kháng chiến và triệu tập gấp cuộc hội nghị liên tịch sáng sớm mai giữa Tổng bộ Việt Minh, Xứ ủy, Ủy ban nhân dân và Ủy ban kháng chiến.


(5) Hội nghị đường Cây Mai


Từ Sài Gòn vào Chợ Lớn, đi hết đường Frère Louis (nay là Nguyễn Trãi) thì tới đường Cây Mai (nay cũng là Nguyễn Trãi). Hai đường gối đầu nhau ở biên giới hai thành phố của địa phương Sài Gòn. Đường Frère Louis – Cây Mai là một con đường đã có từ hồi thời phong kiến, từ thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, đường này xuất từ cửa Tây thành Gia Định đi xuống Định Tường, Vĩnh Long: một đoạn của đường thiên lý, đoạn dọc theo một số chùa nổi tiếng, mà ngôi chùa cuối cùng và nổi tiếng nhất là chùa Cây Mai, nơi gặp gỡ của thi nhân Gia Định. Cái tên đường Cây Mai có lẽ bắt nguồn ở đó. Từ ngày Tây chiếm Sài Gòn, phá đại đồn Chí Hoà, thì “chùa Cây Mai” xây dựng trên một quả đồi cao ; chùa bị Pháp phá đi và xây dựng lên một cái đồn lớn, kiên cố ; chùa lần lần bị quên lửng, mà đồn “Cây Mai” lại nổi danh lần. Tiếng ngâm vịnh của nhà văn im bặt trước tiếng “tò te” của kèn lính khố đỏ, khố xanh. Hội nghị liên tịch của chúng tôi mở tại một địa điểm nằm giữa đồn Cây Mai và biên giới Sài Gòn - Chợ Lớn ; cách nhà ở của tôi chừng 50 thước. Nhà tôi lúc đó ở số 107 (đường Ngô Quyền hiện nay). Nơi họp hội nghị là số 629 đường Cây Mai (nay là Nguyễn Trãi). Tôi với Tiểng đi bộ từ nhà sang nơi họp, vừa đi vừa bàn cách in ấn, phát hành lời kêu gọi kháng chiến. Cuộc họp bắt đầu trước hửng sáng ngày 23 tháng 9. Mục đích cuộc họp là quyết định kháng chiến, kêu gọi nhân dân Sài Gòn và nhân dân Nam Bộ đứng lên cầm vũ khí kháng chiến bảo vệ độc lập tự do. Tôi tính rằng hội nghị sẽ ngắn, gọn, toàn thể sẽ nhất trí dễ dàng. Dự hội nghị có : Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh (của Tổng bộ), Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Nguyễn (của Xứ ủy) ; Phạm Ngọc Thạch, Ngô Tấn Nhơn (của Ủy ban nhân dân) ; Huỳnh Văn Tiểng, Trần Văn Giàu (của ủy ban kháng chiến).

Tôi báo cáo tình hình : Quân Pháp với sự đồng ý và hỗ trợ của quân Anh đã chiếm trung tâm Sài Gòn (trụ sở Uỷ ban, trụ sở Quốc gia tự vệ cuộc, các bót lớn, nhà dây thép…). Các đội bảo vệ cơ quan và tự vệ khu phố đã chống cự mãnh liệt, lực lượng vũ trang và nhân dân đang chờ lệnh và trong lúc chờ lệnh, vẫn nổ súng chặn địch. Như vậy là Pháp đã bắt đầu xâm lược nước ta một lần nữa. Tôi xin hội nghị quyết định bắt đầu kháng chiến. Tôi yêu cầu hội nghị thông qua lời kêu gọi kháng chiến đã được viết rồi và cần được anh em chỉnh lý, bổ sung. Tôi cũng đề nghị Xứ ủy và Ủy ban dời về một nơi an toàn, tôi đề nghị là ở Cần Đốt, gần thị xã Tân An, trên đường đi vào Đồng Tháp Mười, Mộc Hoá. Có thể bây giờ tạm dọn về thị xã Mỹ Tho, nhưng nếu đóng ở đó thì ta dễ bị địch đánh úp bằng đường sông, bằng tàu chiến như hồi gần 100 năm về trước. Còn về phần cơ quan chỉ đạo tác chiến thì tôi nói với Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến là dời ngay xuống Chợ Đệm, bên kia cầu Bình Điền.

Tôi rất chủ quan, chủ quan y như hồi bắt đầu hội nghị Chợ Đệm giữa tháng 8 để quyết định khởi nghĩa. Tôi những tưởng đâu ý kiến đề nghị của tôi là chí lý, nên sẽ được toàn thể anh em chấp nhận ngay, chỉ sửa chữa chút đỉnh bản kêu gọi kháng chiến mà thôi. Chớ làm sao tôi đoán trước được rằng có người, trong tình hình này, không chịu kêu gọi nhân dân và binh sĩ đứng lên kháng chiến chống Pháp xâm lược, mà người ấy lại là Hoàng Quốc Việt ? Trước đây, tôi nghe đồn Hà Bá Cang (Hoàng Quốc Việt) sáng suốt. Nhưng từ ngày 2 tháng 9 đến nay, chỉ trong vòng 20 ngày anh ấy đã làm tôi thất vọng về tính sáng suốt hư truyền đó ; tôi ngạc nhiên, chưng hửng về một số quyết định kỳ cục của anh. Tôi vừa sôi nổi nhưng vừa bình tĩnh trình bày xong tình hình và dự án nghị quyết, thì anh Hoàng Quốc Việt – như cũng đã suy nghĩ từ đêm khi nghe súng nổ dòn ở trung tâm Sài Gòn – Hoàng Quốc Việt chậm rãi và lạnh lùng nói :

– Không được tự tiện ra lệnh kêu gọi kháng chiến, hãy chờ chỉ thị của Hồ Chủ tịch. Không được nóng vội, hãy chờ chỉ thị của Trung ương Đảng.

