Bạn đang ở: Trang chủ / Tài liệu / Tài liệu / Một Vài Kí Vãng về Hội Nghị Đà Lạt (3/5)

Một Vài Kí Vãng về Hội Nghị Đà Lạt (3/5)

Bấy giờ anh em kiểm điểm tất cả những sự kiện đã xảy ra từ lúc lên đây. Thấy rằng: Chính quyền Pháp bị phái Thực dân Pháp chi phối hoàn toàn, nhưng các Phái viên có phần thức thời hơn, về phương diện duy tâm, cũng có cảm tình với ta.


MỘT VÀI KÍ VÃNG VỀ HỘI NGHỊ ĐÀ LẠT (3/5)



Hoàng Xuân Hãn



Sáng ngày hôm sau, 19 tháng 4, toàn hai Phái đoàn họp ở nhà trường Yersin để lập các ủy ban và định các chương trình nhóm họp.

Phái đoàn Pháp cũng gồm 12 phái viên. Trưởng đoàn thực tế là Max André, một chính khách thuộc đảng MRP, là một trong ba đảng lớn chung quyền tại Pháp, đảng ấy ở về phía bảo thủ, nhất là dựa trên nền tảng đạo Cơ đốc. Chuyên môn chính trị, hoặc đúng hơn là hành chánh, có Messmer, Pignon, Torel, Bousquet. Messmer đã nhảy dù xuống vùng Thái Nguyên ngày 22 tháng 8 với chức ủy viên chính phủ Pháp (nghĩa là Thống đốc Bắc kì trong chế độ thuộc địa) và đã bị công an ta bắt giữ đến tháng 10. Torel nguyên ở trong chính quyền Decoux nhưng đã theo nhóm kháng địch. Pignon là viên cai trị lão luyện cố vấn đắc lực của Cao ủy. Chuyên môn về tài chánh, nguyên có đề tên Bloch-Lainé trong sổ, nhưng sau chỉ còn Gonon. Chuyên môn về kỹ nghệ là hai kĩ sư cầu cống vốn làm việc ở Đông Dương: BourgoinGuillanton. Đặc biệt là Bourgoin đã từng chống Decoux và đã trốn sang Trung Quốc. Chuyên môn về quân sự có tướng Salan là một võ quan đã làm việc phòng nhì lâu năm ở Đông Dương và đã cầm đầu ủy ban điều đình binh bị với Trung Quốc và Việt Nam. Gourou, cựu giáo sư ở trường Sarraut ở Hà Nội về môn sử kí và địa dư và tác giả sách LES PAYSANS TONKINOIS, là chuyên nhân về vấn đề văn hoá. Người thứ mười hai là Clarac, cố vấn về ngoại giao cho Cao ủy. Nói chung thì các phái viên Pháp không phải là những nhà chính trị. Nhưng một phần đã trải qua giai đoạn chiến tranh chống Na-zi và Fat-xit, cho nên cũng có óc chính trị mới một phần nào. Dẫu sao, họ đều là những người từng trải xã giao, cho nên những cuộc bàn cãi tuy gay go nhưng không khi nào gây ác cảm nặng.

Theo thông cáo hôm trước, Nguyễn Tường Tam chủ tọa buổi họp lần đầu, nói mấy lời mở màn, hứa nỗ lực làm việc, tranh luận thật thà. Max André đáp lời cảm ơn và cũng hứa hẹn như vậy. Nhân không khí trịnh trọng khi khai hội, Dương Bạch Mai đề nghị tuyên bố chung ý nguyện đình chiến để hội nghị tiến hành trong không khí hòa bình. Max André ngỏ lời dè dặt. Ta cũng không cố tấn công; Võ Nguyên Giáp chỉ yêu cầu Phái đoàn Pháp chuyển ý nguyện ấy lên Cao ủy. Max André nói khéo rằng mình cũng muốn có đình chiến trong toàn cõi, nhưng Phái đoàn bất lực về việc ấy; nhưng cũng hứa sẽ chuyển ý nguyện lên Đô đốc D’Argenlieu.

Rồi bàn đến sự lập các ủy ban. Có bốn ủy ban: Chính trị, Kinh tế và Tài chánh, Quân sự, Văn hóa. Trong mỗi ủy ban, mỗi bên đặt một số người, phái viên và cố vấn; một người có thể dự nhiều ủy ban. Trong mỗi một ủy ban, mỗi bên cử một chủ tịch để lần lượt chủ toạ những buổi nhóm.

Ủy ban Chính trị:

Bên Việt có Trừng, Giáp, Mai, Hiền, Huyên, Hữu Tường, Mạnh Tường và Hãn chủ tịch;

Bên Pháp có Messmer chủ tịch, Bousquet, Bourgoin, Clarac, Max André, Pignon, Torel; sau có thêm D’Arcy.

Ủy ban Kinh tế và Tài chánh:

Bên Việt có Bính chủ tịch, Luyện, Hiền, Cận, Trừng, Mạnh Tường, Giáp, Khoa và Đinh Văn Hớn.

Bên Pháp có Bourgoin chủ tịch, Bousquet, Gonon, Gourou, Guillanton, Messmer.

Ủy ban Quân sự:

Bên Việt có Giáp chủ tịch, Khanh, Hãn, Bửu, Phác, Cung.

Bên Pháp có Max André chủ tịch, tướng Salan, Messmer, Clarac.

Ủy ban Văn hoá:

Bên Việt có Mạnh Tường chủ tịch, Huyên, Hữu Tường, Cẩn, Hãn.

Bên Pháp có Gourou chủ tịch, Clarac, Guillanton, Pignon, Torel.

Ngoài những người có tên trên đây, mỗi phiên họp, có thể thêm các chuyên viên. Ủy ban chính trị ngày nào cũng họp cào buổi sáng từ 9 giờ đến 11 giờ rưỡi, trừ thứ năm và chủ nhật. Ủy ban kinh tế tài chính thì họp ban chiều. Có ngày họp cả buổi tối.

Trong các buổi họp, có người lấy tốc kí, rồi đánh máy biên bản và phát cho hai phái đoàn. Cũng vì vậy mà trong sổ tay của tôi ít ghi những lời bàn luận hàng ngày. Vả chăng, ai cũng còn nhớ rằng Hội nghị Đà Lạt đã không đem lại một điểm thoả thuận nào quan trọng. Vậy sau đây, tôi chỉ ghi chép lại một vài sự kiện mà tôi đã ghi, chắc vì bấy giờ tôi đã coi là quan trọng đối với chung hoặc chỉ đối với cá nhân tôi. Tôi tin rằng những chi tiết "vụn vặt" ấy tả đúng đức tính, tình cảm đương thời của phái viên và không khí chung của Đà Lạt và Hội nghị.

***

Chiều hôm ấy (19/4), họp ủy ban Tài chánh và Kinh tế. Tối, họp ủy ban Văn hoá. Sáng hôm sau ủy ban Chính trị họp phiên đầu. Trong những phiên đầu, nguyên tắc là mỗi bên đề nghị nhật trình nghị sự, rồi bàn cãi để cùng nhận một chương trình chung. Những vấn đề đưa ra và thứ tự đề nghị tỏ rõ thâm ý của mọi phái đoàn.

Bourgoin chủ toạ buổi họp ủy ban Tài chánh và Kinh tế, nhấn mạnh về sự cần thiết lập một khối chung về Kinh tế, bình đẳng giữa các nước Liên bang và đề nghị các vấn đề:

  1. - Ngoại thương và Quan thuế,

  2. - Tiền tệ, Ngân khố, Hối đoái,

  3. - Tham dự của Liên hiệp Pháp vào sự mở mang kinh tế Đông Dương, Quyền lợi kinh tế Pháp ở Việt Nam,

  4. - Liên quan tài chánh giữa Liên bang Đông Dương và Việt Nam, Bỏ ngân phiếu hiện hành,

 Công nghệ hiện hữu của Pháp ở Việt Nam,

Tham dự của tư bản Pháp vào sự kiến thiết kinh tế Việt Nam.

Gourou chủ tọa buổi họp tiểu ban Văn hoá, hứa hẹn nhiều về sự giáo dục và văn hoá và nêu ra những điểm:

    1. Tình hình những cơ sở khoa học lớn hiện có trên địa phận Việt Nam,

    2. Dạy bằng tiếng Pháp trong các cấp giáo dục,

    3. Tham dự của Pháp vào giáo thụ tại Việt Nam,

    4. Các trường Pháp tại Việt Nam,

    5. Liên quan về văn hóa,

Viện Viễn đông Bác cổ,

Viện Pasteur,

Viện Tàng cảo và Thư viện.