Tôi nghe câu ấy như bị không chỉ một gáo mà một thùng nước lạnh xối trên lưng. Nhưng tôi cố dằn lòng ngồi im nghe Hoàng Quốc Việt giải thích ý kiến của anh. Ý kiến của anh Việt thực ra cũng rất đơn giản :

Kêu gọi kháng chiến, dù chỉ kêu gọi đồng bào Sài Gòn và Nam Bộ thôi, là một điều hệ trọng lắm. Vấn đề được đặt ra là bắt đầu kháng chiến hay tiếp tục hoà hoãn ; là nói chuyện bằng súng đạn hay tiếp tục thương lượng ở hội nghị ? Bây giờ, trong lúc chúng ta mới nắm chính quyền, tổ chức còn bề bộn, lực lượng còn ít ỏi, thế bị cô lập, thì ta nên hoà hoãn thương lượng, không nên đối đầu bằng súng đạn, bằng vũ khí. Nếu nay ta kêu gọi kháng chiến, máu sẽ đổ thêm nhiều, thì sẽ càng khó thương thượng, thương lượng không được nữa. Cũng có thể là chúng ta bị bắt buộc, phải hô hào kháng chiến lấy súng đạn chọi với súng đạn, nhưng phải chờ lệnh của Hồ Chủ tịch, của Trung ương Đảng mới được ; ta không được tự mình kêu gọi kháng chiến. Nếu gặp trường hợp ở đây ta kêu gọi kháng chiến mà Hà Nội không đồng ý, không tán thành, thì ta sẽ tính sao đây ? Cho nên phải chờ. Bây giờ chỉ nên kêu gọi tổng bãi công phản đối xâm lược mà thôi, phải để cửa mở cho sự thương lượng. Chúng ta hôm nay sẽ đánh điện báo cáo và thỉnh thị với Hồ Chủ tịch, với Trung ương Đảng. Chúng ta hôm nay cũng sẽ phát lời kêu gọi đồng bào sẵn sàng đợi lệnh của Chính phủ Trung ương và sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ độc lập tự do. Hoàng Quốc Việt nói như vậy, nói như chỉ thị của người lãnh đạo có toàn quyền.

Có người, tôi không nhớ là ai, hình như là Ngô Tấn Nhơn trả lời ngay cho Việt rằng : “ Tổng bãi công bây giờ không hại gì cho Pháp cả ; vì Pháp chỉ có vài cơ quan và vài người Việt Nam làm mướn cho nó ; tổng bãi công không ngăn chặn được sự xâm chiếm bằng võ lực. Nó đánh tới mà ta ngồi chờ lệnh Trung ương chưa biết hôm nào tới, thì nay ta mất Sài Gòn, mai ta mất Gia Định, mốt ta mất Chợ Lớn, địch nó có chờ đâu, nó thấy ta chờ nó càng tiến đánh mau hơn, mạnh hơn ; đến khi ta bắt đầu đánh thì địch đã chiếm được lợi thế, ta càng khó khăn hơn biết mấy !

giautieng

Trần Văn Giàu và Huỳnh Văn Tiểng, nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám (2007, ảnh Việt Dũng)

Phạm Ngọc Thạch nói : “ Đánh thì cứ đánh, thương thuyết thì tiếp tục thương thuyết, cái này có “exclure” (Thạch nói nửa ta nửa Tây) - “bài trừ” cái kia đâu. Tôi nghe anh Giàu nói ngày xưa Nguyễn Trãi vừa đánh vừa nói, đánh càng thắng thì nói càng có kết quả. Tụi nó đánh, mình không đánh lại, mà biểu tụi nó ngồi nói chuyện thì sao được ?

Huỳnh Văn Tiểng cho rằng : “ Ta chưa ra lời chính thức kêu gọi kháng chiến mà tự vệ, dân quân, thanh niên, công đoàn đã bắt đầu đánh trả quân địch rồi, theo chỉ thị đã truyền sẵn, khi tình thế quá căng. Cuộc kháng chiến tự động đó chắc chắn sẽ mở rộng thêm, kịch liệt thêm, cho dầu ta không ra lệnh kháng chiến ; đến một lúc, không xa lắm đâu, nếu ta không kêu gọi kháng chiến thì ta sẽ không lãnh đạo được phong trào kháng chiến của quần chúng nữa, ta sẽ mất hết uy tín, quần chúng sẽ chán chê sự do dự của ta, ta còn lãnh đạo được ai nữa? Địch đánh ta thì ta đánh lại, tất nhiên phải như thế, chờ sao được ? Sao lại chờ ? Bảo chờ đợi khác nào là bảo bó tay để cho địch tha hồ bắt giết, xâm chiếm ?