Về các vấn đề Kinh tế, Tài chánh và Văn hoá nêu lên trên đây, đại khái ta đồng ý thảo luận, nhưng giữ lập trường căn bản của một nước tự do: nhận, hoặc từ, những điều ước định sau. Nếu nước Pháp tôn trọng quan niệm ấy, thì sự điều đình sẽ dễ dàng, vì ta cũng muốn có sự liên lạc mật thiết với Pháp về kinh tế và văn hóa. Vậy sự điều đình về chính trị và quân sự là cốt yếu và sẽ chi phối những điều đình kia.

***

Ngày hôm sau, thứ bảy 20 tháng 4, ủy ban Chính trị nhóm họp. Messmer chủ tọa, ngồi cạnh Max André. Bên Việt, Nguyễn Tường Tam không dự, vì lẽ chúng tôi đã định rằng đoàn trưởng chỉ dự Toàn thể đại hội mà thôi. Phía ta Võ Nguyên Giáp ngồi cạnh tôi.

Chúng tôi đề nghị ba vấn đề lớn:

1.- Hợp nhất ba kì, kể cả vấn đề gây nên tại Nam Bộ một hoàn khí thuận lợi cho sự điều đình,

2.- Liên lạc ngoại giao giữa Việt Nam và các nước ngoài,

3.- Quan hệ giữa Việt Nam và Liên hiệp Pháp.

Chúng tôi đã cố ý gác vấn đề Liên bang ra ngoài để tỏ rõ ý Việt Nam chỉ nhận một Liên Bang kinh tế mà thôi, vậy nó không đáng đem ra bàn ở ủy ban Chính trị.

Phái đoàn Pháp không chịu và đề nghị những vấn đề sau:

1.- Sự đại biểu ngoại giao của Việt Nam tại các nước ngoài, (ý muốn nói Việt Nam có đại diện ở nước ngoài nhưng không có ngoại giao tự do),

2.- Điều lệ tương lai của Đông Dương,

3.- Tổ chức trưng cầu dân ý,

4.- Liên hiệp Pháp.

Hai bên thảo luận rất găng để giữ đề nghị của mình: vấn đề và thứ tự nêu ra. Ta tranh thủ để được bàn về việc Nam bộ đầu tiên. Pháp nhất định không nghe và không nhận đem bàn vấn đề đình chiến; lại cố nài để hai vấn đề Trưng cầu dân ý và Liên Hiệp Pháp về cuối. Lí do sự cố nài ấy là ở Pháp chưa có Hiến pháp để định đoạt thể thức Liên hiệp; vả Cao ủy và thực dân Pháp ở Nam bộ đang vận động mạnh để thành lập nước Nam Kì tự trị. Cuối cùng ta đành phải nhận nhật trình nghị sự như sau:

1.- Liên quan ngoại giao của Việt Nam với các nước ngoài,

2.- Liên hệ giữa Việt Nam với Liên hiệp Pháp,

3.- Vấn đề liên bang Đông Dương,

4.- a) Hợp nhất ba kì. Hỏi ý các nhân dân bằng cách trưng cầu.

b) Tạo một hòan khí(climat) chính trị thuận lợi cho các cuộc điều đình.

Về điểm cuối, Võ Nguyên Giáp đã đề nghị hai bên tìm lập tức những phương sách cụ thể và đạt lên chính phủ của phe mình. Messmer bằng lòng rồi hẹn vài ngày nữa sẽ trao đổi chiếu hội(memorandum) về việc ấy.

Buổi chiều hôm ấy, thảo luận sâu về những vấn đề Ngoại thương và Quan thuế. Mục đích Pháp là lập Liên bang mà Cao ủy cầm đầu nắm hết các các quyền định đoạt. Mà Phái đoàn ta thì chỉ nhận những giao kết giữa các nước Liên bang.

***

Ngày mai là chủ nhật, sẽ nghỉ ngơi. Hai hôm đi đường, hai hôm tranh đấu gay go. Về cân não nghe đã mệt. Tối nay mới để ý đến sự sống thường. Các phái viên ở từng một và từng hai tại khách sạn Langbian, phòng rộng rãi và trơ trống. Công nhân giúp việc khách sạn đều là đàn ông Huế hay Nam bộ. Tôi hỏi chơi người dọn phòng rằng: "Anh có làm mật thám cho Pháp không ?". Anh ta trả lời: "Dạ!" Đó là tiếng trả lời của người miền Trung, nó có thể có nghĩa là vâng, là có, phải. Tôi và anh ta chỉ cười. Rồi tôi không hỏi thêm gì, chỉ nhờ đi tìm cho một cái ly uống nước. Trong phòng ngủ không có đồ dùng. Muốn đánh giày, cũng không vật liệu và dụng cụ. Khi trở vào phòng anh ta ra vẻ dè dặt lúng túng, nói với tôi: "Chúng tôi nghe nói ở Hà Nội đã có giấy bạc Cụ Hồ. Ông có đem vào không?. Cho tôi xin một tờ." Tôi lục ví thấy có hai tờ giấy một đồng, giấy xấu, vẽ khá sơ sài ảnh Chủ tịch Việt Nam. Tôi lanh lẹ trao cho. Anh ta vồ lấy với nét mặt tươi cười cực điểm và cảm ơn không dứt. Tôi muốn hỏi về tình hình ở Đà Lạt nhưng coi chừng anh ta sợ ở lâu trong phòng với tôi, nên xin lỗi lui ra, sau khi giấu kĩ hai tấm gấy bạc nhỏ nhàu trong túi áo trong. Trong khi tâm thần khá hoang mang, tôi cảm nghĩ rằng ví anh ta có làm mật thám cho Pháp đi nữa, thì chỉ bất đắc dĩ, chứ tiếng gọi Tổ quốc vẫn chuyển động tấm lòng.

Các phòng của phái viên gần nhau. Tối lại, anh em họp nhau kiểm điểm công việc trong ngày và nhất là bàn công việc ngày sau. Kiểm điểm thì thấy mình đã tranh đấu cực lực, để tỏ thái độ rõ ràng là: Nếu Pháp đừng tìm cách gò buộc Việt Nam về phương diện chính trị và để Việt Nam hưởng những quyền của một nước tự do, thì các sự sáp nhập Liên bang và Liên hiệp không khó khăn gì, và Pháp sẽ chiếm phần ưu đãi về Văn hóa và Kinh tế. Nhưng cảm tưởng chung là: tuy rằng có một vài phái viên Pháp cảm thông ý ấy, nhưng chính quyền Pháp tìm hết cách để bó chặt mình, và thực dân ở đây sẽ lấn hết những điều mà họ đã phải nhận khi họ muốn đổ bộ quân một cách êm thấm lên đất Bắc.

Về chuẩn bị buổi hội họp sắp tới, thì chúng tôi đã qui định một phương pháp làm việc có qui mô và kết quả. Trước hết, mình giả đứng vào địa vị và lập trường phái viên Pháp mà đoán những điểm họ có thể nêu ra và những lí luận mà họ có thể khai triển. Rồi mình tìm chung những lẽ để đối phó từng câu, từng lẽ, để bảo vệ những đề nghị mà mình đưa ra; lại cắt sẵn người nào trả lời câu nào, người nào bảo vệ đề nghị nào. Xong rồi, nếu có thời giờ thì chia tay tập dượt, kẻ làm phái viên Pháp, kẻ làm phái viên ta. Về tranh lược, thì chia công việc, kẻ xung phong, kẻ tiếp hậu, kẻ đưa lí luận "nặng" ra chận trước, kẻ giữ lí luận "bất kì" để làm đối phương lúng túng. Chúng tôi thường dùng tiếng lóng quân sự để trỏ các tranh lược ấy, cho nên đã nghĩ đến... cách thả khói mù khi mình yếu thế để rút lui. Trong phái đoàn có bác sĩ Luyện, người rất vui tính nhưng vì có nhiều ý nghĩ, nên khi ổng giải thích, hay muốn đem hết ra dồn dập, làm cho thính giả thường không hiểu ổng muốn nói gì. Chúng tôi thường đùa nói ổng là chuyên môn bắn đạn nhả khói!

***

Sáng chủ nhật 21 tháng 4. Chúng tôi đưa nhau đi thăm thành phố. Đà Lạt vẫn đẹp, nhưng người rất thưa thớt. Khí trời khá lạnh cho nên thành phố ra vẻ ảm đạm e dè. Chưa có chợ búa. Ở khách sạn to mà ăn uống rất sơ sài. Vào làng Việt Nam thì không thấy đàn ông, một ít đàn bà trẻ con ra ý tránh gặp. Sang xóm Chợ, thấy phố đã phần nhiều mở, nhưng hàng hóa ít oi. Nhân dân thấy các phái viên đi qua, đều trương mắt nhìn theo, nhưng không dám tỏ ý gì cả.