Nguyễn Văn Nguyễn nói : “ Lấy gì mà đánh ? kháng chiến bằng cái gì ? ” (Câu hỏi giống y như trong hội nghị Chợ Đệm).

Tôi đáp ngay : “ Lấy các lực lượng đã làm khởi nghĩa tháng 8 thắng lợi để làm kháng chiến đến thành công. Lực lượng này, bây giờ đã to lớn hơn, có tổ chức hơn, có tinh thần hơn, có vũ trang hơn, được huy động lên thành phong trào yêu nước cao nhất, đều nhất trước nay và sẽ càng cao hơn, đều hơn nữa. Vả lại sức kháng Pháp của chúng ta không phải chỉ có Nam Bộ mà sẽ có cả nước Việt Nam – bọn Pháp đánh chiếm Sài Gòn là để chiếm lại Nam Bộ, mà đánh chiếm Nam Bộ là chiếm lại cả Việt Nam, như cách đây gần một thế kỷ, chắc không khác mấy, cho nên kháng chiến của ta sẽ được cả dân tộc hưởng ứng. Sức mạnh chiến thắng của ta là ở chỗ đó. Hơn nữa cuộc kháng chiến của chúng ta tất nhiên sẽ được các dân tộc thuộc địa của Pháp, Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha v.v… hưởng ứng bằng cách này hay bằng cách khác, kể cả bằng cách khởi nghĩa. Như vậy, chúng ta sẽ không bị cô lập đâu. Còn nước Pháp mới bị thua trận, mới khôi phục, làm sao có đủ hơi sức đánh bại cuộc kháng chiến chắc chắn là lâu dài và quyết liệt của dân tộc ta bắt đầu ở Sài Gòn, ở Nam Bộ. Còn nhân dân Pháp, nhân dân các nước tư bản, nhất là còn Liên Xô và các nước cách mạng thành công sẽ ủng hộ ta về ngoại giao quốc tế. Đó là trả lời cho anh Việt về cái gọi là “tình thế bị cô lập”. Con mắt biện chứng không những thấy cái hiện tại mà còn phải thấy sự chuyển biến tương lai của thời cuộc.

Tôi liền trở lại cái ý kiến ban đầu của Phạm Ngọc Thạch về việc vừa đánh vừa nói chuyện, (sau này gọi là đánh và đàm) ; tôi là thầy giáo, nên tôi đưa ra tỷ dụ lịch sử dài dòng hơn, chí lý hơn, rành mạch hơn Thạch. Và tôi nói thêm rằng, nếu Chính phủ và Trung ương không tán thành kháng chiến (mà tôi chắc chắn rằng Chính phủ và Trung ương nhất định sẽ tán thành) thì, trong trường hợp đó, Chính phủ và Trung ương có đủ quyền, đủ lý để ra lệnh đình chỉ kháng chiến, bãi chức những người chủ trương đánh, rồi tiếp tục thương lượng hoà bình, có sao đâu ? Còn như ta mà “chờ”, mà “đợi” thì sẽ bị kẻ địch tiến công, đánh chiếm càng nhanh, càng nhiều, tinh thần nhân dân sẽ suy yếu, rời rã, khi ấy ta sẽ lâm vào chỗ thương lượng trên thế yếu ai chịu trách nhiệm ? Nếu không phải là chính chúng ta đây ?

Anh Việt trở lại vấn đề báo cáo thỉnh thị, về quyền quyết định của Trung ương, của Hồ Chủ tịch trong việc lớn, rất lớn như kêu gọi kháng chiến. Phải chờ đợi. Không thể khác được. Thấy rõ là đại đa số anh em dự hội nghị tán thành ý kiến của tôi, nhưng Việt chính thức là đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, của Đảng bộ và Trung ương Đảng. Làm sao cãi ý kiến, trái ý kiến anh ấy được.

Cho nên Phạm Ngọc Thạch đề ra một ý kiến “ nửa chừng ” : tổ chức biểu tình lớn chống xâm lược, ngay ở trung tâm Sài Gòn (Phạm Ngọc Thạch nói rằng anh sẽ tình nguyện dẫn đầu). Biểu tình tay không. Biểu tình đông như 28 tháng 8, như 2 tháng 9, Pháp sẽ bắn vào đoàn biểu tình. Phóng viên cả nước sẽ đưa tin lên báo chí, đài phát thanh khắp thế giới sẽ làm ầm lên, gây dư luận quốc tế rộng lớn bắt buộc Pháp phải ngừng tiến công và phải ngồi đàm phán.

Có người, tôi quên là ai, in hình của Ung Văn Khiêm, nói chơi, rằng đề nghị của Thạch “ có mùi vị bất bạo động ” của Mahatma Gandhi. Anh em bỏ qua ý kiến của Thạch, một ảo tưởng. Thật ra trong tình hình lúc bấy giờ, dân Sài Gòn đang tản cư, ai ở đó mà biểu tình, đồng bào yêu nước đang chờ lệnh đánh giặc, giết giặc xâm lăng mà ta kêu gọi biểu tình tay không (như thời trước Godart Brévié 4) thì ai nghe mình ? Mình huy động như hồi 25 tháng 8 và 2 tháng 9 sao nổi ? Ảo tưởng đó chính Thạch cũng thấy ngay.