Từ khi Phái đoàn lên đây, chính quyền Pháp phòng bị rất ngặt về sự Phái đoàn tiếp xúc với nhân dân. Nghe nói có lệnh cấm dân ở miền dưới lên đây trong hai mươi ngày. Họ cho chừng sáu chục lính kín lên canh dò. Sau khi thấy có nhân viên Phái bộ ta ra tiếp xúc với nhân dân, họ đã đặt ra hai điều lệ cản trở:

Một là phát tín bài cho nhân viên Phái bộ, ta và Pháp; họ nói cớ rằng làm vậy để ngăn những người không có chân trong Phái đoàn không tới quấy công việc Hội nghị được;

Hai là hạn chế sự dùng ô tô họ cho Phái đoàn mượn. Nguyên từ ngày lên đây, họ cho Phái đoàn ta mượn ba ô tô với tài xế để đi lại. Nay họ cho biết rằng các xe ấy chỉ đi trong vòng Đà Lạt mà thôi; nếu ta không viết thư báo trước muốn đi đâu, thì xe sẽ dừng ở ranh giới thành phố.

Nay lại nghe nói vì có Phái bộ lên đây, cho nên có mười người bị bắt thêm ở Drang.

Chiều nay được tin Phạm Ngọc Thạch đến Đà Lạt. Nguyên Thạch có chân chính thức trong Phái đoàn, nhưng không có mặt ở Hà Nội khi Phái đoàn ra đi. Từ khi chúng tôi lên đây, luôn mong đợi. Nhưng thấy thái độ chính quyền Pháp, chúng tôi không hi vọng gì nhiều về sự Thạch có thể đến đây. Khi nghe tin Thạch đã lên, tôi tưởng ảnh đã từ bưng vượt tuyến mà tới. Khi gặp mới thấy cùng đi với bác sĩ TungNguyễn Văn Sâm từ Sài Gòn lên. Thạch là một bạn học với tôi từ khi còn nhỏ. Năm 1943, tôi đã có dịp ở nhà ảnh tại Sài Gòn. Một bác sĩ trai trẻ nổi tiếng, nhà phú hữu, mặt tài hoa, giao du rất rộng trong các nhóm chính trị ái quốc đương thời và cả với một vài yếu nhân Nhật Bản ở Sài Gòn. Tính cương quyết, thích ăn chơi. Chính vì ảnh, nên tôi đã viết bài về Tài xỉu đăng trong báo Khoa học ở Hà Nội. Nay gặp lại Thạch thấy càng cương quyết nồng hậu, tôi rất đỗi vui mừng. Thạch báo cáo về việc kháng chiến hăng hái ở miền Nam và rất tin tưởng vào độc lập và thống nhất của nước. Tung, một bác sĩ, người thấp, mặt tròn, nói rất nhiều, rất hăng, giao du nhiều với chính khách Pháp thiên tả, nên đã lái xe lọt đến đây. Còn Sâm thì Trần Trọng Kim đã nói chuyện đến nhiều và thường khen với tôi là người trầm mặc. Vì vậy chính phủ Trần Trọng Kim đã giao cho Sâm chức Khâm sai Nam bộ khi Nhật chịu giao chính quyền ở đó. Tôi chưa từng biết Sâm nên mừng được gặp ở đây. Sâm người to cao, vặm vỡ, coi vẻ rất điềm tĩnh.

Sâm cho hay tình hình chính trị ở Sài Gòn: Trong đám sĩ phu có bốn hạng:

1.- Nhóm chủ trương thuộc Pháp: gồm phần lớn người gốc Pháp.

2.-Nhóm chủ trương tự trị hoàn toàn, tức là nhóm bác sĩ Thinh.

3.-Nhóm chủ trương tự trị hành chánh nhưng họp với ngoài Bắc thành nước Việt Nam, tức là nhóm Nguyễn Phan Long.

4.-Nhóm chủ trương thống nhất, trong đó có bác sĩ Tung.

Ba nhóm đầu sợ thống nhất: nhóm đầu vì là tư bản sợ chế độ cộng sản, nhóm nhì vì sợ không được tham dự chính quyền, còn nhóm thứ ba thì đã bị cách mạng ruồng rẫy nên sợ cho tính mạng.

Sâm cũng cho biết rằng ở địa phương, tuy Pháp không lập được chính quyền, nhưng ta cũng không kiểm soát được. Quân du kích đến đánh đồn rồi rút lui. Quân Pháp tới thì khủng bố dân, cho nên dân khổ. Nếu trưng ý trong trường hợp này thì có thể thua: ba nhóm đầu không chịu thống nhất, mà dân thì sợ khủng bố nên cũng theo chúng.