Cuộc thảo luận tới lúc lình bình như ở “giáp nước”. Tôi thuyết phục anh Việt không nổi, anh Việt thuyết phục tôi không nổi. Anh em vài người chẳng nói gì, có lẽ ngại khác ý với đại biểu của Tổng bộ. Tôi bèn đưa ra cái lập luận cuối cùng của tôi để phá bế tắc. Hội nghị đã kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ rồi, mà bấy giờ một tiếng là lâu quá ! Tôi chậm dãi, nhấn từng câu một, từng tiếng một :

– Các anh ! Địch đánh ta thì ta phải đánh lại, tất nhiên phải như vậy ; ta không đánh lại thì địch càng đánh tới, ta càng mất đất, mất dân, nhứt là mất uy tín trong dân.

– Ta không ra lệnh đánh thì dân cũng đánh, đánh thiếu tổ chức, thiếu chỉ huy ; dân đánh mà ta không chịu đánh thì ta làm sao lãnh đạo được dân nữa ?

– Ta đánh, diệt nhiều địch, gây nhiều tổn thất về người, về của cho địch thì địch mới chịu thương lượng đàng hoàng ; ta quyết không để nó thương lượng trong thế thắng. Kháng chiến không loại trừ thương lượng, không rấp ngõ thương lượng, kháng chiến càng có hiệu quả thì ta mới có thế mạnh để thương lượng. Cổ kim đông tây, ở lịch sử ta cũng vậy, vừa đánh vừa nói chuyện là thường, muốn bao nhiêu tỷ dụ cũng có.

– Tất nhiên là ta phải báo cáo thỉnh thị. Đừng tưởng rằng, đừng cho rằng ý kiến của tôi là không cần báo cáo thỉnh thị. Không phải như vậy. Nhưng, ta không chờ có chỉ thị kháng chiến mới bắt đầu kháng chiến. Trong tình hình hiện giờ chắc chắn trăm phần trăm là Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tán thành kháng chiến. Không thể khác. Nếu ta chờ lệnh đánh mới đánh thì địch sẽ có lợi thế nhiều quá, ta sẽ mất thế nhiều quá. Không nên chờ. Phải đánh trả ngay.

Rồi tôi đưa ra cái ý kiến cuối cùng mà tôi đã nghiền ngẫm nãy giờ, sau khi tôi nghe Việt bảo phải đợi chỉ thị. Tôi nói, tay nắm chặt dằn xuống bàn như sắp làm một việc gì có tính chất quyết định số phận của chính mình : “ Tướng ở biên cương, cũng như tướng ở nội địa và ở kinh thành đều phải theo lệnh vua, nguyên tắc là như vậy. Song, tướng ở biên cương có khi không chờ lệnh vua, trong trường hợp nếu chờ lệnh vua thì địch lấy mất biên ải, tràn vào nội địa, cướp của, bắt người, chiếm đất. Tướng biên cương phải biết tự quyết định theo đường lối bảo vệ đất nước mình. Tướng biên cương cũng có thể làm khác, thậm chí làm khác lệnh vua trong trường hợp lệnh vua tới nơi thì tình hình đã khác hẳn, nếu theo lệnh cũ thì hại cho dân, cho nước, cho vua. Tướng biên cương phải biết quyền biến, hoặc tử thủ để làm chậm bước tiến của địch, hoặc rút lui để bảo toàn chủ lực, hoặc phản công để tiêu diệt địch, làm những việc mà trong lệnh vua không có. Vua sẽ xem xét sau, đúng thì khen, sai thì trị tôi, thì chém đầu. Tôi bây giờ là tướng biên cương. Tôi thấy có trách nhiệm phải quyết định, phải quyền biến. Tôi không chấp nhận ý kiến “đợi lệnh” của đồng chí Hoàng Quốc Việt – một ý kiến tiêu cực. Tôi quyết định đánh ! Đánh lại ngay. Tôi xin trình với hội nghị lời kêu gọi kháng chiến sau đây của Ủy ban kháng chiến để các đồng chí chỉnh lý, chuẩn y.

Tôi liền đọc lời kêu gọi kháng chiến, bất chấp sự phản đối của Việt (tựa như Phạm Ngọc Thạch đã bất chấp chỉ thị của Hoàng Quốc Việt giải tán Thanh niên Tiền phong 2 tuần trước đây). Đa số hội nghị tán thành bản kêu gọi.

Tôi đưa bản “ kêu gọi ” cho Tiểng đem đi in ngay ở Chợ Lớn với số lượng lớn để kịp phát hành và dán ngay buổi sáng. In như thế nào, cái đế dán trên tường, cái để truyền tay, gửi các ô tô đi lục tỉnh. Tiểng đi ngay.

Việt lên án tôi là vô kỷ luật, vô chính phủ. Tôi không phải là người thiếu mồm, thiếu chữ để đáp lại Việt. Về tranh cãi, về lý luận, về đấu khẩu thì Hoàng Quốc Việt còn xa mới là đối thủ của Trần Văn Giàu. Nhưng đấu khẩu làm gì ? Hãy lo chiến đấu với địch. Khi quyết định kháng chiến ngay, đánh trả ngay, tôi đã thấy trước rằng “ số phận ” của tôi đã được quyết định, quyết định đó ở trong tay Việt.

(Về sau, có người nói rằng tôi đã rút súng, dằng súng trên bàn họp. Đâu có ! Tôi đâu có võ phu đến thế, nhưng tách dĩa trên bàn có lúc cũng động địa một chút).

Cuối cùng, khi Tiểng đi rồi, tôi nói : “ Tôi làm sai thì cụ Hồ Chí Minh và chánh phủ sẽ trị tôi, trị tới mức nghiêm khắc nào cũng được, tôi vui lòng chịu. Tôi làm đúng thì cụ Hồ Chí Minh, chính phủ và lịch sử sẽ biết cho tôi. Tôi nhận lãnh trách nhiệm ”.

Trước cửa nhà họp, hàng chục cán bộ, nhân dân chí cốt tụ họp sớm giờ mỗi lúc thêm đông, chờ lệnh kháng chiến.

Hội nghị chấm dứt. Đi ra tôi còn ngoái lại nói một lần nữa : “ Xứ ủy và ủy ban hãy về Cần Đốt (Tân An) ; đừng đi Mỹ Tho nghen ; hãy nhớ rằng Pháp có chiến thuyền xuất kỳ bất ý vào Mỹ Tho bằng ngõ cửa Tiểu như hồi thế kỷ trước ; mình sẽ chạy không kịp.” (Các anh không nghe lời tôi, không nghe lời thằng thuộc lịch sử).

Chưa đầy 10 giờ sáng ngày 23 thì hàng chục xe hơi, hàng trăm xe đạp, hàng ngàn đồng bào đua nhau phát lời kêu gọi kháng chiến khổ nhỏ, chữ nhỏ, dán lời kêu gọi kháng chiến chữ đậm, khổ lớn, kêu gọi của Ủy ban kháng chiến.

Anh Hoàng Quốc Việt một vài ngày sau đó, cũng có một bài tuyên cáo lấy danh nghĩa Ủy ban nhân dân. Ai nấy đều có thể so sánh hai bài. Nói thật, nhân dân không mấy ai để ý tới bài của Việt dù là phát hành dưới danh nghĩa Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Ít ai để ý đến lời kêu gọi của Việt, mọi người đều hăm hở làm theo lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ.

Trong cuộc hội nghị đường Cây Mai, anh Nguyễn Văn Nguyễn rất ít phát biểu ý kiến ; ý của anh lơ lửng. Về sau, năm 1947 hay 1948, khi Nguyễn chết vì bệnh thương hàn ở Liên khu 5, trên con đường ra Trung ương, người ta thấy trong cái sổ tay của Nguyễn cái ý kiến trễ tràng mà cần thiết, hữu ích rằng ở hội nghị đường Cây Mai trong vấn đề đánh hay không đánh, “ ý kiến của thằng Giàu là đúng, ý kiến của anh Việt là sai ” (Tôi không được đọc, mà có nhiều người đã đọc, trong số đó có Thạch, Tiểng, họ kể lại cho tôi).

Nhưng, than ôi ! Đã đương đầu với Việt trong một vấn đề lớn như thế (sau khi đã chống lại Việt ở nhiều vấn đề quan trọng khác như Thanh niên Tiền phong, Hoà Hảo, đưa trốtkít vào Ủy ban Nam Bộ, v.v…) thì Việt và tôi làm sao còn có thể cộng tác được ? Một người phải đi. Người phải đi khi ấy chỉ có thể là tôi (và Phạm Ngọc Thạch), vì Thạch cũng đã đương đầu với Việt trong vấn đề giải tán Thanh niên Tiền phong và cả vấn đề kêu gọi kháng chiến). Buồn đời là, khi tôi bị Việt “đưa” ra Bắc thì đã tới Bắc trước tôi, cái tin sai lầm, nguy hiểm, cái vu cáo trắng trợn là “ Giàu bị đưa ra Bắc vì không chịu kháng chiến 5. Hay không ! Người chủ trương kháng chiến bị tố cáo (ngầm) là không chịu kháng chiến. Còn người không chịu kháng chiến thì được tiếng thơm là chủ trương và lãnh đạo kháng chiến ! Trời hỡi trời !

Bằng cớ đây, chối cãi sao được ? Về sau người ta viết “sử” nói rằng trong hội nghị Cây Mai, anh Việt ban đầu không chịu đánh sau rồi thuận theo đa số cũng tán thành đánh. Đâu có ! Đâu có !


16. Hai bản kêu gọi


nop
Mùa thu rồi, ngày hăm ba...
Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước.
Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng.
(Tạ Thanh Sơn, Nam Bộ kháng chiến)



(1) Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ


Đồng bào Nam Bộ !

Nhân dân thành phố Sài Gòn !

Anh em công nhân, nông dân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sĩ !

Đêm qua, thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung tâm Sài Gòn.

Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa.