***

Sáng thứ hai 22 tháng 4, trước lúc họp ủy ban Chính trị, Max André trao thư cho Giáp nhờ can thiệp cho mấy người bị bắt (?), trong thư có ý dọa. Không khí có vẻ lại căng. Chín giờ, ủy ban họp. Messmer chủ tọa nhắc lại lập trường của hai bên về điểm đình chiến; và nói rằng Phái đoàn Pháp không có quyền bàn đến việc đình chiến, và đề nghị giữ mục hiệu Trao đổi chiếu hội (Echange des memoranda).

Võ Nguyên Giáp trả lời dài, tấn công hăng. Đại ý nói: "Bây giờ trong Nam bộ vẫn đánh nhau. Chính quyền Pháp nói đó là dẹp giặc. Nếu nói đó là giặc thì FFI (quân du kích chống quân chiếm đóng Đức) của Pháp cũng là giặc chăng? Và Hiệp định sơ bộ nói rõ ràng rằng hai bên phải đình chiến. Vậy chúng tôi vẫn giữ yêu cầu ghi vào nhật trình Hội nghị vấn đề ấy..."

Về việc nầy, ta rất có lí. Nhiều phái viên Pháp cũng thấy vậy. Nhưng họ có lệnh của D’Argenlieu phải gạt đi. Messmer không chấp nhận lời Giáp, và bảo lướt qua vấn đề khác. Ta xin tạm dừng họp. Một giờ sau họp lại. Nguyễn Mạnh Tường giảng rõ rằng sự đề nghị của ta là theo lời Hiệp định sơ bộ; rằng không phải ta yêu cầu hai Phái đoàn thi hành đình chiến, mà chỉ yêu cầu xét những phương sách đình chiến để đề nghị lên hai chính phủ. Vậy ta yêu cầu ghi câu này vào nhật trình nghị sự:

Khảo cứu chung những thủ đoạn sẽ đề cử để chấm dứt lập tức chiến tranh và để gây một hoàn khí chính trị thuận lợi cho những cuộc điều đình.

Phe Pháp không chịu. Torel bảo: "Hiệp định sơ bộ có hai phần: phần đình chiến thuộc về các chính phủ, phần điều đình thuộc về Hội nghị".

Messmer nói thêm: "Chúng tôi không thể bàn về việc này, là bởi phải tuân lệnh(par díscipline). Chúng tôi cũng hiểu rằng phải gây nên một hoàn khí thuận lợi. Nhưng bây giờ chúng tôi nói Không, các ông lại nói , thì không bao giờ xong. Với tinh thần hòa giải, tôi đề nghị đem vấn đề này ra toàn thể Hội nghị ngày sau."

Ta phải nhận. Nhưng cảm thấy Phái đoàn Pháp đã nhận mệnh lệnh phải găng. Chiều, họp lần đầu ủy ban quân sự, tướng Salan chủ trì. Họp trong phòng nhỏ, hai bàn dài đặt đối, hai tiểu ban đối diện. Nhìn sang bên kia, thấy những lon là lon; nhìn lại bên mình, may có ba lon làm sĩ diện! Ngồi đầu, chàng thư sinh vai hẹp đối vị tướng quân cao ngồng. Đây là biểu hiện cho hai binh đội đang đương đầu trên đất Việt Nam.

Ta tấn công; lại nêu vấn đề đình chiến về phương diện kĩ thuật ra làm chủ. Những điểm đề nghị của ta như sau:

1- Thi hành đình chiến;

2- Ngiên cứu cách hợp tác Binh đội Pháp đóng ở Việt nam và Binh đội Việt Nam. Dự đảm(participation) của Pháp vào bộ đội Việt Nam: quân nhu, huấn viên.

3- Binh đội Pháp đóng ở Việt Nam: trách nhiệm, số lượng, phân trí, binh chủng, thời hạn đóng quân, hải cảng và địa điểm đóng đồn.

Phái đoàn Pháp không chối từ điểm đình chiến, nhưng đề nghị để xuống cuối cùng và chỉ chịu bàn đến các vấn đề khác thuộc về địa bàn trên vĩ tuyến thứ 16 (Đà Nẵng).

Thảo luận càng giằng co. Tối đến, Max André lại chuyển cho Nguyễn Tường Tam một lá thư trách rằng có người đã theo Phái bộ lên đây để ngấm ngầm làm chính trị. Không biết họ muốn nói dự định của ta có người phụ trách sự liên lạc địa phương, hay là họ ám chỉ việc bác sĩ Tung đưa Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Sâm từ Sài Gòn lên đây.

***

Sáng thứ ba, 23 tháng tư. Những việc hôm qua là triệu chứng rằng tranh biện sẽ rất gay go. Không biết Hội nghị có thể qua chướng ngại này không.

Quả vậy, Đô đốc D’Argenlieu tư một bức thông điệp nói về cái máy vô tuyến truyền tin mà Phái đoàn ta đã đem lên, và đã dùng trong bốn ngày nay, Thông điệp bảo rằng:"Đài ấy phải có giấy phép của Chính quyền Pháp mới được dùng. Vậy yêu cầu Phái đoàn Việt Nam tạm thôi dùng máy ấy, và chính quyền Pháp sẽ vui lòng đảm nhận sự thông tin giữa Hà Nội và Phái đoàn".

Thật là khéo mỉa mai! Nhưng cũng là rất vụng, vì muốn lập một khối Liên hiệp mà bắt đầu đã gây ác cảm từ trong. Ta cương quyết không nghe. Về sau không thấy Cao ủy phủ yêu sách gì về việc ấy. Chúng tôi phải thán phục các anh giữ trách nhiệm thông tin. Đêm ngày, và nhất là đêm, làm việc không ngớt. Các nghị lục tốc kí hàng ngày đều hoàn toàn tin về Hà Nội. Chính phủ đã theo dõi từng ngày những khó khăn mà Phái đoàn đang gặp và cho chỉ thị cấp tốc. Chắc cơ quan trinh thám quân đội Pháp cũng theo dõi luồng sóng của ta. Giả sử họ muốn phá quấy sự truyền tin của mình thì rất dễ dàng. Nhưng thực ra họ không cần, mà nếu làm thì đã mang tiếng mà không có lợi.

Vì việc đôi bên không hòa thuận về mục Đình chiến, nên uỷ ban dừng họp đợi buổi họp Toàn thể đại hội nhóm ngày sau. Sáng nay chúng tôi ở trong phòng làm việc. Mười hai giờ trưa được tin thình lình Phạm Ngọc Thạch đã bị bắt!

Dương Bạch Mai báo cáo cho Phái đoàn họp cấp tốc biết rằng: Thạch với Mai lúc 12 giờ từ phòng Báo chí tại khách sạn Hoa Viên (Hotel du Parc) ra. Trước cửa khách sạn có hai nhân viên mật thám và một đại uý Pháp đứng chờ. Một viên hỏi Thạch: "Ông có phải là bác sĩ Thạch không?" Rồi nó nói có lệnh đưa Thạch về sở Liêm phóng. Thạch trả lời rằng mình có giấy Chính phủ Việt Nam ủy sai làm sứ bộ. Chúng không chịu thả. Thạch lại nói: "Phải để tôi về báo cáo với Trưởng đoàn đã". Chúng cũng không nghe, và nói: "Nếu ông không bằng lòng đi, chúng tôi sẽ dùng võ lực ép". Thạch bảo chúng: "Muốn dùng võ lực thì dùng".

Rồi chúng đẩy Thạch lên xe mà đi hút mất xuống Sài Gòn. Sau lại nghe tin Nguyễn Văn Sâm và bác sĩ Tung cũng bị trục xuất. Đà Lạt là đất của ta, mà ta lại bị cấm giao thông với Hà Nội, sứ thần ta và nhân dân ta lại bị trục xuất. Chính quyền thực dân bấy giờ đã tỏ rõ ý định coi Nam phần từ vĩ tuyến 16 trở xuống không phải là đất Việt Nam nữa. Thế thì điều đình gì nữa! Trong bụng anh em nhất quyết soạn sửa trở về Hà Nội.

Bữa cơm trưa nầy rất buồn rầu. Bực tức không bờ mà phải tỏ bộ hồn nhiên. Ăn xong, Phái đoàn họp để bàn cách đối phó. Trưởng đoàn viết thư phản kháng, và điện về báo cáo cho Chính phủ hay. Võ Nguyên Giáp bàn rằng mình phải bình tĩnh trước những hành động khiêu khích của phía thực dân Pháp, và chiều nay vẫn phải họp ủy ban Văn hóa như thường. Tôi đề nghị rằng sẽ đi họp, nhưng lên tiếng phản kháng sự bắt Thạch rồi yêu cầu hoãn buổi họp. Nhưng nghe lời trưởng đoàn, lúc ba giờ chiều, chúng tôi tới dự buổi họp văn hóa, mà không tỏ vẻ gì khác thường. Buổi họp hòa nhã, Gourou có lẽ thấy ta vẫn hòa nhã sau việc Thạch, cho nên cũng rất hòa nhã. Vả về vấn đề Văn hóa, phần lớn ta bằng lòng trong giới hạn nếu điều yêu sách của Pháp không phạm chủ quyền của tự do ta.