Ngày 2 tháng 9, đồng bào đã thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập của Tổ quốc:

“Độc lập hay là chết!”

Hôm nay, Ủy ban kháng chiến kêu gọi :

Tất cả đồng bào, già, trẻ, trai, gái hãy cầm võ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược.

Ai không có phận sự do Ủy ban kháng chiến giao phó thì hãy lập tức rời khỏi thành phố. Những người còn ở lại thì:

– Không làm việc, không đi lính cho Pháp.
– Không đưa đường, không báo tin cho Pháp.
– Không bán lương thực cho Pháp.
– Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt.
– Hãy đốt sạch tất cả các sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng, nhà máy của Pháp.

Sài Gòn bị Pháp chiếm, phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa hàng.

Hỡi đồng bào !

Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp và tiêu diệt tay sai của chúng.

Hỡi anh em binh sĩ, dân quân, tự vệ ! Hãy nắm chắc võ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước.

Cuộc kháng chiến bắt đầu !

Sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945

Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ

TRẦN VĂN GIÀU



Ngay sau khi Pháp dùng vũ lực đánh chiếm trung tâm Sài Gòn, Ủy ban kháng chiến đã có truyền đơn giải khắp các khu bị người Pháp chiếm đóng, nhằm làm cho mỗi người Pháp hiểu rõ lập trường của người Việt Nam yêu nước. Truyền đơn kêu gọi binh lính, viên chức nhỏ, nhân dân lao động Pháp chớ nên giúp lũ thực dân xâm lược Việt Nam. nguyên văn tờ truyền đơn kêu gọi này là :

appel

Tài liêu do bạn đọc ĐTK cung cấp


A la population française de Saigon

Vous avez avoué : 80 ans de domination ont abouti à la faillite.

La guerre que nous menons est une guerre de libération semblable à celle menée par la Résistance Française contre l’ Hitlerisme.

Comme vous, nous éliminons tous ceux qui essayent par la force de nous subjuguer.

Nous ne sommes point des sicaires professionnels. Vos chefs facistes nous obligent à nous défendre par tous les moyens.

“Tuer tous les Francais” n'est point notre but.

“Exproprier tous les étrangers” n'est point notre programme.

Nous l’avons dit, et nous le répétons : que la France reconnaisse officiellement l’indépendance du Vietnam et le gouvernement de Hồ- Chí-Minh, d'un coup, la vie et les intérêts français seront sauvegardés.

Si au contraire, vos chefs persistent à vouloir dominer même une infime partie de notre Vietnam, nous riposterons jusqu’à l’anéantissement du dernier ennemi.

Français ! Réfléchissez !

Vous avez appris aux événements de Syrie-Lyban. Ne tentez pas une nouvelle expérience qui ne vous profiterait point.

Un tract anonyme lancé des avions nous menace de représailles par les tanks et les bombes.

Nous nous en moquons !

Le bombardement de Cổ Am n' a pas empêché l’insurrection de Nghệ An.

Et les massacres de 1940 conduisent tout droit au 25 Août 1945.

Soldats, petits fonctionaires et travailleurs français !

Ne luttez pas pour les planteurs et les actionnaires de la Banque de l’Indochine ! Petits fils de la Grande Révolution, n'arrachez pas la liberté à un peuple qui l’a conquise aux prix d'immenses sacrifices.

Pour le Comité de Résistance

Trần Văn Giàu


Dịch ra tiếng Việt :

Người Pháp ở Sài Gòn hãy nghe đây !

Các người đã thú nhận : 80 năm thống trị dẫn tới phá sản hoàn toàn.

Cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập của chúng tôi là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc giống như cuộc kháng chiến của người Pháp chống quân xâm lược Hitler.

Giống như các người, chúng tôi có quyền và có nhiệm vụ bảo vệ, giải phóng Tổ quốc chúng tôi.

Giống như các người, chúng tôi tiêu diệt tất cả những ai dùng bạo lực tròng ách lên cổ chúng tôi.

Chúng tôi không phải là kẻ chuyên nghề giết người. Chính bọn lãnh tụ phát xít của các người bắt buộc chúng tôi phải tự vệ bằng mọi cách.

“Giết tất cả người Pháp” đâu phải là mục đích của chúng tôi!

“Giành lấy tài sản của tất cả người ngoại quốc”, đâu có trong chương trình của chúng tôi? Chúng tôi đã nói rồi, chúng tôi nói lại rằng: nước Pháp hãy chính thức công nhận độc lập của Việt Nam và chính phủ Hồ Chí Minh, thì, tức khắc, sinh mạng và lợi quyền của người Pháp sẽ được bảo đảm.

Ngược lại, nếu những người cầm đầu của các người cứ muốn thống trị nước tôi cho dù là thống trị một phần nhỏ xíu của Việt Nam, thì chúng tôi sẽ kháng chiến cho đến khi nào kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt.

Hỡi người Pháp! Hãy suy nghĩ!

Biến cố ở Syrie-Liban là một bài học cho Pháp. Pháp chớ nên thử nghiệm một lần nữa, không đem lại lợi ích gì đâu!

Một tờ truyền đơn nặc danh được máy bay rải xuống, đe doạ sẽ đàn áp chúng tôi bằng bom và xe tăng.

Chúng tôi cóc sợ !

Pháp ném bom Cổ Am, mà có ngăn được khởi nghĩa Nghệ An nổ ra đâu ? Những vụ thảm sát năm 1940, dắt thẳng đến cuộc khởi nghĩa ngày 25.8.1945 !

Hỡi anh em binh sĩ, viên chức nhỏ và lao động Pháp ! Chớ nên chiến đấu cho lợi ích của bọn chủ đồn điền và bọn chủ nhà băng Đông Dương ! Hỡi các bạn là cháu chắt của cuộc Đại Cách mạng (Pháp) ! Các bạn chớ tước đi quyền tự do của một dân tộc đã hy sinh biết bao nhiêu là xương máu để giành lại được quyền tự do ấy !

Thay mặt cho Uỷ ban kháng chiến

Trần Văn Giàu



(2) Tuyên cáo của Hoàng Quốc Việt dưới danh nghĩa Uỷ ban nhân dân Nam Bộ


Tuyên cáo của Uỷ ban nhân dân Nam Bộ

“ Đồng bào Nam Bộ !

Vì coi quân đội Anh là đại biểu của Đồng minh tới đất nước chúng ta giải giáp quân đội Nhật để đem lại hoà bình cho dân chúng Đông Dương, nên chúng tôi, Uỷ ban nhân dân Nam Bộ luôn luôn giúp cho quân đội Anh làm nhiệm vụ được dễ dãi. Mặc dù có nhiều điều bất mãn, đã nhiều lần chúng tôi kêu gọi quốc dân nên nén lòng căm giận để chờ cuộc vận động ngoại giao với Đồng minh trên trường quốc tế. Nhưng do sự nhân nhượng và dung túng của quân đội Anh, bọn thực dân Pháp đã làm những điều quá đáng. Đêm 22 tháng 9, chúng nó cùng quân Anh đã chiếm Sở Bưu điện và Sở Cảnh sát của ta. Sáng hôm 23 tháng 9, quân Pháp công nhiên cùng quân Anh đến chiếm trụ sở của Uỷ ban nhân dân Nam Bộ và Quốc gia tự vệ Cuộc. Chúng đã gây nhiều cuộc đổ máu ở đường phố Sài Gòn. Rõ ràng là quân đội Anh đã cùng bọn Pháp công nhiên làm sai trách nhiệm của Đồng minh đã uỷ thác cho họ.

Không lẽ chịu nhục hoài, và vì danh dự của dân tộc, chúng ta phải coi trọng quyền lợi quốc gia, nên chúng tôi phải đánh điện ra cho Chính phủ Trung ương xin phép kháng chiến. Chúng tôi đã :

1) Lập Uỷ ban Kháng chiến để lo việc quân sự ;

2) Hạ lệnh tổng đình công và bất hợp tác với Pháp ;

3) Truyền đi lục tỉnh thi hành kế hoạch phá hoại đường giao thông, tiếp tế để bao vây địch ;

4) Kêu gọi đồng bào tố cáo bọn Việt gian nguy hiểm.

Hỡi đồng bào thân mến !

Mỗi lần quân Anh lạm quyền, chúng tôi đã điện ngay cho thủ tướng Anh và các nước Đồng minh. Chúng ta chịu nhịn nhục đến nay là cùng rồi. Đồng minh đã hiểu những nguyên nhân sự hành động của ta đối với quân địch. Các đoàn thanh niên ; các đoàn bảo an mau mau cương quyết phấn đấu. Các giới đồng bào hãy thi hành triệt để kế hoạch phá hoại và chống quân địch.

Toàn dân hãy đoàn kết bảo vệ quốc gia ”.

Uỷ ban Nhân dân Nam Bộ


Bản tuyên cáo này được đăng trên báo Cứu Quốc (Hà Nội) ngày 29 tháng 9 năm 1945. Tôi không bịa ra được ; Lời kêu gọi của Uỷ ban kháng chiến cũng được Thạch lược dịch đăng báo tiếng Pháp ở Hà Nội, được P.Devillers nhắc từng đoạn trong sách Lịch sử Việt Nam từ 1940-1952 6, được hàng chục vạn đồng bào đọc, nhớ thuộc lòng.

Vậy ai chủ trương đánh ngay ? Ai chủ trương chờ lệnh ?

Thì sao lại truyền rằng ông Giàu vì không chịu đánh nên “ bị triệu ra Bắc ” ?

Vu cáo này tiếp vu cáo khác, đổ vào đầu tôi. Vu cáo :

1. Rằng Giàu bán Deschamps cho Pháp ;
2. Rằng Pháp tổ chức cuộc “ vượt ngục Tà Lài ” cho Giàu và đồng bọn ;
3. Rằng Thanh niên Tiền phong do bọn Giàu chủ trương là tổ chức của Nhật Bản.
4. Rằng bọn Giàu không chịu rước chính trị phạm Côn Lôn, sợ anh em họ về thì Giàu mất quyền ;
5. Rằng Pháp đánh chiếm Sài Gòn thì Giàu không chịu phát động kháng chiến ngay.