Trong buổi họp này Torel đưa vấn đề lấy tiếng Pháp làm công ngữ. Ta phản kháng nhưng nhận rằng tiếng Pháp được ưu đãi bậc nhất. Hai bên ưng thuận thảo chung đề nghị:

1.- Ủy ban văn hóa tuyên ngôn rằng vấn đề dùng pháp ngữ làm công ngữ thứ nhì ra ngoài phạm vi ủy ban;

2.- Phái đoàn Việt Nam tuyên bố rằng Pháp ngữ chiếm địa vị bậc nhất trong các ngoại ngữ.

Tối hôm nầy, chúng tôi nhóm lại bàn kĩ về cách đối phó ngày mai, là ngày họp Toàn thể đại hội: phản kháng sự bắt Thạch, đặt lại đề nghị đình chiến. Nếu bên Pháp chỉ nhận có "trao đổi chiếu hội", thì ta yêu cầu biên bản sự Pháp từ không chịu ghi nhận vấn đề Đình chiến vào nhật trình nghị sự. Nếu bên Pháp định lập ủy ban hoặc tiểu ban nghiên cứu vấn đề, thì ta sẽ nhận; nhưng để phản kháng sự bắt Thạch, ta không nhận liền, mà xin tạm ngừng họp rồi khi trở vào, xin giải tán buổi họp.

Bấy giờ anh em kiểm điểm tất cả những sự kiện đã xảy ra từ lúc lên đây. Thấy rằng: Chính quyền Pháp bị phái Thực dân Pháp chi phối hoàn toàn, nhưng các Phái viên có phần thức thời hơn, về phương diện duy tâm, cũng có cảm tình với ta. Họ rất nhã nhặn. Tuy lúc tranh luận có lời khó chịu, nhưng ngoài ra thì chuyện trò hồn nhiên và có khi thân mật. Chính đó cũng là một cách ngoại giao khéo của họ, có thể lợi cho sự điều đình. Hầu hết Phái đoàn Pháp chắc không muốn phá hoại cuộc điều đình, tuy rằng ta cũng đã tình cờ biết chắc có một cố vấn hành chánh và chính trị đề nghị "lập một ngân sách trấn áp rất lớn, đem đày vài vạn người thì Đông Dương trở lại như xưa." Họ cũng đã nghĩ rằng sự định đoạt cũng phải qua hai vai chính của Mặt trận Việt Minh: Võ Nguyên Giáp và Dương Bạch Mai. Cho nên họ đã cố chiều chuộng hai anh, mời mọc thết đãi. Messmer và Bousquet thường nói chuyện với Giáp theo ngôn ngữ của những bạn đồng chí. Mỗi khi có việc khó khăn, họ cũng cố gắng dàn xếp với Giáp để làm bớt găng. Tướng Salan biết Giáp từ khi điều đình Hiệp nghị sơ bộ, thường tới phòng Giáp và cố giải thích những điều không đồng ý ở nghị trường. Ngoài ra những Phái viên khác cũng có mời mọc nhau. Còn Đô đốc, thì mời mỗi lần hai phái viên Việt và hai phái viên Pháp ăn bữa tối. Vũ Văn Hiền và tôi được mời cùng Pignon và Torel. Ông tiếp rất nhã, nhưng không vồn vã; nói chuyện chung về những chuyện văn hóa, chứ không hề nhắc đến chính trị.

(xem tiếp phần 4)

Các thao tác trên Tài liệu

được sắp xếp dưới:
Các số đặc biệt
Văn hóa - Nghệ thuật


Sách, văn hóa phẩm


Tranh ảnh

Ủng hộ chúng tôi - Support Us
Kênh RSS
Giới thiệu Diễn Đàn Forum  

Để bạn đọc tiện theo dõi các tin mới, Diễn Đàn Forum cung cấp danh mục tin RSS :

www.diendan.org/DDF-cac-bai-moi/rss