Trong vòng mấy năm mà chịu bao nhiêu điều vu cáo tày trời như vậy, chịu đựng sao nổi ? Sống sao nổi ? Chết đi có sướng hơn không ? Nhưng, nếu chết tức là chịu thua, cái láo sẽ trở thành cái thiệt.






1 Dewey : Albert Peter Dewey (1916-1945) thiếu tá tình báo, phụ trách phân đội 404 của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ, được thành lập trong Thế chiến lần thứ nhì) được gửi tới Sài Gòn tháng 9.1945 để hồi hương quân nhân Mỹ bị Nhật Bản bắt làm tù binh, theo dõi việc giải giới quân Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16 và theo dõi tình hình Nam Bộ. Peter Dewey tỏ ra rất nhạy bén, hiểu rõ sức mạnh của phong trào dân tộc qua những tiếp xúc với các ông Phạm Ngọc Thạch, Trần Văn Giàu, Phạm Văn Bạch. Sau 20 ngày ở Sài Gòn và hai ngày trước khi chết, Peter Dewey viết trong báo cáo gửi OSS : “ Nam Bộ đang bùng cháy. Người Pháp và người Anh sẽ bị kết liễu nơi đây và chúng ta [người Mỹ] cũng sẽ phải rời khỏi Đông Nam Á” (Cochinchina is burning, the French and British are finished here, and we [the Americans] ought to clear out of Southeast Asia) (24.9.1945). Nhận định sáng suốt của viên sĩ quan 29 tuổi này đối lập với lập trường thực dân của tướng Gracey (chỉ huy phái bộ Anh) và đại tá Cédile (phái viên Pháp), và của cả chính quyền Mỹ (lúc đó, tổng thống Harry Truman đã chấp nhận để Pháp trở lại Đông Dương, tiếp tục chủ trương của Roosevelt trước khi chết). Cùng ngày 24.9.1945, Gracey quyết định Dewey là “personna non grata”, phải rời khỏi Việt Nam. Hai ngày sau, trên đường ra sân bay Tân Sơn Nhất, ông bị bắn chết. Một số người Mỹ nghi rằng đây là do Anh-Pháp mưu sát, nhưng có nhiều khả năng ông bị du kích bắn tại một nơi từng có đụng độ với quân Pháp, ông bị hiểu lầm là Pháp (Gracey cấm không cho Dewey và cộng sự treo cờ Mỹ trên xe). Dewey là quân nhân Mỹ đầu tiên bị chết và mất tích ở Việt Nam. Về hoạt động và cái chết của ông, có thể đọc tác phẩm (có trên mạng, xem đây) của Archimedes L. A. Patti : Why Viet Nam ? Prelude to American Albatros, University of California Press, Berkeley & Los Angeles & London, 1980 và bài viết khá đầy đủ của Phan Văn Hoàng : Bi kịch Albert Peter Dewey trên mạng Giao Điểm.

2 Các đường phố nói trong phần này :

  • La Grandière : sau thành Gia Long, nay là Lý Tự Trọng.

  • Charner : Nguyễn Huệ

  • Léon Combes : Sương Nguyệt Ánh

3 ba-trui : danh từ tiếng Pháp patrouille nghĩa là tuần tra.

4 Thời Godart Brévié : ám chỉ thời kỳ đấu tranh dân chủ hợp pháp 1936-1938 ở Sài Gòn. Jules Brévié (1880-1964) : thống đốc Nam Kỳ (1938-1939), đã từng làm thống đốc Tây Phi thuộc Pháp, sau đó làm bộ trưởng thuộc địa dưới thời Pétain ; sau khi nước Pháp được giải phóng, bị tước các ưu quyền và huân chương. Justin Godart (1871-1956) : chính khách xã hội cấp tiến, có tư tưởng tiến bộ, bảo vệ quyền lợi người lao động, bảo vệ nhân quyền, chống đàn áp người Do Thái. Trong thời kì Mặt trận Bình dân, việc chuẩn bị phái đoàn thanh tra của Godart (rốt cuộc không bao giờ sang) trở thành cái cớ cho một cuộc vận động quần chúng lớn ở Đông Dương, đặc biệt ở Nam Kỳ với nhóm La Lutte (cộng sản và trốt-kít). Năm 1946, J. Godart tham gia thành lập Hội “France-Vietnam” ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh.

5 Ở hai phần trước, người đọc đã thấy rõ sự thiểu năng, kém nhạy bén của nhân vật Hoàng Quốc Việt, mà sự trung kiên và cương quyết không cần bàn cãi. Việc tung lời đồn ác ý về Trần Văn Giàu như vậy, không biết do Hoàng Quốc Việt hay do “phe Giải Phóng” (hay do cả hai), nhưng rõ ràng nó biểu hiện bước đầu của một quá trình lưu manh hóa. Các nhà sử học sẽ phải nghiên cứu vai trò của ông Hoàng Quốc Việt với tư cách Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng đầu thập niên 1950, trong các cuộc “chỉnh đảng” dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao, cũng như cuộc cải cách ruộng đất (bên cạnh Lê Văn Lương, Hồ Viết Thắng…). Đây quả là điển hình của công thức nổi tiếng nhiệt tình + ngu dốt = tai họa. 

6 Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions du Seuil, Paris, 1952.

Các thao tác trên Tài liệu

Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss